HOA SEN CỦA PHÙNG QUÁN

Phùng Quán, sinh tháng 1 năm 1932 (1930?), tại quê xã Thuỷ Dương, huyện Hương Thủy, tỉnh TT-Huế.
Năm 1945, ông tham gia Vệ quốc quân, là chiến sĩ trinh sát Trung đoàn 101 (tiền thân là Trung đoàn Trần Cao Vân). Sau đó ông tham gia đoàn Văn công Liên khu IV.
Đầu năm 1954, ông làm việc tại Cơ quan sinh hoạt Văn nghệ quân đội thuộc Tổng cục Chính trị (tiền thân của Tạp chí Văn nghệ QĐ).
Tác phẩm đầu tay Vượt Côn Đảo của ông được giải thưởng của Hội Nhà văn VN năm 1955. Về quá trình viết tác phẩm này, trong di cảo hồi ký “Tôi đã trở thành nhà văn như thế nào” do NXB Văn nghệ TPHCM xuất bản năm 2007, ông kể nhiều chi tiết rất thú vị về sự ngẫu nhiên và tình cờ đưa ông từ một người lính trở thành một nhà văn và những oan khuất phải gánh chịu nhưng với giọng kể rất hóm hỉnh, không một chút trách móc hay thù hận. Không lâu sau đó, Phùng Quán tham gia phong tào Nhân Văn – Giai Phẩm bằng hai bài thơ “Lời mẹ dặn” và “Chống tham ô lãng phí” (1957). Khi phong trào này chấm dứt dưới tác động của nhà nước VNDCCH, Phùng Quán bị kỷ luật, mất đi tư cách hội viên Hội nhà văn VN và phải đi lao động cải tạo ở nhiều nơi.
Từ đó đến khi được nhìn nhận lại vào thời kỳ Đổi mới, Phùng Quán hầu như không có một tác phẩm nào được xuất bản, ông phải tìm cách xuất bản một số tác phẩm của mình dưới bút danh khác và câu cá ở Hồ Tây để kiếm sống. Vì thế, bạn bè văn nghệ thường gói gọn cuộc đời ông thời kỳ này bằng sáu chữ: “cá trộm, rượu chịu, văn chui”….
Bài thơ Hoa Sen có nhiều cách hiểu , xin ghi ra đây để mọi người biết và bài “Lời mẹ dặn ” rất nổi tiếng của ông:
HOA SEN
PHÙNG QUÁN

Hoa senTrong đầm gì đẹp bằng sen
Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng
Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Mặc cho câu ca được cả nước lưu truyền

Và đời vẫn tin là ca ngợi phẩm chất của sen.
Nhưng tôi không thể nào tin được
Câu ca này gốc gác tự nhân dân
Bởi câu ca sặc mùi phản trắc
Của những phường bội nghĩa vong ân!
Vốn con cái của giai cấp cùng khổ

Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son
Nghĩ đến mẹ cha chúng xấu hổ
Chúng mưu toan giấu che từ bỏ
Nói xa gần chúng mượn chuyện sen
… Nhị vàng bông trắng lá xanh
Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.
Tất cả là trong cái chữ gần
Chỉ một chữ mà ta thấu gan thấu ruột
Những manh tâm bội nghĩa vong ân.
Bùn với sen đâu phải chuyện gần?
Chính là sen mọc lên từ trong đó
Gốc của sen là thăm thẳm bùn đen
Nhị vàng , bông trắng, lá xanh…
Tất cả, tất cả, tất cả…!
Là do bùn nuôi dưỡng
Ngay cả hương thanh khiết ta đặt lên bàn thờ cúng
Cũng là xương thịt của bùn tanh!
Như nhân dân: Gian truân, thầm lặng, vô danh
Đã sinh ra vĩ nhân, anh hùng, nghệ sỹ…
Nhân danh bùn! Nhân danh sen!
Tôi đề nghị: Đuổi câu phản trắc này khỏi kho báu dân gian!
Ngô Minh có bài :”Phùng Quán không bao giờ sai lầm hay nhầm lẫn“.Xin trích:

hoa sen1

Mới đây, trên trannhuong.com có bài bình bài thơ Hoa sen của Phùng Quán của tác giả Đường Văn. Tác giả Đường Văn cho rằng: “Đọc kỹ, tôi cho rằng, ở đây, Phùng Quán đã hiểu không đúng bản chất tư tưởng bài ca dao cũng như tư tưởng và tính cách của tác giả của nó. Xuất phát từ quan niệm giai cấp xã hội rất cực đoan và có phần bảo thủ, dung tục để phân tích tác phẩm, đánh giá thiên lệch tác giả và kết án ông ta (giả định) là kẻ vong ân bội nghĩa, phản trắc, xảo quyệt, tráo trở, tinh vi mượn sen nói chuyện người… thật xấu xa, đáng căm ghét, ghê tởm, không hiểu vì sao Phùng Quán đã suy diễn, khái quát, áp đặt và kết án bài thơ – ca dao cùng tác giả của nó một cách cực đoan, chủ quan, thiên lệch và sai lầm? . Sau khi bài viết của Đường Văn được đăng tài, một số bạn đọc đã comments với lời lẽ chì chiết hơn về những ý thơ của Phùng Quán trong bài thơ Hoa Sen. Bạn đọc Nguyễn Hiếu viết :” Bài bình thơ Phùng Quán hay, có phát hiện, bằng giọng văn kiên quyết, phẫn nộ được giấu khá kĩ dưới sự bình tĩnh của chuyên môn. Hay nhất là vạch ra được sự cố chấp và có vẻ hơi tiểu nhân của Phùng quán khi nói về một câu ca dao dân gian toàn bích. Tôi cũng hơi lạ sao PQ lại có lúc lẩm cẩm như thế? Cám ơn ĐV vì tôi chưa đọc bài thơ này. Nhờ bạn mà biết thôi! Hay PQ dốt, hay PQ cố chấp… để rồi chửi mèo quèo chó? Tôi không hiểu!? . Còn bạn đọc xưng là Thạch Bàn, Long Biên thì viết :” Phùng Quán lừng danh với “Vượt Côn Đảo”, “Lời mẹ dặn” khi còn rất trẻ, nhưng lại “chết thảm” với “Hoa sen” khi đã về già. Đôi khi lần mần đọc một số tác phẩm kiểu “xác chết vĩ nhân” như “Hoa sen” của Phùng Quán, tôi trộm nghĩ một cách xúc phạm rằng: “Giá như, vâng, giá như sau tác phẩm ấy, vì một lí do nào đó mà họ đột tử thì họ sẽ là vĩ nhân thật trọn vẹn!”. Tiếc thay, họ lại không có cái may mắn được “chết đúng lúc”! . Đọc những lời phán quyết thẩm định thơ trên, tôi thấy rợn người.
Năm 2008, nhà văn Hoàng Thái Sơn ở Quảng Bình cũng đã có bài viết Về một bài thơ của Phùng Quán đăng ở Tạp chí Thơ số 3 ( 2008) và đăng lại trong Tạp chí Nhật Lệ số 160 ( tháng 7 – 2008) . Nhà văn Hoàng Thái Sơn cho rằng khi sáng tác bài thơ Hoa sen, Phùng Quán đã có sự nhầm lẫn rất hồn nhiên ,một mình một ngựa quay lưng, ngược đường với triệu triệu đồng bào yêu quý bài ca dao.
Sau đó nhà thơ Mai Văn Hoan. Thạc sĩ văn chương, giáo viên dạy chuyên văn Trường Quốc Học,Huế , đã có bài viết trao đổi lại rất chí tình. Cuộc bàn luận về bài thơ Hoa Sen của Phùng Quán của hai nhà văn Việt Nam diễn ra trong nhiều số tạp chí THƠ sau đó. Nhà thơ Mai Văn Hoan thì cho rằng :” Phùng Quán chỉ mượn bài ca dao Trong đầm gì đẹp bằng sen để viết nên một bài thơ theo cảm xúc chủ quan của mình. Phải nói là anh đã tìm được một tứ thơ mạnh, gây ấn tượng, rất phù hợp với phong cách thơ quãng trường của anh. Phát hiện của anh về bài ca dao trên cũng khá bất ngờ và độc đáo. Từ trước đến nay, duy nhất chỉ có Phùng Quán, bằng ngôn ngữ thi ca, đã mạnh dạn đặt lại vấn đề gốc gác bài ca dao một cách thuyết phục và truyền cảm. Phát hiện của nhà thơ đã làm không ít người phải giật mình. Tôi vào mạng và đọc được rất nhiều ý kiến đồng cảm với bài thơ Hoa sen của anh. Cái chủ yếu là nhà thơ của chúng ta mượn bùn để nói đến Nhân dân !
…” Đọc bài thơ Hoa sen của Phùng Quán ai cũng biết tác giả nhằm vào phường bội nghĩa vong ân. Bọn chúng, theo nhà thơ: vốn con cái của giai cấp cùng khổ / Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son / Nghĩ đến mẹ cha chúng xấu hổ / Chúng mưu toan giấu che từ bỏ / Nói gần xa chúng mượn chuyện sen. Phùng Quán căm ghét là căm ghét cái bọn phản trắc đó. Phùng Quán vạch mặt chỉ tên là vạch mặt chỉ tên lũ vong ân bội nghĩa đó, chứ đâu phải là hoa sen
Phùng Quán đâu có nhầm lẫn. Tuy diễn tả bằng thơ nhưng lập luận của anh khá chặt chẽ, khá lôgích và rất thuyết phục. Phùng Quán đứng về phía nhân dân để vạch trần bản chất phản trắc của bọn người vong ân bội nghĩa chứ đâu có quay lưng lại với triệu triệu đồng bào ! “
Tôi là người làm thơ đàn em, rất yêu thơ và nhân cách nhà thơ Phùng Quán. Tôi đã làm rất nhiều việc để góp phần làm cho mọi người hiểu đúng nhân cách và tài năng Phùng Quán hơn, giải tỏa một phần những định kiến của chế độ đối với anh, người đã: “Ba mươi năm tôi bị dìm trong bùn-nhơ-lăng – nhục / Nhưng cuối cùng/ Quê hương đã nhận ra/ Trái – tim – thơ – trong sạch / Và gương – mặt -Thơ – bi thiết – của tôi….( Thơ Phùng Quán, NXB Văn học, 2003, tr. 211) . Đối với tôi, công bằng mà phán, thơ Phùng Quán không phải tất cả các bài đều hay. Những bài hay nhất của Phùng Quán phải kể đến là Lời mẹ dặn, Đêm Nghi Tàm đọc Đỗ Phủ cho vợ nghe, Say, Trăng Hoàng Cung.v.v..Còn bài thơ Hoa sen là bài thơ tuy chưa toàn bích, nhưng khẩu khí. phát hiện tứ rất giỏi và có sức thuyết phục cao, hoàn toàn “đứng về phe nước mắt” ( chữ của Dương Tường). Tôi đã nhiều lần nghe nhà thơ Phùng Quán đọc bài thơ này trước đông người, ai cũng xuýt xoa tán thưởng.
Tôi nghĩ đoc thơ rồi khen, chê là quyền của mỗi người, theo cái “gu” và sức cảm nhận, không ai có quyền phản đối điều đó. Anh Phùng Quán mà còn sống , chắc anh cũng vuốt râu cười tủm tỉm , nâng cốc với những người “ phê phán” mình, khi đọc những bài viết , những ý kiến phê bình chê bai đó, rồi khà khà :” Miềng là rứa mà. Miền là rứa mà…” . Làm một bài thơ để mọi người bàn luận năm này qua năm khác, cũng là một niềm vui của nhà thơ. Mới đọc qua thì chột dạ, nghĩ ông này “điên”, “dốt”, nhưng đọc lại nhiều lần thì thấy thán phục :” ông này giỏi thiệt !”. Riêng tôi, tôi có vài ý nghĩ về bài thơ Hoa Sen của Phùng Quán, không phải để tranh luận với các ý kiến của tác giả nói trên, mà để chia sẻ với độc giả thơ Phùng Quán.
Trước hết thơ là cảm xúc của người làm thơ trước thực tại cuộc sống. Nghĩa là tâm hồn nhà thơ rung động trước những hình ảnh sinh động của cuộc sống, mới có thơ. Từ một hình ảnh nào đó, với cảm xúc và tri giác của mình, nhà thơ phát hiện ra một tứ thơ , để nói lên tấm lòng và cái chí của mình. Như vậy, trước một hiện thực, mỗi nhà thơ có cái cảm khác nhau, tùy theo “chỗ đứng” của mình. Ví dụ , cũng hiện thực miền Bắc những năm trước 1975, có nhà thơ viết :” Miền Bắc thiên đường của các con tôi” , nhưng nhà thơ Xuân Sách lại viết :” Nhà càng lộng gió thơ càng nhạt / Máu ở chiến trường, hoa ở đây “. Hay cũng là hiện thực chiến tranh ở nước ta trước năm 1975, nhiều nhà thơ ca ngợi chiến thắng, chiến công, nhưng Phạm Tiến Duật lại nghĩ đến cái Vòng trắng tròn như số 0 ở trên đầu con trẻ. Nghĩa là “chỗ xuất phát tình cảm” khác nhau sẽ có cảm xúc khác nhau dẫn đến những tứ thơ khác nhau, có khi trái ngược nhau. Có lẽ cái Vòng trắng của Phạm Tiến Duật có tầm cao hơn, nhân loại hơn các bài thơ ca ngợi chiến công một chiều.
Hoa sen là loài hoa đẹp. Vừa qua chúng ta đã bầu làm quốc hoa. Bài ca dao về hoa sen ca ngợi vẻ đẹp của hoa với hình tượng ám ảnh :” Nhị vàng bông trắng lá xanh”. Nhưng Phùng Quán đọc bài ca dao lại phát hiện ra một cái tứ thơ rất lạ: “Nhưng tôi không thể nào tin được / Câu ca này gốc gác tự nhân dân / Bởi câu ca sặc mùi phản trắc / Của những phường bội nghĩa vong ân ! / Vốn con cái của giai cấp cùng khổ / Chúng chòi lên cuộc đời quyền lực vàng son / Nghĩ đến mẹ cha chúng xâu hổ / Chúng mưu toan giấu che từ bỏ / Nói xa gần chúng mượn chuyện sen…”. Phùng Quán không nhầm lẫn. Phùng Quán không cực đoan, không dốt, không suy diễn cố chấp. Phùng Quán nghĩ rất đúng. Đúng một cách chí lý, chí tình. Tại sao vậy ?
Ta hãy xuất phát từ thực tế cụ thể. Bùn thì tanh . Tanh là bản chất của bùn. Nhưng bùn đẻ ra lúa, đẻ ra sen. Hay nói cách khác sen là tinh chất của bùn. Nông dân suốt đời “chân lấm tay bùn”, quần áo đơn sơ mảnh lành mảnh vá, người bao giờ cũng mồ hôi mồ kê. Đi bên nông dân nghe sực mùi bùn. Nhưng nông dân trồng ra lúa, ra sen, nuôi sống và làm đẹp cho người đời. Nông dân đẻ ra con cái, có người được mẹ cha nuôi học hành, ra thành phố làm chức này chức khác. Có không ít người chê bài, bỏ vợ quê , lấy vợ đẹp ở thành phố ( mà ông bộ trưởng bộ 4T mới đây là một ví dụ). Hồi học Trường Đại học Thương Mại, Hà Nôi, tôi đã chứng kiến ba người giáo viên, chủ tịch công đoàn trường bỏ vợ quê , lấy vợ mới ở phố thị như thế. Có người con nông dân chính gốc, nhưng khi lên làm quan , vì ham giàu mà quay lại , hùa với bọn đại gia để cướp đất nông dân . Con nông dân hẳn hoi, cho đi học trường công an, chỉ mấy năm sau thôi đã nhẫn tâm vung roi điện, dùi cui, tung quả đấm võ thuật vào mặt bà con nông dân Văn Giang, Vụ Bản, những người đáng cha mẹ, ông bà mình để bảo vệ lũ cướp đất. Những người đó hẳn chúng không còn nghĩ mình là nông dân, mà chỉ mình mình “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Phùng Quán đọc bài ca dao, không hề chê hoa sen xấu, mà chỉ phát hiện ra chữ “gần”, để từ đó vạch trần chân tướng của bọn phản trắc đó. Sen là con của bùn đẻ ra, nên phải nói là “từ bùn”, hay “là bùn”, sao lại nói “gần bùn”??
Phùng Quán phát hiện ra tứ thơ tuyệt vời đó, ngoài ý kiến phân tích của nhà thơ Mai Văn Hoan, tôi nghĩ, còn nhờ “chỗ đứng” hay “vị trí” cảm xúc của anh. Ba mười năm “ cá trộm- văn chui”- rượu chịu”, Phùng Quán là người dưới đáy xã hội, tức Phùng Quán là bùn: “Ba mươi năm tôi bị dìm trong bùn-nhơ-lăng – nhục / Nhưng cuối cùng/ Quê hương đã nhận ra/ Trái – tim – thơ – trong sạch / Và gương – mặt -Thơ – bi thiết – của tôi….( Thơ Phùng Quán, NXB Văn học, 2003, tr. 211) . Vì là bùn lên Phùng Quán dễ dàng phát hiện ra những bọn từ bùn sinh ra mà không dám gọi mình là bùn. Trong một bức thư viết cho một người bạn trong những ngày cuối đời, Phùng Quán viết : “Thượng đế nghiêm khắc nói với anh : ‘’ Ngươi phải úp mặt xuống cống rãnh cuộc đời, trên các ao máu chiến trận không bao giờ khô cạn, trong khói đắng nghẹt của thuốc nổ .. .mà tìm lấy thơ ‘’. Và anh đã phải thực hiện lời nguyền của Thượng Đế, từ lúc tuổi thơ cho đến nay, chương cuối cùng của cuộc đời anh…” . Cái trực cảm của người lính Vệ Quốc Đoàn đã giúp Phùng Quán viết bài thơ Chống tham ô lãng phí năm 1956, năm thứ hai miền Bắc được giải phóng. Nhà thơ kêu lên trước nạn tham nhũng, lãng phí :Trung ương Đảng ơi! / Lũ chuột mặt người chưa hết / Đảng cần lập những đội quân trừ diệt / Có tôi / Đi trong hàng ngũ tiên phong. Đây là bài thơ chống tham ô lãng phí đầu tiên trong văn học cách mạng Việt Nam. Phùng Quán luôn tự vấn : Tôi có quyền gì được no hơn nhân dân tôi một miếng ăn ? / Tôi có quyền gì được lành hơn nhân dân tôi một manh áo ?/ Tôi có quyền gì được rộng hơn nhân dân tôi một mét vuông nhà ở ? / Tôi có quyền gì được lên xe xuống ngựa / Khi gót chân nhân dân tôi nứt nẻ bụi đường ?!…
Chính cái trực cám mạnh mẽ đó đã sinh ra bài thơ Hoa sen. Bài thơ là tuyên ngôn sống, là máu thịt Phùng Quán, chứ không bao giờ có sự nhầm lẫn hay bảo thủ, dung tục gì ở đây cả. Không hiểu cuộc đời bùn đen của Phùng Quán sẽ không bao giờ hiểu được bài thơ Hoa Sen .
Cuối cùng tôi xin nói đôi lời về bài ca dao. Ca dao là sáng tác tập thể của dân gian qua hàng ngàn năm. Người đầu tiên nghĩ ra , người thứ hai, thứ ba, thứ n… phát hiện ra những chữ, nhưng câu chưa hoàn chỉnh, sửa lại. Cứ thế , cứ thế…Bài ca dao « Trong đầm gì đẹp bằng sen… », nhiều người cho là hay là toàn bích. Nhưng nhà thơ Phùng Quán lại nghĩ khác về chữ gần. Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Như thế theo tôi là bài ca dao chưa toàn bích. Vẫn có chỗ để người đọc, người nghe nghĩ khác hẳn với người sáng tác. Nhất định rồi có người sẽ chỉnh sữa câu cuối cũng đó để bài ca dao thực sự toàn bích. Gần hay là Từ hay là Là ? Ngay cả chữ hôi cũng cần nghĩ thêm. Mùi bùn là mùi bùn. Không thể gọi là hôi ( thối) được. Gần, hôi là người đứng trên cao nói về bùn, chứ người trong bùn ( như nông dân) nói về mình, họ không bao giờ gọi bùn là hôi . Vậy phải sửa lại câu thơ làm sao vừa nói được vẻ đẹp của sen vùa khoe được niềm tự hào của bùn đã sinh ra nó. Nhưng sửa được câu cuối bài ca dao đó đòi hỏi phải là những thi sĩ thông tuệ của dân gian, Ngô Minh này không dám !
Huế, 27-5-2012
Lời Mẹ Dặn
Tôi mồ côi cha năm hai tuổi
Mẹ tôi thương con không lấy chồng
Trồng dâu, nuôi tằm, dệt vải
Nuôi tôi đến ngày lớn khôn.
Hai mươi năm qua tôi vẫn nhớ
Ngày ấy tôi mới lên năm
Có lần tôi nói dối mẹ
Hôm sau tưởng phải ăn đòn.
Nhưng không, mẹ tôi chỉ buồn
Ôm tôi hôn lên mái tóc
Con ơi, trước khi nhắm mắt
Cha con dặn con suốt đời
Phải làm một người chân thật
Thấy vui muốn cười cứ cười
Thấy buồn muốn khóc là khóc
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét.
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu.
Từ đấy người lớn hỏi tôi:
— Bé ơi, Bé yêu ai nhất?
Nhớ lời mẹ tôi trả lời:
— Bé yêu những người chân thật.
Người lớn nhìn tôi không tin
Cho tôi là con vẹt nhỏ
Nhưng không! Những lời dặn đó
In vào trí óc của tôi
Như trang giấy trắng tuyệt vời
In lên vết son đỏ chói.
Năm nay tôi hai mươi lăm tuổi
Đứa bé mồ côi thành nhà văn
Nhưng lời mẹ dặn thuở lên năm
Vẫn nguyên vẹn màu son chói đỏ.
Người làm xiếc đi dây rất khó
Nhưng chưa khó bằng làm nhà văn
Đi trọn đời trên con đường chân thật.
Yêu ai cứ bảo là yêu
Ghét ai cứ bảo là ghét
Dù ai ngon ngọt nuông chiều
Cũng không nói yêu thành ghét
Dù ai cầm dao dọa giết
Cũng không nói ghét thành yêu
Tôi muốn làm nhà văn chân thật
chân thật trọn đời
Đường mật công danh không làm ngọt
được lưỡi tôi
Sét nổ trên đầu không xô tôi ngã
Bút giấy tôi ai cướp giật đi
Tôi sẽ dùng dao viết văn trên đá.
— Phùng Quán, 1957

—————————–

Hôn
 
Trời đã sinh ra em
Ðể mà xinh mà đẹp
Trời đã sinh ra anh
Ðể yêu em tha thiết
 Khi người ta yêu nhau
Hôn nhau trong say đắm
Còn anh, anh yêu em
Anh phải ra mặt trận
 Yêu nhau ai không muốn
Gần nhau và hôn nhau
Nhưng anh, anh không muốn
Hôn em trong tủi sầu
 Em ơi rất có thể
Anh chết giữa chiến trường
Ðôi môi tươi đạn xé
Chưa bao giờ được hôn
 Nhưng dù chết em ơi
Yêu em anh không thể
Hôn em bằng đôi môi
Của một người nô lệ.
(1956)
—————————————————-
Người đàn bà đau khổ và hạnh phúc bên Phùng Quán
Tin chị Vũ Bội Trâm, phu nhân cố nhà văn Phùng Quán ra đi giữa tháng 8 này khiến tôi nhói đau. Vậy là người đàn bà có một cuộc đời đau khổ và hạnh phúc bên cạnh tác giả Tuổi thơ dữ dội đã ra đi đem theo rất nhiều câu chuyện chưa được kể về ông… Với tôi câu chuyện của chị với Phùng Quán làm tôi cảm động vô cùng. Chị đã sống cho anh, cho danh tiếng và cả những khổ đau của ông.
Câu chuyện tình cổ tích

Chuyện tình của nhà văn Phùng Quán với cô giáo Bội Trâm còn hơn một cuốn tiểu thuyết bởi đó là một mối tình đầy sóng gió và bi kịch.

Sinh thời, chị Bội Trâm kể: “Anh Quán từ một anh Vệ quốc đoàn từ Bình Trị Thiên ra Bắc, thành một anh lính văn nghệ lang thang giữa Hà thành không thân thuộc. Quán chơi với em trai tôi là nghệ sĩ Vũ Hướng. Hướng đưa Quán về nhà tôi giới thiệu với bố mẹ tôi. Một cô gái Hà thành, gặp anh lính trẻ xứ Huế, trong tôi hình như dấy lên tình thương mến. Một hôm Phùng Quán bảo em tôi: “Tớ yêu chị cậu mất rồi!”.

Người con đất Thừa Thiên ấy mười bốn tuổi rời lưng trâu đã phải xa mẹ làm anh lính vệ quốc trong Trung đoàn Trần Cao Vân chiến đấu khắp chiến trường Trị Thiên… Mười bảy tuổi viết những vần thơ yêu nước nồng nàn: “Đất ơi, con nguyện yêu người với tất cả máu xương/Với tất cả cuộc đời con mười bảy tuổi”… 22 tuổi viết Vượt Côn Đảo. Nhưng thời thanh niên tươi đẹp ấy nửa chừng bị liên lụy vì vụ án văn chương…Và tình yêu của cô gái Hà Nội Vũ Bội Trâm đã níu giữ anh với cuộc đời, làm nên chân dung một nhà văn lớn – người mà cuối cùng đã được trao Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật…

 

Bà Vũ Bội Trâm đã qua đời hôm 15/8

Phùng Quán đã yêu cô gái Hà thành ấy một tình yêu mãnh liệt khi anh viết: Khách tình yêu xưa nay ít lễ độ/ Bước vào buồng tim chẳng gõ cửa bao giờ… (Yêu em). Chị Trâm kể: “Thấy Quán ốm yếu, tôi thương anh vô cùng. Đã có lần tôi thổ lộ với mẹ: Mẹ cho con lấy anh ấy để có điều kiện chăm sóc anh. Tôi yêu anh cũng bởi anh yêu đất nước. Thơ anh cháy bỏng một tình yêu không bờ bến đối với đất nước và chế độ… Anh yêu chế độ này hơn cả bản thân mình. Không đồng cảm và yêu thương tấm lòng cao cả ấy, tôi đã không lấy anh.

Cuộc đời anh quá bi kịch. Nhưng cả trong hoàn cảnh ấy, anh không hề oán hận ai. Anh cao thượng và cao cả làm trái tim tôi rung động sâu sắc. Có thể là do tôi quá lãng mạn? Lấy anh tôi bị dằn vặt nhiều, cân nhắc mãi chuyện bên tình bên hiếu. Bố mẹ sợ tôi lấy anh sẽ khổ cả một đời, nhưng tôi đã quyết. Mẹ tôi khóc hết nước mắt có lẽ vì thương tôi và cả thương anh. Ai dám lấy một người bị cái “án” văn chương lúc ấy, lại không nhà cửa, không có công việc. Tôi bảo với mẹ: Không cho tôi lấy anh Quán thì tôi không lấy ai nữa…

Vì thương tôi, bố mẹ đồng ý mà tôi biết lòng song thân rất buồn. Tôi lấy anh không có lễ vu quy như bao bạn bè cùng trang lứa, không có lễ tơ hồng, không được làm cô dâu, không cả xe hoa, không giường cưới không chăn màn ga gối…”

Kể đến đây, chị Trâm mở tủ lấy cho tôi xem tấm bưu thiếp cũ, vật kỷ niệm của ngày cưới hai người. Tấm thiếp còn nguyên nét chữ nắn nót của Phùng Quán. Cả những lỗi chính tả của người Huế khi viết sai dấu hỏi thành dấu ngã: Kính gữi cô! Chúng em đã ra ở riêng ngày 12/1/1962. Chúng em nhờ những bông hoa này mang tin vui đến với cô, mong cô chia vui và mừng cho hạnh phúc của chúng em/ Học trò của cô: Vũ Bội Trâm, Phùng Quán.

“Đây là tấm thiệp báo hỷ chúng tôi gửi cho cô giáo tôi là bà Mai Vũ Từ dạy văn ở trường Trưng Vương.  Cô đã giữ tấm thiệp này mãi đến 30 sau, bà tặng lại tôi để ghi dấu câu chuyện tình như một kỷ vật vô giá. Trên tấm thiệp còn hình đôi chim câu rất đẹp do HS Lê Huy Quang vẽ tay tặng…

Cưới mà không thể làm đám cưới vì gia đình tôi sợ ảnh hưởng vì lý lịch của anh. Cuối cùng tôi chọn cách báo hỷ sau khi mang hết trầu cau biếu họ hàng láng giềng coi như việc chạm ngõ đã xong.

Sau ngày chúng tôi có nhau, anh hình như yên ổn hơn, khôi phục niềm tin vào cuộc đời, cùng tôi đi qua những năm dài khổ hạnh.  Sau này anh không ở nhà bà mẹ nuôi trên Nghi Tàm nữa mà chúng tôi phải mỗi người ở một nơi chẳng khác nào Ngưu Lang – Chức Nữ. Anh Quán thì được phân cái gác nhỏ ba mét vuông trên phố Lê Văn Hưu. Mẹ con tôi thì về ở với bên ngoại. Phải nói người đồng hành lớn nhất trên đường đời với tôi là mẹ. Không ai khổ đau và thương yêu tôi như mẹ. Tiếc là mẹ đã không còn đến ngày thấy con rể của mẹ được phục hồi danh dự, tiếng tăm… Ngày mẹ mất, anh Quán đã khắc lên tấm bia những câu thơ thể hiện tình cảm của mình với mẹ”.

* Người vợ nhân hậu và những cô gái muốn làm “người thứ ba” 

Phùng Quán tự nhận mình ba mươi năm “văn lậu, cá chui, rượu chịu”. 30 năm anh viết bài in báo phải mượn tên người khác. 30 năm chuyên câu cá trộm Hồ Tây và vì nghèo quá thường xuyên mua chịu rượu…

 

Phùng Quán cùng vợ và hai con

Tôi hỏi vui, rằng hình như anh Phùng Quán cũng có số…đào hoa, liệu có bao nhiêu “người thứ ba”? Chị Trâm thành thật: Làm sao mà không có cô này, cô nọ cho được. Anh nghệ sĩ và tài hoa thế…Nhưng tôi luôn tin anh, chỉ là để tìm cảm hứng cho thơ…Còn các cô thì tưởng thật. Nhiều cô trẻ đẹp. Cả khi anh đã “râu tóc” rồi mà vẫn có những bóng hồng xuất hiện. Anh thường bảo rằng: “Yêu thế nào được. Tôi đã vợ con, còn các cô chưa chồng…”.

–  Chị có biết có khi nào anh xiêu lòng trước phụ nữ? – tôi hỏi

– “Ai biết ma ăn cỗ”, nhưng tôi tin anh. Anh không thể đánh đổi được. Anh bảo mỗi ngươì đều có tình yêu và lý tưởng để tôn thờ. Anh viết tặng tôi bài thơ có tên Kinh cầu nguyện buổi sáng. Mỗi ngày anh đều nguyện như vậy:

“Tôi sẽ đi với em
Cho đến mút chót con đường
…Ngày lấy em tôi đã có lời nguyền
Nếu tôi bỏ em lại bơ vơ dọc đường
Tôi sẽ bị trời tru đất diệt
Em là cây Thập tự của đời tôi
Tôi phải mang vác cho tới ngày chung cuộc…”

Anh bảo đây là bài thơ tình hay nhất của anh, nhưng tôi không thích cái câu anh viết rằng anh “phải mang, vác” . Nghe có vẻ… nghĩa vụ quá”.

Chị Trâm dừng câu chuyện. Vâng, có thể Phùng Quán là như vậy. Với tôi, tôi nghĩ may bên ông có một người con gái Hà Nội là tri âm tri kỷ, nên ông đã sống, đã viết cả khi ngã lòng Vịn câu thơ mà đứng dậy… Nhưng trong trái tim lãng mạn nhiệt thành ấy vẫn có những khoảng rung động thật. Có mối tình đơn phương với người thiếu phụ Huế đẹp như mơ. Ông viết hẳn một Trăng Hoàng cung, cuốn tiểu thuyết bằng thơ để tặng người đẹp bên sông Hương núi Ngự.

Về những mối tình đi qua đời Phùng Quán, chị Bội Trâm cười vui bảo: Thi sĩ như anh ấy, đôi khi cũng… “vui đâu chầu đấy”. Tôi tin anh cũng như tin vào tình yêu của anh”.  Quả thật, với chị, trong bài Yêu em, Phùng Quán đã viết:

Người yêu tôi không có gì đẹp cả
Người yêu tôi đi không có ai nhìn theo ngơ ngẩn bồi hồi
Nhưng tôi yêu người yêu tôi như người lính yêu cây gươm bằng thép
Như người cộng sản yêu ngọn cờ đỏ tươi
Như bông hoa yêu ánh mặt trời

Tôi yêu em vì một lý do giản dị vô cùng
Không yêu em tôi không sống được.

Phùng Quán đã sống tận cùng đã yêu đến tận cùng máu thịt. Một tình yêu trước sau dành cho đất nước, một tình yêu người vợ hiền tần tảo cùng anh đi suốt cuộc đời… Bây giờ thì chị Trâm không còn. Lấy ai đọc thơ anh, kể chuyện đời anh suốt tháng suốt năm? Chị Trâm ơi!

Tân Linh

 

Bà Vũ Bội Trâm sinh năm 1932, cùng tuổi với Nhà văn Phùng Quán. Là con gái Hà Nội gốc, nhà ở phố Hàng Cân. Thời trẻ bà là giáo viên dạy Văn ở trường Chu Văn An. Bà kết hôn với Phùng Quán năm 1962 sau 7 năm quen biết qua người em trai bà là nhạc sĩ Vũ Hướng (thân sinh MC Anh Tuấn).

Sau khi Phùng Quán qua đời, bà là người giữ gìn di cảo và giới thiệu tác phẩm của nhà văn. Ông bà có hai con là Phùng Lệ Quyên và Phùng Quân. Phùng Lệ Quyên hiện sinh sống cùng chồng tại Viêng Chăn (Lào).

Nguồn: TTVH

———————————-
Bài này đã được đăng trong Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s