TÌM HIỂU BẦU CỬ TT VÀ BỒI THẨM ĐOÀN Ở MỸ

Ngày hôm nay ông Barack Obama (Đảng Dân chủ) đã trúng cử Tổng thống nước Mỹ lần thứ hai liên tiếp trong cuộc chạy đua cực kỳ gay cấn vào Nhà trắng trước đối thủ Mitt Romney(Đảng Cộng hòa).Nhân sự kiện này nhìn lại quy trình bầu cử Tổng thống  và tìm hiểu một chút về quy định bồi thẩm đoàn trong hệ thống pháp luật ở nước Mỹ.

I/Điều kiện và các giai đoạn tranh cử Tổng thống

Hiến pháp Mỹ quy định, một người muốn trở thành ứng viên Tổng thống Mỹ phải hội đủ những tiêu chuẩn như sau, là công dân Mỹ, được sinh ra trên đất nước Mỹ, tuổi từ 35 trở lên và cư trú tại Mỹ ít nhất 14 năm.

Quá trình bầu cử gồm 2 giai đoạn: Giai đoạn bầu chọn các ứng cử viên của các đảng gọi là Bầu cử sơ bộ (primary election) và giai đoạn chính thức bầu Tổng thống từ trong số các ứng cử viên gọi là Tổng tuyển cử (general election).

Giai đoạn Bầu cử sơ bộ là quá trình các ứng viên cạnh tranh trong nội bộ đảng để trở thành người đại diện duy nhất của đảng trong cuộc đua vào Nhà Trắng. Giai đoạn vận động tiến cử kéo dài từ tháng 1 đến tháng 6 của năm diễn ra cuộc bầu cử.

Ứng cử viên chiến thắng trong cuộc vận động sẽ tiến cử chọn ra một người để lập liên danh cùng tranh cử với mình.

Liên danh này sau đó tiếp tục các chiến dịch vận động tranh cử, được gọi là giai đoạn Tổng tuyển cử.

Vận động tranh cử

Đây là thời gian ứng viên duy nhất của đảng Cộng hòa và Dân chủ bắt đầu trực tiếp đối đầu. Lúc này, cả hai bên cùng chi những khoản tiền tài trợ khổng lồ cho hoạt động quảng cáo cũng như các cuộc vận động tại các bang trên cả nước.

Các cuộc tranh luận trực tiếp thường được quan tâm hơn cả.

Tuy nhiên, đa số bang đã thể hiện quan điểm rõ rệt rằng sẽ ủng hộ cho ứng viên nào. Chỉ có số ít bang đến giờ chót vẫn chưa đưa ra quyết định ngả theo bên nào. Vì vậy, mọi nỗ lực của hai ứng viên, đặc biệt trong khoảng thời gian vài tuần trước ngày bầu cử, đều được dồn vào những bang này.

Ngoài ra, đáng lưu ý trong giai đoạn này chính là 3 cuộc tranh luận trực tiếp trên truyền hình. Qua những màn đấu khẩu nảy lửa, cử tri sẽ biết được phần nào lập trường cũng như phong thái của từng ứng viên.

Ngày bầu cử

Luật pháp Mỹ quy định cuộc bầu cử Tổng thống sẽ diễn ra 4 năm một lần, vào năm chẵn, trong ngày thứ 3 sau thứ 2 đầu tiên của tháng 11. Như vậy ngày bầu cử sớm nhất trong năm sẽ là ngày 2/11, muộn nhất ngày 8/11. Cuộc bầu cử năm nay rơi vào ngày 6/11.

Sơ đồ quy trình bầu cử Mỹ. Ảnh: Vietnamplus.

Trước kia cử tri Mỹ thường đi cả ngày đường để đến địa điểm bỏ phiếu. Mặt khác, để tránh cho ngày bầu cử rơi vào ngày nghỉ hoặc ngày lễ tôn giáo, Quốc hội Mỹ chọn ngày thứ 3 để cử tri dành ngày thứ 2 để đi đến địa điểm bỏ phiếu và ngày thứ 4 để trở về.

Trở lại ngày bầu cử quan trọng, trong ngày này, cá nhân các cử tri Mỹ (voter) không trực tiếp bầu tổng thống. Lá phiếu của họ gọi là phiếu phổ thông và việc của họ là chọn ra đại diện cử tri hay còn gọi là đại cử tri (Elector). Những đại cử tri này thường tuyên bố rõ ràng trước đó là ủng hộ ứng viên nào.

Những đại cử tri này hợp thành cử tri đoàn (Electoral College). Tùy thuộc vào dân số mà mỗi bang của Mỹ có một số nhất định đại cử tri trong cử tri đoàn gồm 538 người. Ứng viên nào giành được 270 phiếu trong cử tri đoàn sẽ trở thành người thắng cuộc.

THANH HƯƠNG

Theo Infonet

—————————————————

CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG
DO HOA KỲ KHAI SINH

Phạm Vũ

Nhân cuộc bầu cử vào ngày 6-11-2012 tại Mỹ, chúng ta thử cùng nhau tìm hiểu các Thể chế điều hành Chính Phủ trên thế giới, nhất là Tổng Thống chế ở Hoa Kỳ.

I.- CÁC THỂ CHẾ CHÍNH PHỦ TRÊN THẾ GIỚI

A/ THỂ CHẾ ĐỘC TÀI

Thể chế này do một cá nhân độc đoán cai trị, độc hành và có quyền hạn vô hạn. Đó là chế độ Quân Chủ Chuyên chế, chế độ Độc tài – Quân Phiệt, chế độ Phát Xít, chế độ các nước Hồi Giáo…

. Chế độ Quân chủ chuyên chế:

– Các nước Quân chủ phong kiến ở các châu Âu, châu Á thuở trước như Anh, Pháp, Tây Ban Nha… Trung Hoa, Nhật Bản, Ấn Độ…

– Tòa thánh Vatican: Giáo Hoàng nắm quyền tối cao, thâu tóm 3 quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp. Tuy có Hội đồng Hồng y Giáo chủ nhưng chỉ đón vai trò tư vấn cho Giáo Hoàng.

– Saudi Arabia: không có Quốc hội, chỉ có Hội đồng Tư vấn từ tháng 12-1993, do Quốc vương bổ nhiệm và toàn quyền định đoạt Chính phủ.

– Brunei: phải đến tháng 9-2004 Hội đồng Lập pháp mới được thành lập, do Quốc vương nắm toàn quyền bổ nhiệm, sau đó sẽ được thay thế bằng một Quốc hội mới được bầu.

. Chế độ Độc tài – Quân phiệt: do một người hoặc một sĩ quan Quân đội nắm giữ cả ba quyền Lập pháp, Hành pháp và Tư pháp.

. Chế độ Phát xít: Đức, Ý và Nhật thời Thế chiến thứ 2 sống dưới chế độ này, gây biết bao tang thương, tội ác với nhân dân và các nước nạn nhân khác.

. Chế độ ở các nước Hồi giáo: Iran, Maroc, Butan, Kuwait…quyền lực tối cao nằm trong tay Giáo chủ, dù có Quốc hội và Chính phù nhưng chì có thẩm quyền tư vấn.

B/ CÁC THỂ CHẾ DÂN CHỦ

Trong thể chế này, phương thức cai trị là tôn trọng và thực hiện để mọi công dân bàn bạc và quyết định mọi công việc quốc gia, thông qua các cuộc bầu cử tự do. Các nước theo thể chế Dân chủ có thể là nước Quân chủ Lập hiến hoặc đa số là nước Cộng Hòa (chính thể trong đó quyền lực tối cao thuộc về các cơ quan dân cử với quyền hạn thật sự).

1. CHẾ ĐỘ QUỐC HỘI CỦA THỤY SĨ

Thụy Sĩ đã theo chế độ Dân chủ Trực tiếp từ lâu đời, đó là chế độ Cộng hòa Liên bang với 26 tiểu bang nhỏ, tất cả do Quốc hội gồm hai viện: Thượng Nghị viện và Hạ Nghị viện, nắm quyền quyết định nền chính trị, xã hội và bầu ra 7 Thủ tướng đảm trách 7 lãnh vực: ngoại giao, quốc phòng, kinh tế , văn hóa, giáo dục, du lịch và y tế. & 7 vị này lần lượt thay nhau làm Tổng thống đại diện Quốc gia, nhưng không có nhiều quyền hạn. Vì là chế độ Dân chủ Trực tiếp nên có rất nhiều cuộc bầu cử trong năm đễ người dân có quyền quyết định việc nước, vì thế từ xa xưa Thụy Sĩ khai sinh ra chế độ Quốc Hội.

2. CHẾ ĐỘ ĐẠI NGHỊ CỦA ANH QUỐC

Dù là một nước Quân chủ Chuyên chế, nhưng sau đó do lịch sử, Anh Quốc cũng là nơi khai sinh ra chế độ Quân chủ Lập hiến tức Đại Nghị chế (chế độ do nhân dân chọn đại biểu để tham dự chính trị). Năm 1066 là một trong thời gian nổi tiếng trong lịch sừ Anh. Nước Anh lại bị xâm lăng và William the Conquer, một quận công xứ Norman (dân tộc từ Normandy ờ bắc nước Pháp) chiến thắng và trờ thành Vua Anh, ông làm vua được 21 năm. Vua và các cận thần không biết nói tiếng Anh, và vì thế trong 200 năm, tất cả văn kiện quan trọng ban hành đều viết bằng tiếng Pháp, không phải tiếng Anh. (Tiếng Anh có rất nhiều từ lấy từ tiếng Pháp khởi nguồn từ thời kỳ này).

Từ thế kỷ 13, quyền hạn của Vua bị hạn chế. Năm 1215, vua John bị ép buộc phải ký Magna Carta (Đại Hiến chương), một văn kiện dành cho giới Quý tộc. Từ “Parliament” (Quốc Hội Anh) được dùng để diễn tả các cuộc họp của Vua và Quý tộc. Vua cũng gặp gỡ đại diện các tỉnh để tăng giảm thuế. Giới Quý tộc trờ thành Viện Quý tộc và nhân dân từ các tỉnh trở thành Viện Thứ dân, từ đó Quốc hội có 2 viện gồm các quý tộc và thứ dân, được gọi chung là “Thành viên Quốc Hội” (Member of Parliament – M.P.).

Xung đột tôn giáo giữa Thiên Chúa và Anh giáo xảy ra trong thế kỷ 17 và vào năm 1689, The Bill of Rights ( Tuyên ngôn Nhân quyền) được Vua Anh ký để chấm dứt việc này. Đến năm 1714, vua George I lên ngôi, ông là vị vua Anh đầu tiên từ dòng họ Hanover từ nước Đức về, nên cũng không biết nói tiếng Anh, và các vua George II, III, IV, V,VI kế nghiệp (vua George III chịu trách nhiệm về việc Mỹ giành được độc lập, ông bị bệnh tâm thần và phài đề cừ vị Thái tử Phụ chính).Vì là người Pháp nên Vua Anh phải cứ một vị đại thần người Anh, để thay mặt Vua chủ tọa Nội các và liên lạc với Quốc Hội toàn nói tiếng Anh. Chính vị này thay mặt Vua Anh sau đó, đã trở thành Thủ Tướng đứng đầu Chính Phủ Anh lúc bấy giờ. và Vương quốc Anh khai sinh ra chế độ Đại Nghị trên thế giới.

Vào đầu thế kỷ 18, đã có một cuộc dàn xếp giữa Vua và Quốc Hội nên số người được đi bầu cử gia tăng. Năm 1832 Đạo luật Cải cách đầu tiên được thông qua, nhưng phải đợi tới thế kỳ 20, cải cách Quốc hội tiếp tục, từ đó tất cả người trưởng thành đều được đi bầu cử. Hiện nay Vương quốc Anh gồm 4 xứ: England, Wales, Scotland và Bắc Ireland, có 2 đảng chính: Bảo Thủ và Lao Động thay nhau nắm đa số tại Quốc Hội – với 2 viện: Viện Quý tộc và Viện Thứ dân, từ đó Đảng nắm đa số sẽ làm Thủ Tướng điều hành Chính Phủ và chịu trách nhiệm trước Quốc Hội. Chế độ lưỡng đảng này đã giúp nền chính trị Anh tương đối ổn định.

. Đa số các nước ở châu Âu hiện theo chế độ Đại nghị với Vua hoặc Tổng thống có hư vị, mọi quyền hành do Thủ Tướng Chính Phủ nắm giữ và chịu trách nhiệm trước Quốc Hội. Ưu điềm là chế độ này được coi là dân chủ nhất, nhưng khuyết điếm là không bảo đảm một nền Hành pháp mạnh mẽ vì có đa đảng dễ gây chia rẽ, khiến việc điều hành đất nước khó khăn, với việc có những Chính Phủ “chết yểu”, cơ quan Lập pháp được Hiến Pháp bảo đảm quyền lực rộng lớn, nhưng thực quyền Quốc Hội phụ thuộc vào cơ chế chính trị và tính chất đảng phái nhiều hơn.

. Chế độ Cộng hòa Hổn hợp: ở Châu Âu không có nước nào xây dựng mô hình Chính Phủ theo kiểu Mỹ, nhưng một số nước như Pháp và Nga đã cải cách để nhân dân trực tiếp bầu Tổng thống – từ đó vị này có quyền thế mạnh hơn, Tổng thống chỉ định một Thủ tướng điều hành Chính Phủ và không chịu trách nhiệm trước Quốc Hội mà chỉ chịu trách nhiệm trước Tổng thống mà thôi. Cả Tổng thống cũng như Quốc hội độc lập với nhau. .(ảnh hưởng Mỹ).

3. CHẾ ĐỘ TỔNG THỐNG – DO HOA KỲ KHAI SINH

Năm 1787, để điều hành 13 tiểu bang Bắc Mỹ tức Hợp Chúng Quốc vừa mới được thành lập, những nhà soạn thảo Hiến Pháp, phân vân giữa hai chế độ Quốc Hội của Thụy Sĩ và chế độ Đại nghị của Anh Quốc. Họ cho rằng dân chúng không đủ khôn ngoan để đánh giá đức hạnh Ứng cử viên Tổng thống và họ cũng bác bỏ ý kiến cho rằng chức vụ Tồng thống nên được Quốc Hội quyết định. Chính vì thế, Hiến Pháp Hoa Kỳ đã khai sinh ra một thể chế hoàn toàn mới: Tổng Thống chế. Trong đó, Vua và Thủ Tướng của Anh Quốc gộp lại làm một vị duy nhất – vừa lãnh đạo tối cao đất nước, vừa điều hành Chính phủ – vị đó có danh xưng là Tổng Thống Hoa Kỳ (President of the USA, Hoa Kỳ cũng khẳng định Hoa Kỳ là một nước Cộng hòa trong “The Pledge of Allegiance” dành cho các học sinh Mỹ tuyên đọc: “Em thề trung thành với lá Quốc kỳ Mỹ và với nước Cộng Hòa mà nó đại diện, một Liên Bang, dưới sự che chở của Thượng Đế, bất khả phân, với sự tự do và công bằng cho mọi người.”).

Từ đó, dân Mỹ bỏ phiếu Chọn Tổng thống (vote for President) nhưng họ không thật sự Bầu Tổng thống (elect President): đây là chế độ Dân chủ Gián tiếp, vì các nhà lâp hiến cho thành lập Đại cử tri (Đại biểu cử tri, Elector) trong Cử tri đoàn mới thật sự là những người quyết định ghế Tổng thống chứ không phài Cử tri Phồ thông (Voter).

Hiến Pháp Hoa Kỳ cho phép các Tiểu bang chọn Đại cừ tri. Thoạt đầu, Đại cử tri được chỉ định bởi các nhà làm luật tại Tiểu bang và cuối cùng được chính thức chọn làm Đại cử tri bởi sự ủng hộ của các nam công dân thuộc hàng có tên tuổi của các Tiểu bang khác. Dần dần, các đảng phái (may mắn là Hoa Kỳ cũng chì có hai đàng lớn là Cộng hòa và Dân chủ nên việc điều hành Liên Bang giữa Tổng thống và Quốc hội tương đối ổn định) ở từng Tiểu bang tự đứng ra chọn Đại cử tri. Tuy điều này dẫn đến tình trạng Đại cử tri có thể thiên vị (từng bị báo chí phản đối nhiều), nhưng Luật không cấm. Đầu tháng 12 sau cuộc bầu cừ, Đại cử tri sẽ tập trung tại thủ phủ Tiểu bang mình để Bỏ phiếu bầu Tổng thống, sau khi cuộc Bầu cử phổ thông được thực hiện vào tháng 11 (năm nay cuộc Bầu cử sẽ là ngày 6-11-2012).

Có 26 Tiểu bang không yêu cầu Đại cử tri phải bỏ phiếu cho tương ứng với lá phiếu Phổ thông và có 19 Tiểu bang (trong đó có khu vực Washington, D.C.) buộc Đại cử tri phải bỏ phiếu tương ứng với lá phiếu Phổ thông. Tuy nhiên, không ai phạt vạ gì khi Đại cử tri không tuân thủ điều trên. Chỉ có 5 Tiểu bang có luật phạt vạ Đại cử tri không tuân thủ luật này nhưng mức phạt không đáng kể (Oklahoma chẳng hạn, mức phạt là 1,000USD).

Mỗi Tiểu bang có số Đại cử tri tương đương số Thượng Nghị sĩ trong Thượng Nghị Viện (TNV) và Hạ Nghị sĩ trong Hạ Nghị Viện (HNV) của Quốc Hội Liên Bang.

Tổng cộng: số Đại cử tri hiện nay là 538 vì Quốc Hội có 435 H.N.Sĩ và 100 T.N.Sĩ (3 Đại cử tri cộng thêm thuộc khu vực thủ đô Washington, được thêm vào theo Tu chính án thứ 23 năm 1961). Sự phân phối kiểu này được gọi là Bản đồ Đại cử tri (Electoral map) và được điều chỉnh theo từng thập niên. Thập niên 1981-1990, Florida có 21 lá phiếu Đại cử tri, thập niên 2001-2010 có 27. Cần nhớ luật quy định rằng: nếu Ứng cử viên (ƯCV)Tổng thống nào có số phiếu bầu Phổ thông cao hơn đối thủ trong một Tiểu bang, thì ƯCV này sẽ được hưởng trọn số Đại cử tri của Tiểu bang, nên có thể ƯCV dù được nhiều phiếu Phổ thông nhưng vẫn thua ƯCV có nhiều phiếu Đại cử tri (vì phiếu Đại cử tri quan trọng hơn).

Nói cách khác, việc thành lập Cử tri đoàn mang ý nghĩa đem lại công bằng hơn cho các Tiểu bang nhỏ, ít dân (nơi lá phiếu Phổ thông ít) ngang với các Tiểu bang lớn, đông dân, vì Tiểu bang nào cũng có Đại cử tri. Tuy nhiên, Tiểu bang có dân số đông cũng có nhiều phiếu Đại cử tri hơn! Vì vậy các Tiểu bang lớn luôn có tính quyết định cho cuộc đua giành ghế Tổng thống Tuy nhiên trong thời kỳ vận động tranh cử sơ bộ, các ƯCV đều đến các Tiểu bang nhò, trung thành với Đảng của mình để vận động, dù có số phiếu Đại cử tri tuy ít nhưng “tích tiểu thành đại” nhằm để mỗi ƯCV hội đủ số phiếu cần thiết để đảng Dân chủ hoặc Cộng hòa “chính thức đề cử làm ƯCV cùa mỗi đảng” , rồi trong cuộc bầu cử Tổng thống mới hy vọng đắc cử từ tổng số phiếu Đại cử tri của các Tiểu bang nhỏ, chưa kể số phiếu Đại cử tri của các Tiểu bang lớn như California và New York.

Năm 1888, ƯCV đảng Dân chủ G. Cleveland có 48,6% phiếu phổ thông nhưng cuối cùng B. Harrison đắc cử vì ông có 233 phiếu Đại cử tri so với 169 phiếu Đại cử tri của Cleveland.

Gần đây nhất là năm 2000. ƯCV đảng Dân chủ Al Gore thắng G.W.Bush của đảng Cộng hòa ở lá phiếu phổ thông: 49.222.339 so với 48.999.451 phiếu – nhưng Bush (con) giành đa số Đại cử tri, đặc biệt tại tiều bang nhỏ Florida, nơi em trai của Bush đang làm Thống đốc và một phần cũng nhờ vào phán quyết có lợi cho Bush của Tối cao Pháp viện Hoa Kỳ (vì đa số 9 vị Thầm phán Tối cao thời kỳ đó do Tổng thống đảng Cộng hòa bổ nhiệm, nên họ ra phán quyết có thiên vị cho phía Cộng hòa).

Kỳ bầu cử năm 2008, Obama thắng John McCain là nhờ vào số phiếu Đại cử tri của Tiểu bang nhò là Ohio.

HIẾN PHÁP HOA KỲ QUY ĐỊNH “TAM QUYỀN PHÂN LẬP”

Hiến Pháp ban hành vào ngày 19-9-1787, có Nội dung như sau:

– LỜI MỞ ĐẦU: “Chúng tôi, Nhân dân Hoa Kỳ, để tạo lập một Liên Bang hoàn hảo hơn, thiết lập sự công bằng, bảo đảm sự an vui trong nước, cung cấp nền quốc phòng toàn dân, gia tăng hạnh phúc quốc dân, bảo đảm ước vọng tự do cho Chúng ta và Hậu thế, Chúng tôi nhất trí và thiết lập bản Hiến Pháp này cho Hợp Chúng Quốc:

– ĐIỀU KHOẢN I gồm có Mục 1 đến 10 : Quy định về Quốc Hội lưỡng viện, Thượng Nghị Viện và Hạ Nghị Viện.. TNV tượng trưng cho sự thống nhất Liên Bang, nên mỗi Tiểu Bang, dù lớn nhỏ đều có 2 Thượng Nghị sĩ, tổng cộng hiện có 100 vị trong TNV với nhiệm kỳ 6 năm, cứ mỗi hai năm lại bầu lại 1/3 số Thượng Nghị Sĩ. HNV gồm các Hạ Nghị Sĩ với nhiệm kỳ 2 năm, căn cứ vào số dân của từng khu vực trong Tiều Bang, hiện nay có 435 H.N.Sĩ.

Quốc Hội giữ quyền Lập Pháp, biểu quyết các Luật với đa số quá bán, sau đó phải chuyển sang Tổng Thống ký ban hành. Tổng Thống có thể “phủ quyết” Dự Luật, nếu muốn chống lại, Quốc Hội phải họp lưỡng viện và biểu quyết với đa số đặc biệt là 2/3 tổng số T.N.Sĩ và H.N.Sĩ. Ngoài ra, Quốc Hội có thể luận tội Tổng Thống vi phạm lỗi nặng với đa số 2/3 để “Truất quyền Tổng Thống”. Thời Tổng thống Nixon, vì sợ bị Quốc Hội truất quyền nên ông đã phải Từ chức trước khi hết nhiệm kỳ cùa mình.

– ĐIỀU KHOẢN II gồm có Mục 1 – 4 : Quy định về Tổng Thống Liên Bang giữ quyền Hành pháp, thực thi các Luật do Quốc Hội biểu quyết và Tồng Thống ban hành. Ông lãnh đạo Quốc gia và là Tổng Tư lênh tối cao Quân dội Mỹ, ông thành lập Chính Phủ nhưng phài có sự chuần y của TNV, kể cá các chức vụ quan trong trong Chính Phù như: Đại sứ, Thầm phán Tối cao Pháp viện…cũng phải do TNV chuẩn y. Phụ tá ông có Phó Tồng thống, khi bầu cử, cả hai đứng chung trong một liên danh ƯCV Tổng thống và Phó Tổng thống do mỗi đàng đề cử. Hiện nay Chính Phù Liên Bang có 14 Bộ (Department) do Bộ Trưởng (Secretary) đứng đầutrong khi các Bộ Trường trong Nội các chế độ Đại nghị gọi là Minister (Tổng Trưởng một Bộ). Tổng Thống độc lập và Chính Phủ do ông điều khiển không chịu trách nhiệm trước Quốc Hội nên Tồng Thống có quyền hành rất lớn.

– ĐIỀU KHOẢN III gồm có Mục 1-3 : Quy định về Tối cao Pháp viện (TCPV) giữ quyền Tư Pháp có 9 Thẩm Phán với nhiệm kỳ suốt đời, vị Thẩm Phán này phải do Tổng Thống đề cử, Quốc Hội chuẩn y và Tổng Thống bổ nhiệm. TCPV có thẩm quyền giải thích Hiến Pháp và các Luật do Quốc Hội biểu quyết và Tổng Thống ban hành xem có vi hiến không, nếu TCPV phán quyết vi hiến thì Luật đó phài bị đình chỉ thi hành. Có một thời kỳ Hành Pháp khổ sở vì Luật nào ban hành cũng bị 9 ông Tòa TCPV cho là vi hiến! Hơn nữa, TCPV cũng còn giữ quyền phúc thầm các bản án quan trọng do các Tòa án Tiều bang chuyển lên.

Đặc biệt, vì Hiến Pháp Mỹ có tính linh hoạt, nên các nguyên tắc căn bản của nó có thể được áp dụng và giải thích khác nhau ở từng thời kỳ khác nhau. Đây là thẩm quyền quan trọng nhất cùa 9 vị Thẩm phán TCPV.

– ĐIỀU KHOẢN IV gồm Mục 1 – 4: Quy định về quyền của các Tiểu Bang, các Quyền nào mà Hiến Pháp không quy định dành cho Chính Phù Liên Bang thì đều thuộc về các Tiểu Bang. Nếu có tranh chấp giữa Tiều bang và Liên bang về một điều khoản nào trong Hiến Pháp thì sẽ do TCPV giải quyết.

– ĐIỀU KHOẢN V : Quy định về việc sửa đổi Hiến Pháp với đa số 2/3, cho tới nay Quốc Hội đã có 26 Tu Chính án sừa đổi Hiến Pháp: trong đó quan trọng là 10 Tu Chính án đầu tiên được gọi chung là “The Bill of Rights” (Tuyên bố Nhân quyền Hoa Kỳ), – Tu Chính án thứ 15 cho người Mỹ da đen được quyền bầu cử, – Tu Chính án thứ19 cho phụ nữ được quyền bầu cử.

– ĐIỀU KHOẢN VI gồm Điều khoản Tổng quát.

– ĐIỀU KHOẢN VII quy định việc phê chuẩn bản Hiến Pháp này tối thiểu phải được 9/13 Tiểu Bang (lúc đó Hoa Kỳ mới có 13 Tiều Bang) thì Hiến Pháp mới có hiệu lực.

KÝ TÊN CHẤP THUẬN: gồm Chủ tọa George Washington (sau là Tổng Thống đầu tiên) đại biểu Virginia và các Đại biều của 12 Tiều bang khác: Massachusetts, New Hampshire, Rhodes Island, Connecticut, New York, New Jersey, Pennsylvania, Delaware, Maryland, North Carolina, South Carolina và Georgia. Đây là 13 Tiểu bang Nguyên thủy của Hoa Kỳ – được tượng trưng trên Quốc kỳ với 13 sọc trắng và xanh dương, cùng với 50 ngôi sao tượng trưng cho 50 Tiểu bang.

TÓM TẮT

Tổng Thống chế là sự dung hòa giữa hai chế độ Quốc Hội và chế độ Đại Nghị. Hiện nay trên thế giới, các nước theo thể chế Dân chủ thì có khoảng 30 nước theo Đại Nghị chế (có Vua hoặc Tồng Thống), đó là đa số là các nước thuộc địa cũ nằm trong khối Thịnh Vượng Chung của Anh và đa số ở Châu Âu. Các nước theo Tổng Thống chế kiểu Mỹ thì có độ 40 nước, hầu hết các nước này đều áp dụng phân quyền triệt để, ở số nước tại châu Á và châu Phi bộ máy nhà nước có tính cách tập quyền, quyền lực tập trung vào tay một vị Tổng Thống trong khi quyền lực của Quốc Hội rất mờ nhạt. Một số nước theo chế độ Tồng Thống dung hòa với Đại Nghị, họ vừa có Tổng Thống vừa có cả Thủ Tướng với sự độc lập với Quốc Hội.

Hiến Pháp Hoa Kỳ quy định hệ thống “Tam quyền phân lập” (checks and balances), nhằm để ngăn ngừa sự độc tài của Hành Pháp mà đứng đầu là Tổng Thống với rất nhiều quyền hành. Theo đó, mỗi ngành Lập Pháp, Hành Pháp và Tư Pháp có một số thẩm quyển để kiểm soát các ngành kia. Chẳng hạn, Quốc Hội lưỡng viện làm luật nhưng Tổng Thống có quyền phủ quyết một Dự luật đã được Quốc Hội biểu quyết xong và Tối cao Pháp viện có thể phán quyết một Luật là vi hiến và như thế Hành Pháp và Lập Pháp lại phải tiến hành lại từ đầu.

Đây là bản Hiến Pháp thành văn đầu tiên và chế độ Tồng Thống cũng xuất hiện đầu tiện trên thế giới.

Phạm Vũ-(Tham khảo: Một số tài liệu của trường Luật và sách báo về Hoa Kỳ)

__________________________________

Bốn nguyên tắc của Hiến pháp Pháp

Trần Đức Tuấn

Cộng hòa Pháp là một quốc gia có truyền thống dân chủ lâu đời ở châu Âu. Nhằm xây dựng “nhà nước của dân, do dân và vì dân”, Hiến pháp Pháp dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản sau:

Một là, Hiến pháp bảo vệ quyền con ngườiNguyên tắc cơ bản đầu tiên đó là quyền cơ bản nhất của chon người được bảo vệ. Trong khi các quốc gia có xu hướng liệt kê các quyền con người được bảo vệ, thì Lời mở đầu của Hiến pháp Pháp năm 1958 đã viện dẫn 2 văn bản quan trọng về quyền con người: “Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789” và “Lời mở đầu của Hiến pháp năm 1946”. Tuy nhiên, quyền sống, tự do và bình đẳng được xem là thiêng liêng, là nguyên tắc của phẩm hạnh con người, và được củng cố bằng các quyền kinh tế v�Theo Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, các quyền tự do cá nhân là vĩnh viễn và chưa đầy đủ. Vĩnh viễn theo nghĩa các quyền sẽ tồn tại, gắn với mỗi con người, mà không bị tước đoạt. Chưa đầy đủ nghĩa là việc liệt kê các quyền con người chỉ mang tính tương đối, chưa có một thước đo hoàn chỉnh nào có thể liệt kê được tất cả các quyền con ngườitham gia vào đời sống xã hội dưới hình thức tập thể và cá nhân riêng lẻ. Ngoài ra, Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 và Hiến pháp Pháp năm 1946 đã đưa ra các quy định khá cụ thể để bảo vệ các quyền con người, cũng như các quy định vừa mở để phù hợp với sự phát triển của nhận thức, công nghệ…, chẳng hạn như quyền tự do ngôn luận chưa được đề cập trong Bản Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền, nhưng nhờ những quy định mở, mà quyền này cũng được xem là bất khả xâm phạm.Để bảo vệ các quyền con người, Hội đồng Hiến pháp có nhiệm vụ đảm bảo tất cả các luật được thông qua bởi Nghị viện phải phù hợp với Hiến pháp và các văn bản mà Hiến pháp viện dẫn.Hội đồng Hiến pháp có chín thành viên. Tổng thống bổ nhiệm ba, Chủ tịch Quốc hội bổ nhiệm ba và Chủ tịch Thượng viện bổ nhiệm ba. Ngoài vai trò bảo vệ Hiến pháp, Hội đồng Hiến pháp còn có chức năng bảo đảm các cuộc bầu cử Tổng thống, bầu cử Nghị viện và Trưng cầu dân ý được thực thi đúng pháp luật.Nhiệm kỳ của các thành viên Hội đồng Hiến pháp là chín năm (không bị bãi nhiệm và không được bổ nhiệm lại khi hết nhiệm kỳ). Điều này đảm bảo các thành viên độc lập, không bị chi phối bởi những người đã bổ nhiệm trong các tranh chấp chính trị và tư pháp.Hai là, Hiến pháp phân quyềnTheo quy định của Điều 16 của Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền 1789, Hiến pháp, theo tinh thần Học thuyết Montesquieu, phân chia quyền lực. Quyền lập pháp được trao cho Nghị viện, quyền hành pháp trao cho Tổng thống và Thủ tướng, quyền tư pháp trao cho Tòa án. Nhánh lập pháp: bao gồm Quốc hội (the National Assembly) và Thượng viện (the Senate)Quốc hội được bầu thông qua phổ thông trực tiếp, dựa trên nguyên tắc đa số. Mỗi dân biểu được lựa chọn từ một khu vực cử tri, hay nói cách khác, một khu vực nhất định chỉ có một dân biểu đại diện. Điều này tránh được tình trạng “cha chung không ai khóc”. Nếu một vài dân biểu đại diện cho một khu vực, rất khó để xác định trách nhiệm của các dân biểu. Trong khi dân biểu của Quốc hội đại diện cho người dân thì các Thượng nghị sỹ đại diện cho các quyền lực địa phương (bao gồm chính quốc Pháp và cả người có quốc tịch Pháp sinh sống ở nước ngoài). Thượng nghị sỹ được bầu thông qua phổ thông gián tiếp, bởi các dân biểu địa phương. Thượng nghị sỹ có nhiệm kỳ 9 năm, và cứ 1/3 trong tổng số 321 Thượng nghị sỹ sẽ được bầu lại 3 năm/lần.Nhánh hành pháp: Quyền hành pháp được trao cho Tổng thống và Thủ tướng.Tổng thống là người đứng đầu Nhà nước, đại diện cho quốc gia. Các quyền quan trọng của Tổng thống bao gồm: Bổ nhiệm Thủ tướng, và các thành viên của Chính phủ theo đề xuất của Thủ tướng. Ngoài ra, Tổng thống có quyền kêu gọi trưng cầu dân ý, giải tán Quốc hội (tuy nhiên, không có quyền giải tán Thượng viện), đàm phán và thông qua các hiệp ước quốc tế, hay đề xuất sửa đổi Hiến pháp, vạch ra các chính sách quan trọng cho Chính phủ. Tuy nhiên, quyền lực quan trọng nhất của Tổng thống bắt nguồn từ nhân dân thông qua bỏ phiếu phổ thông trực tiếp. Nếu ứng viên dành được đa số tuyệt đối (quá bán/tổng phiếu), thì ngay lập tức trở thành Tổng thống. Trong trường hợp không có ứng viên nào dành được đa số tuyệt đối, thì 2 ứng cử viên dẫn đầu sẽ tham gia vòng thứ hai. Trong lần bầu thứ hanày, người nào dành được đa số tuyệt đối sẽ chiến thắng, trở thành Tổng thống. Thủ tướng do Tổng thống bổ nhiệm. Thủ tướng điều hành công việc hàng ngày của chính phủ, chịu trách nhiệm giải trình trước Quốc hội. Nhánh Tư pháp: Nghĩa vụ của Thẩm phán Pháp bao gồm: giải thích và áp dụng pháp luật. Hiến pháp bảo đảm các Thẩm phán độc lập và có một địa vị đặc biệt.

Pháp có hệ thống tư pháp kép, song song nhưng hệ thống cấp bậc riêng biệt: Các Tòa Dân sự và các Tòa Hình sự (cao nhất là Tòa Phá án (Court of Cassation); và các Tòa Hành chính, xét xử các tranh chấp giữa các cơ quan công quyền và cá nhân (đứng đầu bởi Conseil d’Etat). Ngoài ra, còn có Tòa Kiểm toán (Audit Court) với các trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách và tài chính.

Ba là, chế độ Đại nghị duy lý

Chế độ Đại nghị duy lý được hiểu là trong mối quan hệ giữa Chính phủ và Nghị viện thì Chính phủ có nhiều cách để thúc ép Nghị viện thông qua chính sách.

Chính phủ không e ngại khi đối diện với Nghị viện bởi các thành viên của Nghị viện chịu sức ép từ Chính phủ (cùng Đảng). Tuy nhiên, trong một số trường hợp, các thành viên này có thể lựa chọn khác, khi lợi ích của Đảng xung đột lợi ích nhân dân. 

Chế độ này bảo đảm sự ổn định và quyền lực của số đông (power of the majority block). 

Cuối cùng, Hiến pháp bảo đảm mối quan hệ trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân 

Người dân (người bị trị) chọn nhà cầm quyền thông qua bầu cử.  Nhà cầm quyền đưa ra chính sách để điều hành.  Nhà cầm quyền chịu trách nhiệm giải trình trước dân (nếu nhà cầm quyền không thực hiện được như nguyện vọng của dân, thì họ sẽ không dành được phiếu trong cuộc bầu cử sau).

Lời kết

Rõ ràng, với những nguyên tắc: Bảo vệ quyền con người, Phân quyền, Chế độ Đại nghị duy lý, Bảo đảm trách nhiệm của nhà cầm quyền đối với người dân, Hiến pháp Pháp thực sự là khế ước xã hội bảo vệ các quyền lợi của các thành viên trong xã hội, cũng như đã xây dựng được một mô hình phân quyền hợp lý giữa các nhánh quyền lực. Có như vậy, người trao quyền (nhân dân) mới thực sự làm chủ, không bị mất quyền sau khi trao quyền. Những nguyên tắc này, về cơ bản, cũng là xu hướng chung trong Hiến pháp của nhiều nước dân chủ trên thế giới như Đức, Thụy Điển, Bồ Đào Nha… ——————————-

Quyền cơ bản trong vương quốc dân chủ hàng đầu thế giới

TS Nguyễn Sỹ Phương, CHLB Đức
Đan Mạch là một vương quốc, tức có Vua. Với tổng số dân non năm triệu rưỡi chỉ chừng 1/16 Việt Nam, nhưng GDP gấp gần ba lần Việt Nam; tính ra mỗi người Đan Mạch làm bằng 43 người Việt Nam cộng lại. Được xếp thứ hạng dân chủ cao thứ 5 thế giới, nhưng thiết chế nhà nước họ không thuộc mô hình dân chủ mà là quân chủ “đặc biệt”.
Vai trò nhà Vua vừa mang tính biểu tượng tinh thần như Thái Lan, “thiêng liêng bất khả xâm phạm” (điều §13 Hiến pháp 1953), vừa thực quyền nắm cả lập pháp “cùng với Quốc hội”, lẫn trọn “ hành pháp”, được quy định tại điều §3. Nhưng khác Vua trong chế độ phong kiến ở chỗ: 1- “Toà án thực hiện quyền tư pháp độc lập (điều §3 câu 3) nghĩa là Vua không thể ra lệnh cho Toà, mà còn phải thừa nhận án quyết; 2- Quốc hội gồm Vua và tới 12 Đảng phái đại diện cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia, bình đẳng ý kiến với vua chứ không phải dưới quyền vua; 3- “Các bộ trưởng phải tự chịu trách nhiệm trong công việc điều hành của chính phủ”, (điều §13, câu 2) thường do Liên minh các đảng phái thắng cử nắm, do dân bầu chứ không phải Vua ban, nên không thể lấy uy hoặc đổ trách nhiệm cho Vua, 4- Đặc biệt, Vua không đứng trên Hiến pháp như trong chế độ phong kiến mà “phải tuyên thệ không được vi phạm Hiến pháp” (điều §8). Vậy quyền cơ bản được Hiến pháp họ đưa ra những thước đo chuẩn mực quy tắc xử sự chặt chẽ như thế nào để chế tài được nhà Vua, bộ máy nhà nước, các đảng phái, bảo đảm cho dân họ đúng chủ nhân đất nước, chứ không phải Vua, nhà nước hay đảng phái?Về quyền tự do cá nhân

Như đa số các quốc gia, điều §71 điểm (1) Hiến pháp Đan Mạch quy định quyền “tự do cá nhân” là “bất khả xâm phạm”. Tuy nhiên để quyền đó không bị quyền lực nhà nước xâm hại, hiến định trên được kèm theo chế tài trách nhiệm nhà nước: “Không một công dân nào vì lý do chính trị hay tôn giáo, hay nguồn gốc xuất thân, có thể bị tước quyền tự do dưới bất kỳ hình thức nào”. Khi hạn chế quyền tự do đó, nhà nước cũng phải tuân thủ quy phạm, thước đo, chuẩn mực, được hiến định ở điểm (2): “Chỉ có thể tước quyền tự do theo một đạo luật”. Và ngay cả khi ban hành đạo luật cũng không có nghĩa Vua, quốc hội được quyền tùy ý, đạo luật đó phải tuân theo quy tắc xử sự: 1- “(3) Ai bị bắt giữ, trong vòng 24 tiếng phải giao cho chánh án câu lưu quyết định. Nếu không thể thả bổng họ, chánh án phải nhanh như có thể trong vòng 3 ngày, ra án trát có nêu lý do, quyết định tiếp tục tạm giam giữ hay cho tại ngoại với điều kiện nộp tiền thế chân ở mức nào và dạng nào”. 2- “(4) Đương sự được quyền lập tức chống lại án trát bắt giữ lên toà cao hơn”. 

Về quyền nơi ở

Khác Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992 ở ta (DTHP) chỉ nêu quyền tự nhiên đó của công dân, Hiến pháp họ, điều §72 chế tài trách nhiệm nhà nước phải bảo đảm “nơi ở bất khả xâm phạm”. Khi xảy ra tình huống phải hạn chế quyền đó, như “lục soát, thu giữ đồ đạc, tìm kiếm thư từ văn bản, khám xét các bí mật giao dịch bưu điện, điên thoại thư tín”, chỉ được phép “khi có lệnh toà án, nhưng cũng chỉ trong trường hợp không có văn bản lập pháp nào cấm lệnh đó”. 

Về quyền sở hữu

Vừa là quyền cơ bản, vừa là nền tảng tồn tại của nền kinh tế thị trường vốn theo đuổi mục đích lợi nhuận, còn nếu không người ta chẳng theo đuổi lợi nhuận làm gì, một khi có tiền mà không thể sở hữu tài sản. Vì vậy điều §73, điểm (1) Hiến pháp họ hiến định “Quyền sở hữu là bất khả xâm phạm”. Để bảo đảm quyền đó, nhà nước bị chế tài “không một ai có thể bị ép buộc phải nộp tài sản”, ngoại trừ tình huống “lợi ích cộng đồng đòi hỏi”, nhưng phải tuân thủ điều kiện: 1- “phải thông qua một văn bản lập pháp” nghĩa là áp dụng cho mọi đối tượng do đạo luật đó điểu chỉnh chứ không phải cho một số con người cụ thể, nói cách khác công bằng đối với mọi người trong cộng đồng. 2- “phải bồi thường hoàn toàn”.

Trong lúc ở ta đất đai vẫn hiến định sở hữu toàn dân, do nhà nước nắm giữ – nguyên lý bất di bất dịch của nền kinh tế quản lý tập trung nhằm mục đích hoàn thành kế hoạch nhà nước, phân biệt với bản chất nền kinh tế thị trường theo đuổi mục đích lợi nhuận. Ở họ nhà nước bị chế tài bảo đảm quyền sở hữu đất đai rất ngặt nghèo thậm chí hậu hoạ có thể giải tán quốc hội, được hiến định tại điểm (2) “Trong trường hợp một dự luật quốc hữu hoá đất đai nào đó được thông qua, trong vòng 3 ngày, Quốc hội chỉ cần ít nhất 1/3 số phiếu đồng thuận, có quyền đòi nhà Vua phải tạm ngừng ký lệnh ban hành cho tới khi một cuộc bầu cử Quốc hội mới được thực hiện để thông qua dự thảo mới”. Khi tranh chấp xảy ra do quốc hữu hoá, nhà nước phải tuân thủ quy tắc xử sự tại điểm (3) “Mọi vấn đề liên quan tới tính chất pháp lý của qúa trình quốc hữu hoá cũng như trị giá bồi thường, có thể được giải quyết thông qua toà án. Kiểm tra giá trị bồi thường có thể thông qua 1 đạo luật giao cho toà án phán quyết” không hề liên quan tới Vua hay cơ quan hành chính, hành pháp, bởi những đối tượng này chính là một bên trong tranh chấp. Ở ta tranh chấp đất đai sở dĩ liên tục xảy ra và ngày càng gia tăng, trước hết do thiếu những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự chế tài trách nhiệm nhà nước lẽ ra phải được hiến định, để thu hồi đất như ở họ không bị phụ thuộc vào động cơ và nhận thức của cơ quan hay người hành xử, lại giao cho nhà nước toàn quyền hành xử; nghĩa là đặt số phận tài sản đất đai do người dân sở hữu (dù sở hữu quyền sử dụng) vào tay nhà nước; nay vẫn được DTHP giữ nguyên tại điều 58, điểm 3: “Nhà nước thu hồi đất… có bồi thường theo quy định của pháp luật trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh hoặc vì lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án phát triển kinh tế – xã hội”. Luật thu hồi là do nhà nước định, thu hồi có thực sự vì lý do quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và các dự án hay không và vì ở mức độ nào đều do nhà nước quyết định, chứ không phải chủ sở hữu. Quyền sở hữu của người dân lại do nhà nước tự định đoạt như vậy không đúng với khái niệm sở hữu hiểu theo nghĩa phổ quát trên thế giới, chỉ hữu danh vô thực. Một khi nhà nước được trao quyền lực thu hồi đất đai, mà không bị chế tài trách nhiệm bằng những quy phạm bảo đảm đúng nội hàm quyền sở hữu cho người dân, thì tranh chấp đất đai vẫn luôn tiềm ẩn bùng nổ.

Về quyền lao động và an sinh

DTHP ở ta cũng chỉ nêu chung chung, không hề có chuẩn mực thước đo nào chế tài trách nhiệm nhà nước, ở Hiến pháp họ, điều §75 điểm (1) quy định: “Bảo đảm cho bất kỳ công dân nào có khả năng lao động đều có thể làm việc trang trải đủ cuộc sống tối thiểu”. “Ai không thể tự nuôi sống mình, và không còn nguồn thu nhập nào khác, nhà nước có trách nhiệm trợ cấp đủ, với điều kiện họ phải thực hiện các trách nhiệm do một đạo luật quy định”. Như vậy quyền lao động và an sinh không còn dừng lại ở quyền tự nhiên như ăn uống, thức ngủ, xin cho, yêu ghét, vốn do người dân tự lo lấy dù ở nhà nước, thời đại nào, đưa vào hiến pháp hay không, mà trở thành quyền cơ bản – loại quyền, nhà nước bị chế tài phải bảo đảm theo đúng những chuẩn mực thước đo đã hiến định, không thể làm khác.

Về quyền học tập

Điều §76 hiến pháp nước họ quy định: “Tất cả trẻ em ở lứa tuổi đi học, nhà nước phải đảm bảo miễn học phí tại trường công lập. Cha mẹ hoặc người giám hộ phải tự lo cho chúng tới các trường học theo chuẩn công lập, nhưng không có trách nhiệm buộc chúng phải học trường công lập”. Nghĩa là Hiến pháp họ vừa chế tài được trách nhiệm nhà nước bảo đảm chắc chắn quyền cơ bản học tập cho bất kỳ trẻ em nào, vừa bảo đảm quyền cha mẹ tự do chọn nơi học tập cho con cái họ nhà nước không được phép can thiệp vì con họ đẻ ra chứ không phải nhà nước đẻ ra.

Về quyền tự do ngôn luận 

Điều §77 của Hiến pháp Đan Mạch quy định: “Kiểm duyệt hay sử dụng bất cứ biện pháp nào ngăn cấm đều không bao giờ được phép”. “Ai không bị toà án cấm đều có quyền thể hiện công khai mọi suy nghĩ của mình dưới dạng ngôn ngữ hình ảnh và chữ viết”. Như vậy hạn chế quyền tự do ngôn luận chỉ được thực hiện nếu trực tiếp gây thiệt hại bị khiếu kiện và trong trường hợp đó hoàn toàn do toà án phán quyết, chứ không phải Vua hay cơ quan lập pháp, hành pháp, thấy đụng tới mình là cấm. Nói cách khác hạn chế quyền tự do ngôn luận cũng tương tự như quyền cầm dụng cụ, gậy gộc, động thủ chân tay; nhà nước không được phép kiểm soát thân thể để xem có gậy gộc hay chân tay hung bạo hay không (kiểm duyệt) và càng không thể cấm khi họ chưa có hành vi gây thiệt hại, và nếu có chăng nữa cũng phải do toà phán xét.

Về quyền tự do tụ tập, biểu tình, lập hội

Ở hầu hết các nước trên thế giới, đó là sinh hoạt thường nhật hiển nhiên giống như quyền ăn ở đi lại làm việc… Về quyền lập hội, Hiến pháp Đan Mạch, điều §78 quy định thước đo chuẩn mực giới hạn quyền này và chế tài trách nhiệm nhà nước rất chặt chẽ, người dân khó có thể làm sai và nhà nước không thể tự quyền: “(1) Công dân có quyền không cần xin phép trước, thành lập hội đoàn theo những mục đích mà luật pháp không cấm”. “(2) Những hội đoàn sử dụng bạo lực hoặc tìm cách đạt tới tư tưởng khác bằng con đường bạo lực, kích động bạo lực hoặc những biện pháp hình sự tương tự sẽ bị toà ra án trát giải tán”, tức hội đoàn được coi như con người chỉ bị cấm khi có hành vi phạm pháp chứ không thể cấm đẻ ra nó. “(3) Không hội đoàn nào có thể bị chính phủ giải tán. Có thể tạm thời cấm nhưng ngay lập tức phải đệ đơn ra toà đòi giải tán”. “(4) Cáo buộc đòi giải tán các hội đoàn chính trị có thể được xét xử tại toà án tối cao”. “(5) Thủ tục pháp lý giải tán hội đoàn được quyết định bởi một đạo luật”. 

Cũng chặt chẽ như điều §78, quyền biểu tình được hiến định tại điều §79: “Công dân có quyền không cần giấy phép cấp trước, tụ tập biểu tình không có vũ khí. Cảnh sát có quyền tham dự các cuộc tụ tập biểu tình đó. Tụ tập biểu tình ngoài trời có thể bị cấm, nếu có khả năng thực tế gây mất an toàn xã hội”. Chế tài trách nhiệm nhà nước đối với quyền biểu tình được hiến định tại điều §80: “Các cuộc đụng độ khi biểu tình, nếu không bị tấn công, các lực lượng giữ gìn an ninh được trang bị vũ khí chỉ được quyền can thiệp sau 3 lần đòi giải tán với nhân danh nhà Vua và công lý”.
***
Chế độ nào cũng vậy, dù quân chủ hay dân chủ, thần quyền hay đảng quyền, quyền lực cũng được trao cho bộ máy nhà nước thực thi. Bộ máy đó không phải siêu tự nhiên từ trên trời rơi xuống toàn tâm toàn ý vì dân mà cũng chỉ do một bộ phận từ nhân dân đảm đương, với mục đích mưu sinh, hiếm ai tránh khỏi tham, sân, si, hỷ, nộ, ái, ố đời thường. Hiến pháp vì vậy chỉ có giá trị sử dụng, một khi nó đưa ra được những chuẩn mực thước đo quy tắc xử sự đủ sức chế tài trách nhiệm nhà nước, tức những người được dân trao quyền lực, phải bảo đảm quyền cơ bản cho người dân, bằng không nó chỉ có giá trị trên văn bản !

——————————-

 Tìm hiểu về Bồi thẩm đoàn ở Mỹ:

Hệ thống pháp luật tại Hoa Kỳ, áp dụng cho hầu hết các tội về hình luật (criminal) và dân luật (civil), được phân xử dựa trên căn bản phán quyết của bồi thẩm đoàn (jury), ngoại trừ một số nhỏ chỉ dựa trên phán quyết của người thẩm phán hoặc chánh án (judge). Nhiều người cho rằng, phân xử dựa trên phán quyết của bồi thẩm đoàn là không công bằng vì bị cáo bị kết tội hay được tha bổng bởi mười hai bồi thẩm viên (jurors), mà những người này hoàn toàn không có kiến thức căn bản về pháp luật.

Lẽ dĩ nhiên, không có một hệ thống pháp luật nào của bất cứ quốc gia nào trên thế giới được coi là toàn hảo, nhưng đối với tác giả, phân xử theo hệ thống bồi thẩm đoàn của luật pháp Hoa Kỳ là tốt nhất vì nó đảm bảo được sự công bằng của nền công lý. Với hệ thống bồi thẩm đoàn, người bị kết tội hình sự phải thực sự có tội vì phải được sự đồng thuận của toàn thể 12 người, không còn nghi ngờ gì nữa, dù chỉ một chút nghi ngờ (reasonable doubt).

Tha lầm còn hơn kết tội lầm căn bản của luật pháp Hoa Kỳ.

Để giúp những đọc giả chưa từng được toà án gọi, hoặc không hội đủ điều kiện làm bồi thẩm viên, hiểu rõ hơn về bồi thẩm đoàn của hệ thống pháp luật Hoa Kỳ, tác giả xin được trình bày tóm gọn như sau:

Điều kiện để được toà án gọi đi làm bổn phận bồi thẩm đoàn là bạn phải:

• Trên 18 tuổi
• Mang quốc tịch Hoa Kỳ
• Cư ngụ nơi quận hạt hiện tại ít nhất là một năm
• Nói và hiểu Anh Ngữ (trình độ Anh ngữ của bạn sẽ được thẩm định bởi người chánh án)
• Không khuyết tật về tinh thần hay thể xác
• Chưa từng bị kết tội đại hình

Những người sau đây được miễn thi hành bổn phận bồi thẩm đoàn:

• Quân nhân hiện dịch
• Lính cứu hoả
• Nhân viên cảnh sát
• Những nhân viên thuộc các cơ quan công lực liên bang, tiểu bang hay địa phương đang tòng sự toàn thời gian

Những người sau đây, nếu làm đơn xin, có thể được miễn thi hành bổn phận bồi thẩm đoàn:

• Những người trên 70 tuổi
• Đã là bồi thẩm viên cho toà án liên bang trong hai năm vừa qua
• Những tình nguyện viên làm nhân viên cứu hoả, nhân viên cấp cứu, tài xế xe cấp cứu

Quan toà cũng có thể miễn cho bạn bổn phận bồi thẩm đoàn nếu ông ta xét rằng điều kiện tài chánh của gia đình bạn eo hẹp và nếu bạn thi hành bổn phận bồi thẩm đoàn, gia đình bạn sẽ lâm vào hoàn cảnh túng quẫn. Số tiền toà án chi trả cho một bồi thẩm viên rất khiêm nhượng, thay đổi tuỳ theo toà, khoảng dưới 20 đô cho mỗi lần.

Nếu bạn là công dân Hoa Kỳ, khi bạn được cấp bằng lái xe, hoặc khi bạn ghi danh bầu cử, tên của bạn sẽ được cho vào computer của toà án. Một ngày đẹp trời nào đó, tên của bạn sẽ được computer chọn ra bằng cách chọn lựa không nhất định (randomly selected). Sau đó, bạn sẽ nhận được một phong thơ từ toà án gởi tới tận nhà bởi toà án quận hạt, tiểu bang hay liên bang nơi bạn cư ngụ. Mở ra, bên trong là một thơ báo cho bạn biết là bạn phải thi hành bổn phận công dân: làm bồi thẩm viên. Toà án cũng sẽ cho bạn biết ngày, giờ bạn phải trình diện tại toà án được chỉ định. Cách trình diện toà án sẽ thay đổi tuỳ theo toà án của quận hạt, tiểu bang hoặc liên bang. Nhiều toà án buộc bạn phải trình diện mỗi ngày liên tiếp trong một hay hai tuần lễ. Nhiều toà án cho phép bạn gọi vào sau năm giờ chiều mỗi ngày để xem bạn có phải trình diện ngày hôm sau hay không.

Khi đến trình diện, bạn sẽ được hướng dẫn tới phòng bồi thẩm đoàn (jury room), nơi đó bạn sẽ gặp hằng trăm người khác cũng được gọi làm bổn phận công dân như bạn. Nhân viên làm việc tại phòng bồi thẩm đoàn sẽ cho bạn biết các luật lệ, thủ tục liên quan đến việc tuyển chọn một bồi thầm viên. Sau đó bạn ngồi chờ họ gọi tên. Trong khi chờ đợi để được gọi tên, bạn có quyền đọc báo, xem tivi, ngủ, hoặc làm bất cứ việc gì ngoài việc ra khỏi phòng.

Khi phòng xử án cần bồi thẩm đoàn, họ sẽ gởi giấy yêu cầu xuống phòng đợi. Nhân viên trực tại đây sẽ gọi tên một nhóm chừng khoảng năm chục người để gởi đến phòng xử. Nếu bạn không được đọc tên, bạn tiếp tục chờ đến lần đọc tên kế, hoặc chờ cho đến hết ngày nếu vẫn không được chọn. Bạn có thể phải trình diện hoặc không phải trình diện ngày hôm sau tùy theo nhu cầu của toà án.

Nếu bạn có tên trong danh sách, bạn sẽ được hướng dẫn đến phòng xử án. Tại phòng xử án, cho một tội hình sự, luật sư bên nguyên cáo (plantiff) là những luật sư kết tội (prosecutor) thuộc văn phòng biện lý (District Attorney), đại diện cho công chúng (people), ngồi bên tay phải. Người bị kết tội được gọi là bị cáo (defendant) và luật sư của họ (defense lawyer) sẽ ngồi bên tay trái. Vị thẩm phán (judge) mặc áo đen sẽ ngồi ở giữa. Ngoài ra trong phòng xử còn có người thư ký (court clerk), người thư ký ghi chép những gì xảy ra (stenographer) và người cảnh sát giữ an ninh (bailiff).

Thủ tục và tiến trình chọn lựa bồi thẩm đoàn tại phòng xử án rất nhiêu khê và phức tạp. Chỉ cho một vụ án thật nhỏ, tiến trình này cũng mất cả một hay hai ngày. Cho những vụ án lớn, nghiêm trọng hoặc liên quan đến những người nổi danh, đôi khi phải mất cả tháng toà án mới chọn được một bồi thẩm đoàn, chính thức và dự khuyết.

Thông thường, một bồi thẩm đoàn sẽ gồm 14 người bồi thẩm viên (thường là 12 người chính thức và 2 người dự khuyết). Trong những những phiên xử nghiêm trọng, số bồi thẩm viên dự khuyết có thể nhiều hơn, nhưng số bồi thẩm viên chính thức vẫn là 12.

Đầu tiên, người thư ký sẽ dùng computer để chọn lựa không nhất định ra mười hai bồi thẩm viên chính thức và sáu người dự khuyết trong số người được gởi đến. Những người được chọn và được gọi tên sẽ lần lượt ngồi vào ghế của bồi thẩm viên đã được đánh số từ 1 đến 18. Những người còn lại không được chọn sẽ ngồi tại chỗ.

Sau khi mười tám người bồi thẩm viên dự bị được chọn ngồi vào ghế, quan toà sẽ nói lời chào mừng và cho họ biết về chi tiết và thủ tục chọn lựa bồi thẩm đoàn. Quan toà cũng sẽ cho những người bồi thẩm viên dự bị biết về cáo trạng của bị cáo trong phiên xử ngày hôm đó.
Sau đó những người bồi thẩm viên dự bị sẽ được quan toà hỏi những câu hỏi căn bản sau đây:

• Tên
• Nghề nghiệp
• Gia cảnh, có gia đình hay chưa? Nghề nghiệp của người phối ngẫu
• Con cái? Nghề nghiệp của những con trên 18 tuổi
• Thành phố nơi cư ngụ
• Đã từng làm bồi thẩm viên hay chưa? Nếu có, vụ án đã được xử như thế nào? Kết tội hay tha bổng?

Để cho việc xử án được công bằng và vô tư, quan toà cũng muốn biết người bồi thẩm viên dự bị có liên hệ gì với luật sư hai bên, bị cáo hay nguyên cáo hay không? Người bồi thẩm viên dự bị có thân nhân hay quen biết bất cứ một ai trong hệ thống pháp luật, như quan toà, luật sư, cảnh sát hay không? Một chi tiết nữa mà quan toàn sẽ hỏi người bồi thẩm viên dự bị là họ có bao giờ đã là nạn nhân, bị cáo hay liên quan đến bất cứ một vụ thưa kiện nào mà tội trạng giống như phiên toà sắp xử hay không? Những chi tiết này cũng được hai vị luật sư của nguyên cáo và bị cáo ghi chép và để ý.

Những người bồi thẩm viên lúc này cũng có cơ hội để thoái thác hay từ chối để trở thành một bồi thẩm viên bằng cách trình bày lý do với người thẩm phán. Những lý do được đưa ra thường là: điều kiện tài chánh eo hẹp, không đủ khả năng Anh ngữ, không thể vắng mặt tại sở làm, sức khoẻ yếu kém, vân …vân … Tuy nhiên, quyền quyết định để được miễn, không phải làm bồi thẩm viên sẽ thuộc về người chánh án. Thông thường, lý do tài chánh, không đủ khả năng Anh ngữ hay không thể vắng mặt tại sở làm sẽ không được người chánh án chấp thuận.

Sau khi 18 người bồi thẩm viên dự bị đã trả lời các câu hỏi, luật sư của hai bên sẽ lần lượt loại ra (excuse) những bồi thẩm viên mà họ nghĩ là sẽ không có lợi cho họ. Luật lệ loại bỏ bồi thẩm viên thay đổi tuỳ theo toà án. Thông thường, cho một phiên toà nhỏ, luật sư mỗi bên có thể loại bỏ 12 người đầu tiên mà không cần phải có lý do. Trên con số này, luật sư phải có lý do chính đáng và phải được quan toà đồng ý.

Sau mỗi bồi thẩm viên bị loại bởi luật sư hai bên, người thư ký sẽ chọn ra một người trong số người còn lại để thay thế cho người bị loại. Những người lên thay thế cũng sẽ được hỏi những câu hỏi tương tự như những người trước. Luật sư hai bên dựa trên những câu trả lời để quyết định nên giữ hay nên loại họ. Tiến trình chọn lựa này sẽ được lập lại cho đến khi hai vị luật sư của đôi bên đều đồng ý và chọn được một bồi thẩm đoàn gồm 12 người chính thức và 2 người dự khuyết, hoặc nhiều hơn tuỳ theo mức độ nghiêm trọng của phiên xử.

Trần Quốc Sỹ

—————————————-

Vài nét về Hiến pháp Mỹ

Hà Văn Thịnh

indexCách đây 230 năm, năm 1783, cuộc chiến tranh giành độc lập của nhân dân 13 thuộc địa Anh ở Bắc Mỹ giành được thắng lợi – đây là thành công đầu tiên trong sự nghiệp giải phóng dân tộc của toàn thể loài người bị áp bức trong thời đại tư bản chủ nghĩa!

Một Hiến pháp có trước… nhà nước

Điều “lạ kỳ” là sau thắng lợi đó, những nhà cách mạng Mỹ không thành lập một chính quyền cho tương xứng với công lao của những người đã khai sinh ra nền độc lập; hầu như họ không quan tâm đến việc ai sẽ giữ chiếc ghế nào, “ăn chia” ra sao chiếc bánh lợi quyền béo bở mà phải mất bao xương máu, suốt 10 năm trời mới giành được (17.12.1773-4.9.1783): Cách hành xử của những nhà cách mạng Mỹ chưa hề có tiền lệ – ai về nhà nấy, sau khi đã làm trọn bổn phận công dân, không cần biết đến chuyện nên (phải?) khen thưởng ai, như thế nào đối với sự “có công với cách mạng”!

Ý định đó của sự ấu trĩ của lòng tốt nhanh chóng bị thực tế tàn nhẫn của xã hội sau chiến tranh giày xéo, tình trạng vô chính phủ nhanh chóng xảy ra, tiểu bang nào cũng muốn giành cho mình sự độc quyền cao nhất, có lợi nhất, khiến cho 13 tiểu bang gây ra bao cảnh huynh đệ tương tàn, và “nước” Mỹ, theo cách nhận xét của George Washington, “giống như một lâu đài được xây bằng cát”. Muốn khắc phục tình trạng đó, giải pháp duy nhất là phải thành lập một chính quyền, đây là điều mà đến năm 1787, hầu như ai cũng biết. Nhưng, chính quyền đó sẽ ra sao? Nó giống với mô hình Pháp hay Anh? Những bậc tiên tổ của nhà nước Mỹ tương lai giật mình bởi họ đoan quyết rằng phải thành lập một mô hình nhà nước hoàn toàn mới, không giống với bất kỳ ai; và, quan trọng nhất, nó phải là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Sáu chữ đó là sáu chữ vàng bởi nó trở thành nền tảng, cội nguồn, nguyên tắc bao trùm mọi nguyên tắc trong suốt quá trình soạn thảo Hiến pháp (HP).

G. Washington, nguyên là Tổng Tư lệnh quân Cách mạng trước đây, được mời giữ ghế chủ tọa Hội nghị Lập Hiến. 55 con người trẻ tuổi (đa số dưới 40 tuổi, riêng A. Hamilton, vào năm 1787, chỉ mới 30 tuổi; J. Madison mới 36 tuổi – họ được coi là những cha đẻ của HP Mỹ) chính là các tinh hoa chính trị được tập hợp từ các tiểu bang, về sau được ca ngợi đó là những người tinh anh nhất, “gần như là thánh thần” của nhân loại vào cuối thế kỷ 18. Những gì lịch sử ca ngợi về tài năng của 55 người đó không hề quá lời: Chẳng hạn, Benjamin Franklin (1706-1790) là một người đa tài: thợ in, chủ tòa báo, thẩm phán, Chủ tịch Hội Triết học Mỹ, thống đốc tiểu bang, nhà ngoại giao, thương gia giàu có, người thành lập Đại học Pensylvania, người phát minh ra cột chống sét, ống thông tiểu, đàn harmonica, kính hai tròng, công ty cứu hỏa tư nhân và, ông nói thành thạo 5 ngoại ngữ… Tài năng, nhân cách và tầm nhìn vĩ đại đã được cộng hưởng để làm ra bản HP đầu tiên trong lịch sử loài người mà hầu như, không có bất kỳ một lỗi văn bản lớn nào!

55 “cha đẻ” của nhà nước Mỹ, trong đó nổi bật nhất là Alexander Hamilton (hình của ông được khắc trên tờ 10 USD), James Madison (người có hình trên tờ 50 USD) và Benjamin Franklin (trên tờ 100 USD)…

Ngày 25.5.1787, Hội nghị Lập pháp được khai mạc tại Philadelphia – “thành phố của tình huynh đệ”. Gần bốn tháng ròng rã, những cuộc tranh luận quyết liệt đã nổ ra và tận cho đến lúc đặt bút ký (17.9), nhiều đại biểu vẫn còn chất chứa những bất đồng. Bản dự thảo và những bất đồng đó còn được 5 triệu người dân xem xét kỹ lưỡng trước khi được Quốc hội chính thức thông qua vào năm 1789. Nhìn chung, HP Mỹ đã được làm ra trên cơ sở những định hướng tìm tới sự hoàn hảo có thể; được cụ thể hóa thành nhiều nguyên tắc do nhiều đại biểu đề xuất, được A. Hamilton và J. Madison diễn đạt phần nào qua những bài báo rồi tập hợp thành tác phẩm Liên bang thư tập (The Federalist Papers).

Những nguyên tắc lập pháp

Chúng ta muốn tạo dựng một nền tảng (HP) sẽ trường tồn qua mọi thời đại, vậy thì, phải dự liệu đủ những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra. Nguyên tắc này khẳng định rõ những điều không bao giờ thay đổi như quyền tư hữu là thiêng liêng và bất khả xâm phạm; quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc như Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ ra; quyền người dân ủy nhiệm cho chính quyền, nhân dân có quyền bầu lên và bãi nhiệm chính quyền đó… Tất nhiên, có rất nhiều điều sẽ thay đổi nên HP dự liệu các khoản bổ sung – Tu Chính Án (Amendment, TCA), chẳng hạn, TCA 22, thông qua năm 1951, quy định tổng thống không được làm quá hai nhiệm kỳ.

Việc thành lập một chính quyền thích hợp phải do chính người dân lựa chọn thông qua sự biểu quyết rộng rãi nhất. Không một ai có quyền áp đặt mô hình nhà nước không tương thích với mong muốn và lợi ích của người dân. Sau rất nhiều tranh cãi, nhân dân Mỹ đã chọn mô hình nhà nước tam quyền phân lập; theo đó, một trong ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp, luôn bị hai cơ quan kia giám sát.

Xu hướng sửa đổi HP để mưu đồ quyền lực nhiều hơn cho một vài cá nhân là xu hướng lạm quyền của mọi quyền lực; vì thế, phải thiết lập một cơ chế sao cho có thể ngăn ngừa mọi ý đồ thao túng và sửa đổi HP. Theo nguyên tắc này, quyền tham gia của mọi công dân là tối hậu chỉ khi nào có trên 2/3 thượng nghị sĩ hoặc thống đốc bang yêu cầu thì việc xem xét sửa đổi HP mới được đặt ra. Quy định này có nghĩa là, nếu muốn xóa bỏ quyền được trang bị vũ khí, phải có ít nhất 67 TNS hoặc 34 thống đốc bang yêu cầu.

Xu hướng lạm quyền và lộng quyền là thuộc tính tất nhiên của con người, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho đủ khả năng để ngăn chặn mọi ý đồ lạm quyền đó. Ngoài cơ cấu tam quyền phân lập, HP Mỹ còn định rõ cơ chế các thành viên của Tòa án Tối cao, các thẩm phán của tòa án khu vực trong toàn liên bang, được giữ quyền trọn đời, nếu không xin nghỉ hưu hoặc mắc bệnh hiểm nghèo (tâm thần, bệnh suy giảm trí nhớ…). Như vậy, tòa án sẽ không phải chịu bất kỳ áp lực nào từ phía chính quyền hoặc cử tri!

Đảng phái là cội nguồn của chủ nghĩa bè phái và chủ nghĩa bè phái, đến lượt nó, chủ nghĩa bè phái là cội nguồn làm vẩn đục HP. Vì thế, cơ cấu tổ chức chính quyền không cho phép bất kỳ đảng phái nào có thể can thiệp vào bộ máy một cách trực tiếp. Mỗi đảng phái, trước HP, chỉ là một tổ chức công dân, chịu sự điều chỉnh, giới hạn của luật pháp.

Đa số người dân là thờ ơ với chính trị, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho hạn chế đến mức thấp nhất sự vô trách nhiệm của người dân đối với việc bầu ra chức vụ lãnh đạo cao nhất. Nguyên tắc này khẳng định cách bầu cử, theo đó, tổng thống sẽ được quyết định bởi số đại cử tri tương đương với số lượng nghị sĩ của mỗi tiểu bang.

Các tiểu bang lớn luôn có xu hướng chèn ép các tiểu bang nhỏ hơn, vì thế, cơ chế tổ chức nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chèn ép này. Đây là lý do để các tiểu bang dù lớn hay nhỏ đều có hai thượng nghị sĩ trong thượng viện. Bất kỳ một đạo luật nào dù Hạ viện đã thông qua (nơi các bang lớn có lợi thế) đều phải được Thượng viện chuẩn y, và ngược lại.

Các cơ quan tư pháp dễ bị mua chuộc và lạm dụng, vì thế, phải có thiết chế cho người dân được quyền giám sát, quyết định trực tiếp đến các phán quyết tối thượng của tòa án. Nguyên tắc này đề ra cơ chế thành lập bồi thẩm đoàn (The Jury), do người dân bầu ra. Các viên chức của ba cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp không được tham gia vào bồi thẩm đoàn. Phán quyết của bồi thẩm đoàn về có tội hay không, mức án, là tối thượng.

Việc thay đổi hay ban hành các điều luật mới luôn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của người dân. Do đó, phải thiết lập cơ chế để hạn chế đến mức thấp nhất sự ban hành hay thay đổi một đạo luật, ngăn chặn mọi xu hướng tắc trách khi ban hành các văn bản luật pháp. Nguyên tắc này bảo đảm sai sót ít nhất (hầu như chưa xảy ra, cho đến thời điểm này) về việc ban hành đạo luật mới. Khi một đạo luật được khởi xướng ở Thượng viện chẳng hạn, nó sẽ được trình cho Tiểu ban Tư pháp xem xét, sau đó trình lên Thượng viện. Nếu được thông qua, sẽ tiếp tục được chuyển sang Tiểu ban Tư pháp Hạ viện, rồi toàn thể Hạ viện; cuối cùng mới được trình lên tổng thống. Đạo luật được thông qua, sẽ mang tên người đề xuất – vừa để vinh danh vừa để tăng tính trách nhiệm của dự luật. Nếu tổng thống phủ quyết, trình tự sẽ được làm lại từ đầu.

Quân đội, cảnh sát là công cụ của chính quyền nên phải tuân thủ các mệnh lệnh của chính quyền. Và, để ngăn ngừa sự lộng quyền, độc tài hóa, các quân nhân và cảnh sát đang tại ngũ không được phép tham gia vào cơ quan lập pháp. Nguyên tắc này mặc nhiên khẳng định rằng quân đội hay cảnh sát nếu họ vào thượng viện hay hạ viện, không có quyền phản kháng chính quyền, không có quyền được luận “tội” chính quyền, tức là không bảo đảm được năng lực tác chiến, vì khi luận “tội”, họ đang chống lại chính quyền. Quân nhân hay viên chức cảnh sát, muốn vào nghị viện, phải ra khỏi quân ngũ…

Trên đây là vài khái lược về sự hình thành và các nguyên tắc lập pháp của nhà nước Mỹ – nhà nước hiện đại đầu tiên trong lịch sử loài người – một mô hình nhà nước chưa thể tìm thấy sự đối sánh nào khả dĩ hiệu quả hơn. Đó cũng là mô hình nhà nước chưa hề có tiền lệ với bản HP cho đến nay là độc nhất vô nhị, trường tồn, bất chấp sự thay đổi về thời gian và không gian. Nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang chuẩn bị bước qua một thời khắc trọng đại bằng việc lấy ý kiến toàn dân để sửa đổi Hiến pháp 1992. Rất mong mỏi rằng việc lấy ý kiến đó không phải là chuyện hình thức, bởi một sự thật giản dị: Nếu ngay cả HP cũng chỉ là bàn để cho vui thì không có cái gì trên đời này có thể được coi trọng! Một bản Hiến pháp khoa học, nhân văn, phù hợp ý nguyện của toàn dân, xu thế của mọi thời đại, chắc chắn là nguyên tắc, điều kiện đầu tiên cho sự phát triển vững bền…

Không phải ngẫu nhiên mà Lời Tuyên thệ của Tổng thống Mỹ chỉ có một ý ngắn gọn là BẢO VỆ HIẾN PHÁP. Một khi HP được soạn thảo hoàn chỉnh thì mọi cố gắng của công dân – kể cả TT, chỉ duy nhất một vấn đề là bảo vệ để thực thi đúng như HP đặt ra, không cần bất kỳ một sự thêm, bớt nào bởi những thêm hay bớt đó đều làm vẩn đục HP!

Huế, 24.1.2013

H. V. T.

————————————

ÔNG HÀ VĂN THỊNH ĐÃ “ĂN ỐC NÓI MÒ”VỀ HIẾN PHÁP MỸ RA SAO?

Ông Hà Văn Thịnh có viết một bài nhan đề “Vài nét về Hiến Pháp Mỹ” được đăng trên trang Bô Shit. Thật không hiểu sao ông ấy lại có thể hồ đồ ăn ốc nói mò, bàn toàn những chuyện mà chính ông ấy cũng không hiểu gì như vậy được. Hiến pháp cũng chỉ là một cách thức của thiết lập thế chế, các quốc gia vẫn có thể xây dựng hệ thống pháp luật mà không cần đến Hiến pháp, ví dụ nước Anh không có Hiến pháp. Do vậy, Hiến pháp không phải là thánh thần hay chìa khóa vạn năng để giải quyết mọi vấn đề về thể chế.

Ngay từ đầu ông này đã tỏ ra ngây ngô khi lập luận đầy mâu thuẫn: những nhà cách mạng Mỹ không thành lập một chính quyền cho tương xứng với công lao của những người đã khai sinh ra nền độc lập; hầu như họ không quan tâm đến việc ai sẽ giữ chiếc ghế nào, “ăn chia” ra sao chiếc bánh lợi quyền béo bở mà phải mất bao xương máu, suốt 10 năm trời mới giành được (17.12.1773-4.9.1783) và Ý định đó của sự ấu trĩ của lòng tốt nhanh chóng bị thực tế tàn nhẫn của xã hội sau chiến tranh giày xéo, tình trạng vô chính phủ nhanh chóng xảy ra, tiểu bang nào cũng muốn giành cho mình sự độc quyền cao nhất, có lợi nhất, khiến cho 13 tiểu bang gây ra bao cảnh huynh đệ tương tàn. Vấn đề cơ bản là các bang vốn độc lập với nhau chưa thỏa thuận được quyền lợi  để lập nước Mỹ, những người cha sáng lập nước Mỹ đành phải chấp nhận thực tế đó và chờ đợi chớ chả phải lòng tốt hay hy sinh gì. Có lẽ ông muốn vặn nghéo sự thật đi để đá xoáy một ai đó, song điều đó chỉ khiến cho người ta nực cười, một món làm tập văn kiểu học trò.

Ông Hà Văn Thịnh tiếp tục nói mò rằng: Những bậc tiên tổ của nhà nước Mỹ tương lai giật mình bởi họ đoan quyết rằng phải thành lập một mô hình nhà nước hoàn toàn mới, không giống với bất kỳ ai; và, quan trọng nhất, nó phải là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân. Sáu chữ đó là sáu chữ vàng bởi nó trở thành nền tảng, cội nguồn, nguyên tắc bao trùm mọi nguyên tắc trong suốt quá trình soạn thảo Hiến pháp. Nếu ai đó chịu đọc bất cứ quyển sách vỡ lòng nào về Hiến pháp Mỹ thì cũng có thể bò lăn ra cười với lập luận ngô nghê của ông. James Madison, kiến trúc sư trưởng của Hiến Pháp liên bang Mỹ (ngoài Hiến pháp Liên Bang thì các tiểu bang cũng có Hiến pháp riêng), chính là người được ông nhắc tới ở đoạn tiếp theo, đã nhấn mạnh trong những cuộc tranh luận tại Cơ quan lập hiến 1787 rằng toàn bộ hệ thống phải được thiết kế để “bảo vệ thiểu số những người giàu có khỏi đa số (dân chúng)”, đó là mục đích của chính phủ.(1) Nếu ông Hà Văn Thịnh muốn biết cái nguyên tắc được ông hóa vàng (ý lộn: vàng hóa) đó thể hiện như thế nào thì hãy xem tóm tắt các điều kiện bầu cử của các bang ở Hoa Kỳ ngay sau khi có Hiến pháp, hầu hết các bang đều quy định chỉ những người có tài sản hoặc thu nhập ở một mức độ nhất định mới được đi bầu cử (2), tức là nhân dân trong Hiến pháp Mỹ nhắc tới chỉ bao gồm những người giàu có, những người giàu có tối thượng chính là nguyên tắc đầu tiên của Hiến Pháp Mỹ, mà cũng phải nhắc thêm là người da màu, thổ dân và phụ nữ cũng không phải là nhân dân được nhắc tới trong Hiến Pháp Mỹ.

Những người giàu có thời đó là chủ đất, chủ nô hoặc chủ doanh nghiệp đã lựa chọn mô hình nhà nước tam quyền phân lập để loại bỏ một cách có hệ thống những người bình dân và nô lệ vốn chiếm đa số ra khỏi hệ thống quyền lực nhà nước. Chính họ đã áp đặt mô hình đó lên đại bộ phận dân chúng Mỹ chớ không phải là: Không một ai có quyền áp đặt mô hình nhà nước không tương thích với mong muốn và lợi ích của người dân như ông Hà Văn Thịnh ngộ nhận. Nếu ông còn nghi ngờ thì hãy tụng lại 100 lần cái câu của James Madison đã được nêu ở trên.

Cái nguyên tắc vàng mà ông Hà Văn Thịnh nhắc tới về việc sửa đổi Hiến pháp: chỉ khi nào có trên 2/3 thượng nghị sĩ hoặc thống đốc bang yêu cầu thì việc xem xét sửa đổi HP mới được đặt ra đã thể hiện rất rõ điều đó, thượng nghị sĩ là do các nghị viện bang bầu lên, mà các nghị viện bang lại chỉ bao gồm đại diện của tầng lớp giàu có. Như vậy, Hiến pháp Mỹ chỉ được sửa đổi khi bộ phận chóp bu trong tầng lớp giàu có muốn, đa số người dân chẳng thể làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình ngay cả khi họ có vận động được một vài đại diện của những người giàu có.

Ông Hà Văn Thịnh tiếp tục đưa ra một điều khẳng định không cần chứng minh rằng: Xu hướng lạm quyền và lộng quyền là thuộc tính tất nhiên của con người, vì thế, phải thiết lập cơ chế sao cho đủ khả năng để ngăn chặn mọi ý đồ lạm quyền đó. Từ trước đến nay chưa có bất cứ ngành khoa học nào chứng minh được thuộc tính tất nhiên của con người là gì, nếu làm được có lẽ ông nên thử chứng minh việc nói láo là thuộc tính tất nhiên của con người xem sao. Thẩm phán tòa án được giữ quyền trọn đời nên dẫn đến việc: tòa án sẽ không phải chịu bất kỳ áp lực nào từ phía chính quyền hoặc cử tri ; là chuyện hoàn toàn tào lao vì chức vụ đó phụ thuộc vào chính quyền, ví dụ thẩm phán tòa án tối cao do thượng viện phê chuẩn và tổng thống bổ nhiệm, thứ hai nữa là nếu ông ta cứng đầu cứng cổ thì lại có giải pháp khác, ví dụ như luật Mỹ lại tình cờ cho phép người ta lựa chọn tòa án để khởi kiện đối với các tòa khu vực tức là một ông tòa khu vực không biết điều sẽ suốt đời phải xử những vụ kiện gà kiện chó. Một quan tòa mẫu mực sẽ phải tuyên bố như Roger Taney trong vụ Scott kiện Stanford vào năm 1857 rằng người da đen như Scott không phải là công dân thuộc phạm vi của Hiến pháp Mỹ vì tại thời điểm hình thành Hiến pháp thì người da đen được “coi là tầng lớp thấp kém và hèn mọn” và không thuộc phạm vi “mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng” (3)

Ông Hà Văn Thịnh tiếp tục bài ca mùi mẫn mà không cần suy nghĩ : Các tiểu bang lớn luôn có xu hướng chèn ép các tiểu bang nhỏ hơn, vì thế, cơ chế tổ chức nhà nước phải hạn chế đến mức thấp nhất sự chèn ép nàyĐây là lý do để các tiểu bang dù lớn hay nhỏ đều có hai thượng nghị sĩ trong thượng viện. Các tiểu bang nhỏ không thể bị chèn ép thì họ cũng chẳng thể có lợi thế nào trước các bang lớn, nhưng cái kỹ thuật tinh vi này nhằm một mục đích khác cao hơn ông tưởng tượng nhiều. Mỗi người dân chỉ sống tại một bang, nếu may mắn họ chỉ có hai thượng nghị sĩ xem xét đến quyền lợi. Còn các công ty lớn, tình cờ nó lại có mặt ở nhiều bang một lúc, như vậy lợi ích của các công ty lớn khi đưa ra thượng viện sẽ được ưu tiên cao hơn của dân thường bởi vì được nhiều thượng nghị sĩ của các bang khác nhau quan tâm đến.

Ông Hà Văn Thịnh có lẽ cũng xem qua những kiến thức cơ bản về Hiến pháp Liên bang Mỹ, nhưng mục tiêu của ông chỉ là trích dẫn một cách bừa bãi để minh họa cho sự chọc ngoáy của mình đối với ai đó chớ không thực sự tìm hiểu một cách đến đầu đến đũa, điều đó hoàn toàn được phơi bày một cách thảm hại. Ông kết luận: Không phải ngẫu nhiên mà Lời Tuyên thệ của Tổng thống Mỹ chỉ có một ý ngắn gọn là BẢO VỆ HIẾN PHÁP. Một khi HP được soạn thảo hoàn chỉnh thì mọi cố gắng của công dân – kể cả TT, chỉ duy nhất một vấn đề là bảo vệ để thực thi đúng như HP đặt ra, không cần bất kỳ một sự thêm, bớt nào bởi những thêm hay bớt đó đều làm vẩn đục HP! Nghe thì rất xuôi tai nhưng ông không hề biết rằng các tổng thống Mỹ có một kỷ lục về việc vi phạm Hiến pháp. Thomas Jefferson đã chống lại Đạo luật  chống nổi loạn năm 1798 bằng cách tha bổng các bị can bị kết án bởi đạo luật đó. Abraham Lincoln đã phản đối phán quyết của tòa án trong vụ Scott kiện Stanford (4). G.W.Bush đã lập kỷ lục về việc vi phạm Hiến pháp với việc bắt giam công dân Mỹ, công dân nước ngoài ở nước ngoài đem giam giữ ở Vịnh Guantanamo mà không thông qua tòa án, thậm chí còn đòi tra tấn họ để thu thập tin tức (5). Người Mỹ đã phàn nàn rằng Bush không phải là tổng thống hợp hiến vì ông ta đã không tuyên thệ theo Hiến pháp (6).

Nếu ông Hà Văn Thịnh muốn dùng Hiến pháp Mỹ để lưu ý rằng Hiến pháp của một nước nào đó cần phải tuân thủ theo những chuẩn mực đã được ông hóa vàng, ấy lại nhầm, vàng hóa ấy thì trước hết ông cần phải hiểu rõ nó đã, không thì đừng viết lung tung chỉ tổ làm trò cười cho thiên hạ mà thôi!

Nguồn của các trích dẫn:

 

(1): Noam Chomsky – “Nhận diện quyền lực”; Hoàng Văn Vân dịch / Đinh Hoàng Thắng hiệu đính; NXB Tri Thức 2012, trang 452

 

(2): Alexis de Tocqueville – “Nền dân trị Mỹ”; Phạm Toàn dịch / Bùi Văn Nam Sơn hiệu đính; NXB Tri Thức 2006 tái bản lần thứ nhất, trang 135

 

(3): Jay M. Feinman – “Luật 101 Mọi điều bạn cần biết về Pháp luật Hoa Kỳ”; Nguyễn Hồng Tâm, Trần Quang Hồng, Nguyễn Thị Thanh dịch / GS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao hiệu đính; NXB Hồng Đức 2012, trang 39

 

(4): Jay M. Feinman – “Luật 101 Mọi điều bạn cần biết về Pháp luật Hoa Kỳ”; Nguyễn Hồng Tâm, Trần Quang Hồng, Nguyễn Thị Thanh dịch / GS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao hiệu đính; NXB Hồng Đức 2012, trang 59

 

(5) Jay M. Feinman – “Luật 101 Mọi điều bạn cần biết về Pháp luật Hoa Kỳ”; Nguyễn Hồng Tâm, Trần Quang Hồng, Nguyễn Thị Thanh dịch / GS. Nguyễn Đăng Dung, TS. Vũ Công Giao hiệu đính; NXB Hồng Đức 2012, trang 77

 (6): Noam Chomsky – “Nhận diện quyền lực”; Hoàng Văn Vân dịch / Đinh Hoàng Thắng hiệu đính; NXB Tri Thức 2012, trang 90

 PS: Tình cờ làm sao 2 trong số 3 cuốn sách được trích dẫn lại rất có liên quan tới những người đứng đằng sau trang Bô Shit, thế mới biết làm sách là một chuyện còn thực sự đọc và hiểu nó hay không là chuyện khác.

 Blog Nỡm (TTHN 22.2.2013)

——————————————-

 

Bài này đã được đăng trong Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s