CHÂN DUNG “NOBEL THƠ” VIỆT NAM

Một người chưa từng làm thơ, tự nhận mình chỉ làm khoa học, nhưng chỉ sau một đêm đã sáng tác ra  làm 121 bài thơ, gọi là thơ “Thiền”. Các nhà văn, nhà thơ cùng các báo đài tốn nhiều giấy mực đề cập đến thơ  của ông .Thậm chí Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn VN) còn tổ chức cả một cuộc Đại hội thảo về ”hiện tượng thơ” của ông cùng các cơ quan khác của nhà nước  gửi 2 tập thơ đi dự giải Nobel Văn học !!! Đó là  Ông Hoàng Quang Thuận .Chân dung nhà thơ “vĩ đại” này như thế nào? Chúng ta cùng xem lại một số bài viết về ông là thấy rõ.

SƠ LƯỢC CUỘC ĐỜI

Theo Wikipedia : Hoàng Quang Thuận sinh năm 1953, quê Quảng Bình, là tiến sỹ, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông – Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, hiện sống và làm việc tại TP.HCM. Đề tài tiến sỹ của ông về máy châm cứu điện từ. Ông trước là giáo viên dạy bổ túc văn hóa môn Vật lý tại Đà Nẵng..

Hoàng Quang Thuận từng là cố vấn đối ngoại của Tăng Minh Phụng cho đến khi Tăng Minh Phụng bị ra tòa

Theo ông, từ trước 1997, ông chưa bao giờ biết làm thơ về Phật giáo nhưng duyên nghiệp thơ ca đã đến với ông khi lần đầu tới thăm non thiêng Yên tử. Cũng theo ông, cả 3 tập thơ Thi Vân Yên Tử, Ngọa Vân Yên Tử và Hoa Lư Thi Tập đều được viết trong thời gian rất ngắn, được in và tái bản 4 lần bằng tiếng Việt và 3 ngôn ngữ Việt -Anh – Pháp nhưng chủ yếu chỉ để dành tặng khách hành hương ….

HOÀNG QUANG THUẬN: Thơ Thiền dự giải Nobel

Thứ hai 06/08/2012 07:11

ANTĐ – GS.TS Hoàng Quang Thuận, Viện trưởng Viện Công nghệ viễn thông lâu nay nổi tiếng trong giới văn thơ bởi cả 2 tập thơ của ông đều rất đồ sộ được gửi tham dự giải Nobel Văn học. Những bài thơ Thiền của ông thường ra đời theo cách rất… bí ẩn.

  
Tác giả Hoàng Quang Thuận nhận Kỷ lục châu Á cho tập thơ “Thi vân Yên Tử”

 

Một đêm viết 121 bài thơ

Câu chuyện Hoàng Quang Thuận, một đêm làm 121 bài thơ đã được nhà thơ Dương Kỳ Anh kể lại trong một số bài báo. Đó là năm 2010, khi nhà thơ Dương Kỳ Anh và Hoàng Quang Thuận cùng có chuyến đi “cầu thơ” tại khu du lịch tâm linh Tràng An – Bái Đính. Sau khi làm lễ tại đền Trần ở Tràng An, Dương Kỳ Anh và Hoàng Quang Thuận ở lại qua đêm trong khu nhà lầu hình bán nguyệt, mỗi người một phòng. Hai người ký chéo những tờ giấy A4 và trao đổi cho nhau. Hoàng Quang Thuận nhận 141 tờ có chữ ký của Dương Kỳ Anh và ngược lại. Đến 12h đêm, mọi thứ vẫn yên bình không động tĩnh gì. Đến nửa khuya, Hoàng Quang Thuận thấy lành lạnh, ông lấy một tấm chăn choàng lên người và ngồi vào bàn viết. Và cứ thế, những câu thơ tuôn trào trong trạng thái vô thức.

Khi Hoàng Quang Thuận giật mình choàng tỉnh thì thấy đã 4h sáng. Nhìn trên mặt bàn, ông thấy la liệt những tờ giấy mình vừa viết, thu lại đếm thấy tất cả 121 bài thơ. Chính ông cũng ngỡ ngàng không tin được điều kỳ lạ vừa xảy ra. Sáng ra, hai người bạn thơ gặp lại và hỏi về tình hình thơ phú đêm qua, tổng kết lại Hoàng Quang Thuận làm được 121 bài, Dương Kỳ Anh làm được… 4 câu. Dương Kỳ Anh vô cùng khâm phục và kinh ngạc trước sự lạ diễn ra đêm hôm đó. 121 bài thơ đó sau này được Hoàng Quang Thuận in thành “Hoa Lư thi tập”. Tập thơ đã được làm độc bản nặng 54kg và trưng bày tại Hoàng thành Thăng Long dịp kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội, sau đó tác giả quyết định tặng cho thành phố Hà Nội.

Không chỉ nổi tiếng với “Hoa Lư thi tập”, hơn chục năm trước đó, năm 1997, trong một lần đến Yên Tử, Hoàng Quang Thuận cũng đã có cơ duyên với vùng non thiêng này. Theo như ông kể lại, ngày 24-11-1997, khi cùng đoàn phật tử miền Nam ra viếng Yên Tử, trên đường lên núi, đến chùa Hoa Yên ông gặp một người đàn ông địa phương đang rao bán một con rắn, điều đặc biệt là trên đầu vị hổ chúa có mào đỏ. Hoàng Quang Thuận đã mua con rắn và phóng sinh. Sư thầy Huệ Giác cùng đi trong đoàn đã gọi chú rắn là “Kim Xà”. Khi được thả, “Kim Xà” đã ngỏng cao đầu gật 3 lần như cảm ơn trước khi bò vào rừng. Từ Yên Tử trở về, chỉ trong 3 đêm ông đã làm được tập thơ “Ngọa vân Yên Tử”, sau này bổ sung và tái bản thành tập “Thi vân Yên Tử” với 143 bài. Tập thơ cũng đã được làm độc bản, nặng 120kg và được tổ chức Kỷ lục châu Á trao giải.

Thơ Thiền dự giải Nobel 

Nhiều nhà phê bình văn học định danh thơ Hoàng Quang Thuận là thơ Thiền. Cho đến nay, có nhiều câu chuyện đồn thổi xung quanh những bài thơ của ông, chẳng hạn như việc một số địa danh xuất hiện trong thơ Hoàng Quang Thuận ở Yên Tử và Tràng An sau đó các nhà sử học mới tìm lại trên thực địa, có những địa danh đến dân bản địa cũng không rõ, và ngay chính Hoàng Quang Thuận cũng chưa một lần biết đến, dù chính ông đã đưa chúng vào thơ. Bản thân ông thì luôn lên tiếng phủ nhận nếu như có ai đó gọi mình là tác giả của những vần thơ ký tên Hoàng Quang Thuận. Ông giải thích, đó là do “tiền nhân mượn bút tôi, sai khiến tôi chép ra, tôi không dám nhận là tác giả”.

Tập “Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận đã được dịch ra tiếng Anh và tiếng Pháp bởi một số dịch giả như Nguyễn Đình Tuyến, Hoàng Hữu Đản, Thái Bá Tân. Gần đây Giáo sư người Mỹ David đã xin phép tác giả được sử dụng thơ trong tập “Thi vân Yên Tử” để dạy trong trường Đại học Mỹ.

Một điều khá đặc biệt từng gây nhiều tranh cãi, đó là, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận đều đã được gửi đi Thụy Điển tham dự giải Nobel Văn học. Nhưng đơn vị đề cử là Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử và Khu du lịch tâm linh Tràng An – Bái Đính chứ không phải là tác giả. Ông bảo, tôi không dám giữ lại gì cả, các tập thơ độc bản cũng đều được hiến tặng, nhận kỷ lục thì đó cũng là kỷ lục của Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử, nếu được giải Nobel thì cũng thuộc về Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử.

Lý giải về những giây phút xuất thần với thi ca, Hoàng Quang Thuận cho rằng đó là hiện tượng lên đồng thơ, nhập đồng thơ mà ông không phải là trường hợp duy nhất trên thế giới. Trong những giây phút xuất thần ấy, người làm thơ gần như trong trạng thái vô thức, người của hiện tại sống trên nền quá khứ, và người của quá khứ hiện hữu trong hiện tại.

Khi được hỏi, “liệu Thần Phật còn tiếp tục mượn bút ông dưới những vần thơ”, Hoàng Quang Thuận cho biết điều đó không thể nói trước, bởi chỉ trong những thời khắc lịch sử đặc biệt mới có sự linh ứng, chẳng hạn đúng dịp 700 năm vua Trần về Yên Tử thì mới có những bài thơ trong tập “Thi vân Yên Tử”; đúng dịp 1000 năm Thăng Long mới có “Hoa Lư thi tập”. Dù đã là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam nhưng GS.TS Hoàng Quang Thuận chưa bao giờ nhận mình là nhà thơ. “Tôi là một nhà khoa học”, đó là câu cửa miệng của ông với bạn bè thi hữu.

Nguyễn Xuân Thủy 

CHÂN TƯỚNG HOÀNG QUANG THUẬN….Tác giả: Đà Nhân

Ngạc nhiên, ồn ào và giận dữ
Suốt mấy tuần qua giới văn nghệ sĩ, báo chí và những người có lương tri trong và ngoài nước hết sức ngạc nhiên về việc hội nhà văn Việt Nam đứng ra tổ chức một cách rùm beng ồn ào, bốc thơm, đánh mất sĩ diện, đánh mất bản ngã dẫn tới phẫn nộ trong dư luận, đỉnh cao của nó là sự giận dữ và uất ức bởi thói kệch cỡm hợm hĩnh vô liêm sỉ của một cái gọi là “nhà thơ” hoang tưởng, bệnh hoạn; cộng thêm sự vô trách nhiệm đánh mất mình của những người có trách nhiệm ở Hội Nhà Văn Việt Nam.
Chân dung của HOÀNG QUANG THUẬN
Để trở thành một nhà thơ, một nhà văn – bất kỳ tác giả nào cũng có thi nghiệp và văn nghiệp. Tức là, hoặc phải có năng khiếu bẩm sinh (thần đồng), phải được dung dưỡng trung một không gian, trong một môi trường thích hợp với thi nghiệp, văn nghiệp. “Văn học là Nhân học”(Mác-xim Góc-ki). Văn học là khoa học về con người, về nhân phẩm con người. Một người biết viết văn, biết làm thơ theo nghĩa đích thực – chưa cần tìm hiểu nhiều người ta có thể khẳng định rằng đó là một con người nhân văn, một người có tâm. Tựu trung đó phải là con người hội đủ trí tuệ chữ nghĩa đạo đức và thực sự đó phải là một con người chân chính.
Vậy, “nhà thơ” Hoàng Quang Thuận – được tiền nhân mượn bút là ai?
Hoàng Quang Thuận tên thật là HUỲNH QUANG THUẬN, sinh trưởng trong một gia đình GIÁO DÂN THIÊN CHÚA GIÁO TOÀN TÒNG. Tốt nghiệp cấp 3 Đồng Hới – Quảng Bình sau đó vào học tại khoa Lý trường Đại Học Sư Phạm Vinh (trong thời gian này có đi bộ đội 4 tháng, sau vì lý do “sức khỏe” nên trở lại tiếp tục học tập). Năm 1976 ra trường được phân công công tác vào tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cùng vợ là Nguyễn Thị Thanh. Người vợ được sở Giáo Dục tỉnh QN-ĐN điều động về dạy tại trường cấp 3 Phan Chu Trinh – Đà Nẵng, riêng Hoàng Quang Thuận được điều động lên huyện Giằng, miền tây Quảng Nam. Vì ngại gian khổ Thuận không chấp hành quyết định mà ở lại thành phố Đà Nẵng. Do nhu cầu của các lớp học bổ túc ban đêm nên Thuận được tham gia dạy bổ túc văn hóa trong thời kỳ này. Một người bạn cùng lớp với Thuận kể rằng: trong thời gian 7 năm dạy bổ túc văn hóa, Thuận ít khi giảng dạy về nội dung mà thông thường hoặc đến trễ hoặc chỉ đến để ra bài kiểm tra mà nội dung trong suốt  6 7 năm đấy chỉ duy nhất một đề bài toán Vật lý đó là: “Tính gia tốc trọng trường của một viên đạn bắn từ điểm A đến điểm B theo hình cầu vồng…”.
Phải nói thời kỳ đó cuộc sống hết sức khó khăn, không được biên chế chính thức trong cơ quan Nhà nước, do vậy Thuận phải bươn chải, chạy mánh để mưu sinh. Thay vì trong cái khó ló cái khôn, thì Thuận lại ló cái láu cá mà không bất kỳ ai có thể có được: ở những lớp bổ túc văn hóa thời kỳ đó hầu hết là những vị chức sắc đầu sở, đầu ngành và kể cả đầu tỉnh QN-ĐN. Nhờ vậy lợi dụng quan hệ giữa giáo viên và học trò, Thuận đã kết nối được một số quan hệ với các vị lãnh đạo. Để rồi Thuận đã chạy chọt xin địa phương cấp cho vợ chồng mình một căn nhà tại số 36 Trần Quốc Toản (đối diện chợ Hàn), Đà Nẵng. Còn ông bà cụ thân sinh của Thuận chuyển từ Quảng Bình vào Giáo xứ Thanh Bồ Đức Lợi (nay là phường Thanh Hải quận Hải Châu, tp.Đà Nẵng) cư ngụ cùng với em út của Thuận là Huỳnh Trọng Quang. Sau đó Thuận mở một tiệm sửa chữa Ra-đi-ô và Ti-vi với tên gọi là Vi Tuyến. Tại tiệm này Thuận có 2 người cộng sự tên là Tuấn và Cường, Tuấn và Cường mày mò lắp ráp các mảnh Tran-si-to và các linh kiện của Ra-đi-ô mô phỏng theo cái máy điện châm của bệnh viện Quân đội Quân Khu V. Thấy vậy Huỳnh Quang Thuận nhân một lần nói chuyện với mấy vị bác sĩ lưu dung của bệnh viện C Đà Nẵng (những vị này có ý tưởng về đề tài máy điện châm nhưng chưa có điều kiện cống hiến cho chế độ mới và đang trong điều kiện sống gấp để chuẩn bị đi xuất cảnh), Thuận bỏ ra 0,5 chỉ vàng 24K trả cho 2 vị bác sĩ để mua cái đề tài “Châm cứ gây tê” đang dang dở để rồi dùng đề tài bằng văn bản này xào xáo cùng với y cụ trực quan là cái máy Châm Tê mô phỏng của Quân Y Viện Quân Khu V của 2 anh thợ điện nói trên thành đề tài “Phó Tiến Sĩ Vật Lý Y Sinh” sau này. Cũng phải nói rằng, “nghề chơi cũng lắm công phu” để đăng ký làm nghiên cứu sinh thời kỳ đó không phải đơn giản chút nào. Bên cạnh đó, là một giáo viên bổ túc văn hóa tự do, không biên chế, không ai quản lý thì việc này quả là nan giải. Để làm việc này Thuận đã kì công xây dựng các mối quan hệ cụ thể như sau:

–  Năm 1985 phó chủ tịch Hội đồng bộ trưởng Võ Nguyên Giáp vào thăm Đà Nẵng, sau khi đến thăm Công ty liên hiệp xuất nhập khẩu tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng (COTIMEX), phó CTHĐBT đến dự lễ khánh thành nhà hát Trưng Vương (do Kiến Trúc Sư – Đặng Việt Nga thiết kế). Tại đây thể theo yêu cầu của lãnh đạo tỉnh, phó CTHĐBT đã cùng chụp ảnh với cán bộ, đồng bào QN-ĐN. Trong số các phóng viên và nhiếp ảnh đó có nhiếp ảnh gia Công Điền (Thông tấn xã Việt Nam). Thấy nhiếp ảnh gia Công Điền đeo bộ đồ tác nghiệp rất chuyên nghiệp (ống kính Tê-lê) Hoàng Quang Thuận đã com-măng với Nhiếp ảnh gia Công Điền, sau đó bức ảnh “”Đại tướng Võ Nguyên Giáp và Thuận” được phóng to treo chính giữa ngôi nhà của Thuận và đây cũng là tiền đề của Thuận làm các bước tiếp theo.
– Lại nói về cái đề tài Vật lý Y sinh nêu trên, Thuận đã dùng bức ảnh chụp chung với Đại tướng Võ Nguyên Giáp để làm quen Giáo sư Nguyễn Văn Hiệu (Viện trưởng viện Vật lý Việt Nam – Viện sĩ viện hàn lâm khoa học Đúp-Na Liên Xô). Đồng thời cũng từ bức ảnh chụp với Đại tướng, Hoàng Quang Thuận đã làm quen Giáo Sư – Tiến sĩ Lê Xuân Tú  (Viện trưởng viện Sinh Học – viện Khoa Học Việt Nam) để rồi sau đó hai vị Giáo sư đầu ngành của hai viện, một vị là Giáo sư hướng dẫn đề tài, còn một vị là Giáo sư phản biện đề tài, sau đó, qua mối quan hệ với Tổng biên tập Báo Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Trà, Thuận đã cho đăng lên trang nhất bài báo rất hoành tráng với nhan đề “Hướng đi mới trong công tác nghiên cứu Khoa Học của đội ngũ Giáo viện Phổ thông trung học”(Bài báo này không biết tác giả nào nhưng nội dung cũng kệch cỡm không kém gì các bài viết của các vị tung hô trong hội thảo …”Non thiên Yên Tử” vừa qua). Phải nói rõ rằng vừa qua từ điển mở Wikipedia có thông tin cho rằng “Hoàng Quang Thuận tu nghiệp ở Đúp-na Liên Xô”… vv!!!??? Người viết bài này khẳng định một điều chắc chắn rằng Hoàng Quang Thuận chưa bao giờ học ở Đúp-na mà chỉ đi theo đoàn viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu sang tham quan Đúp-na đúng 15 ngày không hơn không kém!
– Nhiều mánh lới của Thuận trong cuộc sống khó ai tưởng tượng được. Tỉ như: vào những năm 85 để tiếp cận và lợi dụng Bí  thư Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Minh Thắng, Thuận đã tự ý đổi tên khai sinh của cha mẹ đặt ra là Huỳnh Quang Thuận thành cái tên mới là Hoàng Quang Thuận (không có một quyết định nào của cơ quan pháp luật trong việc đổi họ này). Thành ra, em ruột của Thuận là Huỳnh Trọng Quang còn Thuận lại là Hoàng Quang Thuận. Hồi đó khi tham gia lớp tiếng Pháp ban đêm, vị lớp trưởng là bạn học với Thuận thời cấp 3 rất ngạc nhiên: thằng Huỳnh Quang Thuận lớp mình ngày xưa sao giờ này vào lớp học tiếng Pháp này lại là Hoàng Quang Thuận? Chưa hết, ngay sau khi dự khai giảng đêm đầu tiên tại câu lạc bộ Phờ-răng-cô-phôn, vị giáo viên người Pháp tên là Giô-e (cháu rể ngoại của cụ Phan Chu Trinh) thông báo lại rằng đầu buổi học có 50 học viên, cuối buổi học chỉ còn 40 học viên. Riêng học viên Hoàng Quang Thuận đã cúp cua sau 30 phút mở màn lớp học. Cũng từ hôm đó trở đi, cả giáo viên và học viên lớp học ấy không ai thấy bóng dáng Thuận đâu nữa. Nhưng nực cười, vài hôm sau đấy, đi đâu, gặp ai Thuận cũng oang oang là đang dạy tiếng Pháp cho anh Hoàng Minh Thắng Bí thư tỉnh ủy (!). Hoàng Minh Lân con trai Bí thư Hoàng Minh Thắng rất bực mình mỗi khi Hoàng Quang Thuận xuất hiện bởi cách ăn nói vừa hợm hĩnh vừa quê mùa vừa bô bô của Hoàng Quang Thuận. Có người hỏi: “sao ông lại khó chịu với gia sư của bố mình vậy?”. Hoàng Minh Lân trả lời: “thằng khỉ này nó ba hoa chích chòe chứ có biết ngoại ngữ gì đâu! Nó khoe nó biết tiếng Nga tiếng Pháp, tao hỏi mấy câu tiếng Nga (Hoàng Minh Lân tốt nghiệp đại học Hàng hải Ô-đét-sa) mặt nó tái mét.”. Lại hỏi: “Nhưng mà nó dạy tiếng Pháp cho ông cụ nhà mày?” Hoàng Minh Lân phá lên cười: “Đù má thằng ba xạo, chắc hôm đầu tiên bị tao hỏi tiếng Nga nó sượng. Khi nó về, tao thấy nó viết bảng chữ cái tiếng Pháp cho ông cụ. Vài bữa sau thấy nó dẫn tới giới thiện một ông giáo tiếng Pháp. Ông này đúng là giáo viên tiếng Pháp thật”. Mỗi lần kể về cái vụ dạy tiếng Pháp cho ông Hoàng Minh Thắng cả mấy chàng con trai của cụ đều cười ngặt nghẽo. Hoàng Minh Giáo (Đại tá an ninh con trai cụ Thắng) mà rằng: “cái thằng Thuận bán trời không văn tự, chúng mày mà nghe thằng Thuận thì bán thóc giống mà ăn. Nó đến nịnh ông già thì kệ cha nó. Nó là dân chạy mánh chấp làm gì”. Cùng thời với Bí thư Hoàng Minh Thắng , có Chủ tịch Phạm Đức Nam cũng là một vị lãnh đạo có uy tín. Thuận cũng thường lân la đến nhà của cụ. Anh con trai của Chủ tịch Phạm Đức Nam cũng tên là Nam (còn gọi là Nam con, Nam sun-sang, hiện đang làm ở đài không lưu sân bay Đà Nẵng). Anh chàng này cũng rất khí khái đã từng đuổi Thuận ra khỏi nhà không dưới hai lần vì cái thói hợm hĩnh kệch cỡm của y.
Nhưng rồi cứ vậy các đời Bí thư, chủ tịch sau đó y cũng lân la làm quen và sau đó thân luôn. Điển hình là bí thư tỉnh ủy Nguyễn Văn Chi, thân đến nỗi khi Trung tá Hoàng Văn Dựng phó phòng PA17 trình chuyên án “mánh chính trị QT” bị Bí thư Chi gạt bỏ, sau đó chuyên án này cũng chìm vào quên lãng (Hoàng Văn Dựng đại tá nay đã về hưu, còn em trai Hoàng Văn Lên hiện vẫn đang công tác tại Công An Đà Nẵng. Cả hai đều là con trai của vị Giám đốc Công An Quảng-Đà nổi tiếng thời chiến tranh chống Mỹ: Đại tá Hoàng Văn Lai ). Ly kỳ hơn, trước thềm đại hội XIII của tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng, dư luận trong số cán bộ lão thành đồn đại GIẢM CHI, BỚT ĐẠM, HẠ GIÁ THÀNH (Chi: Nguyễn Văn Chi – Bí thư, Đạm: Trần Đình Đạm – Chủ tịch, Thành: Nguyễn Văn Thành – phó Bí thư, Chủ tịch Hội đồng Nhân dân). Thấy vậy Thuận nói với Nguyễn Văn Chi: “Anh Chi ơi! Em phải vào Sài Gòn lập hậu cứ chứ ngoài này nó dập anh tơi bời như thế này, thì em chúng nó cũng không tha!”. Ít lâu sau đó sau khi đã đặt cọc mua được căn nhà của một vị trung tá Hải quân mới được hóa giá ở Gò Vấp, Tp.Hồ Chí Minh. Thuận lân la đưa các mối quan hệ với các vị chức sắc khoe với Tăng Minh Phụng. Tăng Minh Phụng đưa Thuận vào cái ghế Cố Vấn đối ngoại, cấp cho Thuận 5 sim điện thoại di động và 1 chiếc xe hơi cùng các khoản đãi ngộ khác mà thời ở Đà Nẵng Thuận có nằm mơ cũng không thấy. Thuận dẫn Tăng Minh Phụng đi gõ cửa khắp nơi (thời kỳ này Tăng Minh Phụng đang khó khăn về việc thâu tóm quá nhiều bất động sản, nhập quá nhiều phân u-rê (hàng ngàn tấn phân u-rê do Thuận chạy Quơ-ta với cái phí do Thuận đặt ra với giá cắt cổ mà Tăng Minh Phụng phải gánh chịu). Hàng ngàn tấn phân u-rê sau đó cầm cố ở các ngân hàng, đến khi Tăng Minh Phụng lâm trận thì những hàng hóa dạng này coi như trở thành bùn…).
Lại nói về Nguyễn Văn Chi, sau khi thất cử tại đại hội XIII của tỉnh, họa vô đơn chí, vợ ông Chi là Trần Thị Thủy lúc đó là Giám đốc công ty xuất nhập khẩu huyện Hòa Vang bị ra tòa do non về nghiệp vụ ngoại thương… đi đâu gặp ai Thuận cũng bô bô: “ông Chi và bà Thủy không nghe tôi, căn nhà ở cầu Đỏ long mạch tốt, nằm ở vị trí đầu rồng không chịu ở , chuyển về Phạm Hồng Thái làm gì (căn nhà Phạm Hồng Thái do sở nhà đất cấp cho ông Nguyễn Văn Chi), chuyến này thì vợ chồng nhà này toi rồi!?”. Lại nực cười thay, sau khi hóng hớt được tin Trung ương sẽ thành lập cơ quan bảo vệ nội bộ phía Nam, sẽ điều nguyên Bí thư tỉnh Ủy Nguyễn Văn Chi vào làm trưởng ban. Thuận đến nhà Nguyễn Văn Chi và thao thao bất tuyệt: “anh Chi ơi! tối hôm qua em lập đàn chiêm tinh, thấy sao anh vẫn sáng lắm. Anh cố giữ gìn sức khỏe để nay mai còn chiến đấu (!!!???)” thế rồi quả thật nguyên Bí thư tỉnh Ủy QN-ĐN Nguyễn Văn Chi vào làm trưởng ban bảo vệ nội bộ của Trung Ương tại phía Nam và sau đó là Ủy viên Trung Ương, Ủy viên bộ Chính Trị, và là Chủ Nhiệm Ủy ban kiểm tra Trung Ương cho đến khóa X vừa qua…

Lại nói về vai trò cố vấn đặc biệt của Thuận đối với Tăng Minh Phụng, từ những năm 93 đến năm 98, sự cống hiến của Thuận đối với Tăng Minh Phụng như thế nào? Như mọi người đã biết, Tăng Minh Phụng bị bắt, bị kết án tử hình, bị thi hành án tử tại trường bắn quận 9 tp.Hồ Chí Minh. Những nhân vật liên quan đều bị vào tù. Riêng Thuận vẫn nhởn nhơ ngoài vòng Pháp luật. Để rồi lại tiếp tục có những mối quan hệ với rất nhiều vị chức sắc của Trung ương. Mỗi lần gọi điện cho các vị chức sắc cấp cao, Thuận thường bật loa cho những người xung quanh nghe để thể hiện mình. Người viết bài này có một ông bạn kể lại rằng: “một lần Thuận gọi cho Nguyễn Thiện Nhân, bật loa cho mọi người nghe. Đầu dây bên kia lên tiếng: “Kính chào nhà Vua, Hoàng Hậu khỏe không ạ?(!!!???)”. Thuận đắc chí: “Khỏe thế nào được mà khỏe! Từ lúc nhậm chức Phó thủ tướng đến nay chẳng thấy tăm hơi nào cả… À này… nói với thành phố sắp tới gửi một suất 322 nữa nhé(!)”.” Thuận có trong tay nhiều hình ảnh, nhiều DVD của vợ chồng Thuận chụp chung, quay chung với nguyên Tổng bí thư, nguyên Chủ tịch nước vv…
Hóng gió hưởng lợi.

Ngay từ thời ở Đà Nẵng, lợi dụng quan hệ với các vị quan đầu tỉnh, Thuận là người khai sinh ra đủ các món chạy mánh để lấy tiền bo: chạy xin vào các trường học, chạy xin vào nằm nội trú ở bệnh viện C, và mọi mánh khác (bây giờ gọi là cò). Đặc biệt từ ngày tỉnh QN-ĐN mua 3 con tàu để chạy viễn dương: Sông Thu, Đà Nẵng, Tiên Sa thì Thuận lại có cơ hội phất lên như diều. Bằng cách, ai muốn xuống tàu để làm ăn mà thân cô thế cô thì Thuận chạy cửa. Thông qua dịch vụ này Thuận có những món lợi dứt điểm và lâu dài. Dứt điểm là hễ can thiệp cho ai được xuống tàu viễn dương thì Thuận lại có vài 3 cây vàng mỗi người. Lâu dài là những thủy thủ mà Thuận xin giùm (thông thường đều là không có bằng cấp, xuống để nấu cơm phục vụ vv…) thì món lợi lâu dài này được thực hiện như sau: mỗi lần tàu đi nước ngoài Thuận lại tái đầu tư cho những kẻ chịu ơn Thuận bằng cách gửi mỗi người một vài cây vàng, sau đó tổ chức đánh quả (hàng lậu) để kiếm lời gấp vài ba lần.
Sau này vào Sài Gòn làm cố vấn cho Tăng Minh Phụng (nghe đâu cả Nguyễn Văn Kiểm – Huy Hoàng nữa) thì vị cố vấn này đã làm cho ông chủ của mình có kết cục như đã nêu trên.

Về sau và cho đến bây giờ, chiêu hóng gió hưởng lợi của Thuận lại càng tinh vi và bất chấp lương tâm, bất chấp danh dự. Cụ thể là chiêu “cầm đèn chạy trước ô tô”, tức là sau khi hóng hớt biết được những thông tin rò rỉ của cấp trên đối với cấp dưới về vấn đề quy hoạch nhân sự thì y lấy những thông tin này phát tín hiệu cho các đương sự. Những khổ chủ này vì nhiều lý do khác nhau, đều phải cống nạp cho Thuận, hi vọng sự tác động của Thuận vào con đường hoan lộ của mình. Nhưng thực ra Thuận không làm gì cả. Những khổ chủ do đủ năng lực, có uy tín, được sự đồng thuận vv… nếu đắc cử thì cũng phải chịu ơn Thuận trở thành hoặc là bạn bè thân tín, hoặc là tay sai của Thuận, vì đã được Thuận nhá thông tin trước đó – nhưng thực ra Thuận không bao giờ tác động hay nhờ vả! Số còn lại là những nạn nhân ngậm bồ hòn làm ngọt, tiền mất tật mang, con đường hoan lộ vẫn mịt mù, nếu gặp Thuận, Thuận không bao giờ trả lại tiền mà chỉ lỳ mặt ra đưa những lý do mà những vị chức sắc có thẩm quyền quyết định nghe cũng toát mồ hôi.

Mất cảnh giác chính trị nghiêm trọng – Nguy cơ đến an ninh Quốc gia. 
Như trên đã dẫn, suốt cả một thời gian dài Thuận có những mối quan hệ “trên mức tình cảm” với rất nhiều vị chức sắc quan trọng của Chính thể chúng ta nhưng hầu hết các vị lãnh đạo của chúng ta đều mất cảnh giác, không tìm hiểu về lai lịch, tiểu sử, quá trình của nhân vật tai tiếng này. Trong lúc đó việc kết nạp Đảng của chúng ta làm rất chặt chẽ. Việc tuyển vào ngành công an cũng rất đảm bảo nguyên tắc. Việc tuyển dụng công chức đã được luật hóa. Trong lúc việc bảo vệ lãnh tụ của chúng ta cũng theo thông lệ như các Quốc gia khác là có lực lượng cảnh vệ, cận vệ và rất nhiều lực lượng khác. Đặc biệt những người giúp việc cho cán bộ cấp cao, cho các vị Lãnh đạo của chúng ta nguyên tắc phải là Đảng viên và phải được kinh qua thử thách… Trái lại, trường hợp Hoàng Quang Thuận lại không có bác nào để ý, đã vậy còn vô tình tạo điều kiện cho Thuận làm ăn bất chính: mua quan bán chức, cáo mượn oai hùm, mượn đầu heo nấu cháo vv…vv. Dư luận cho rằng sự kiện bắt bầu Kiên mấy hôm nay, Thuận cũng là tác giả và tác phẩm. Nếu bầu Kiên chí thú làm ăn giàu có như lâu nay, không hám danh, không giao du với Thuận để làm ăn phi pháp, thao túng ngân hàng, thao túng thể thao thì đâu đến nông nỗi này? (may ra theo như các Luật gia nghiên cứu thì tội của bầu Kiên cũng chỉ khoảng từ 2 đến 5 năm)… Phạm Nhật Vượng nếu biết những thông tin, quan hệ của Thuận với Tăng Minh Phụng, Thuận với Trần Xuân Đính (công ty VII bộ Xây dựng), Thuận với Hiệu trưởng Đại học Quảng Bình, Thuận với bầu Kiên và Thuận với n các nạn nhân khác (kể cả tổng biên tập thân bại danh liệt báo Quảng Nam – Đà Nẵng Hoàng Trà – người đã giúp Thuận đăng bài trên trang nhất để PR cho Hoàng Quang Thuận về cái gọi là Giáo sư tiến sĩ rỗng tuếch) thì còn đủ thời gian để làm rạng rỡ cho bản thân, gia đình, dòng tộc và cho xã hội.
Không có chuyện Giáo sư Hoàng Quang Thuận
Mọi người đều biết việc phong hàm Phó Giáo sư, Giáo sư ở nước ta mặc dầu vẫn có những vấn đề phải bàn nhưng quy trình xét duyệt của hội đồng phong Phó Giáo sư và Giáo sư của Nhà nước khá chặt chẽ. Cụ thể là phải có bao nhiêu đề án, công trình khoa học, số lượng bao nhiêu bài báo nghiên cứu khoa học được đăng ở các báo tạp chí khoa học trong và ngoài nước, phải tham gia giảng dạy ở các trường đại học, vv và vv… Có thể khẳng định rằng trong hồ sơ và lịch sử phong hàm Phó Giáo sư, Giáo sư của Việt Nam chưa bao giờ có tên Hoàng Quang Thuận!
Vậy thì làm sao Thuận tự nhận và được mọi người quen miệng với tên gọi gắn với học hàm học vị là: Giáo sư Tiến sĩ Hoàng Quang Thuận? Xin trả lời ngay rằng xã hội chúng ta kể ra cũng thật thà đôn hậu. Chỉ nghe thông tin và một bức ảnh của đương sự (Hoàng Quang Thuận) bô bô khoe với mọi người. Tức thì, sau đó báo Tiền Phong (Dương Xuân Nam – tức Dương Kỳ Anh hồi đó làm Tổng Biên Tập) giật tít ở trang nhất (đăng ảnh hẳn hoi gồm Hoàng Quang Thuận và mấy ông mắt xanh mũi lõ): “tiến sĩ Hoàng Quang Thuận được Hội đồng các trường Đại học và Cao đẳng Hoa kỳ (…?) phong hàm Giáo sư Danh dự(…!)”. Chỉ vì cái tít này mà lâu nay Hoàng Quang Thuận tự cho mình là “Gà Sống Thiến Sót” mà mọi người vẫn quen gọi là Giáo sư Tiến sĩ – Viện trưởng.
Xin nói thêm rằng cái gọi là viện trưởng viện Công Nghệ Viễn Thông này nó ra làm sao, xin độc giả cứ liên hệ thẳng với Liên hiệp các viện Khoa Học Việt Nam số 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà nội để biết thêm nhiều câu chuyện buồn cười hơn nữa.

Trở lại với vụ ì xèo ngày mùng 8 tháng 8 vừa qua.
Báo Giáo dục và Thời đại online đã đúc kết: “Sau hội thảo Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử do tạp chí Nhà văn – hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày mùng 8 tháng 8 năm 2012 có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng với những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất thiền. Đại diện cho hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng “thơ anh – Hoàng Quang Thuận là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”(???!!!).
Vì sao ông Hữu Thỉnh chủ tịch hội Nhà văn Việt Nam lại nâng niu, o bế, kính trọng Hoàng Quang Thuận đến mức run rẩy như vậy? Trong nghiệp văn, nghiệp thơ ông Hữu Thỉnh đã một tấc lên giời với ai như vậy chưa? Chuyện đã qua rồi, người viết bài này không muốn dày vò ông Thỉnh làm gì nữa. Chỉ khuyên ông đọc và ngẫm bài viết : “Hoa tàn, mưa tạnh, non yên lặng…” của tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh. Tác giả chỉ tự nhận: “tôi chỉ làm một tu sĩ, có học thiền và dạy thiền…”. Tác giả tâm sự rằng tôi không tu thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, cũng không quen biết các ngài, các sư, ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Thê-ra-va-đa chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm Tam Tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời Trung đại ấy, tôi nghẹn chữ không biết nói sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này thường không với tới! Nó rất khác, nó khác xa với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tình định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng bình phẩm hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính… tuy nhiên, thật may mắn cho Phật giáo chúng ta, cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “can lộ lưu phương” của Hương Vân Đầu Đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức, tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi “hơi quá đà” kia rồi… Người viết bài này xin thưa lại với tác giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh: tác giả là một tu sĩ đã thoát tục, mang tư tưởng từ, bi, hỉ, xả – cho nên mặc dù đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” nhưng tác giả vẫn rộng lượng từ bi mà cho rằng cái trò chơi “hơi quá đà”. Mô Phật! Tôi lại rất tâm đắc với tác giả ở đoạn kết, hi vọng rằng “những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi”. Cái tâm về lợi danh nó lạnh giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi. Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó lạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên… cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng yên tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!”

Thiết nghĩ những lời từ bi nói trên cũng sẽ được so sánh: nếu không phải là tiến sĩ thì tiến sĩ nó cũng tự rụng đi, nếu không phải là giáo sư thì giáo sư cũng tự rơi đi, nếu không phải là viện trưởng thì viện trưởng nó cũng tự mất đi. Nếu không phải là quan chức thì cái hào quang ăn theo quan chức cũng sẽ tự mất đi… Còn nếu không phải công chức viên chức … thì hãy nộp hồ sơ thi viên chức, công chức theo tiêu chuẩn luật định.

Theo Lethiếunhơn.com

HOÀNG QUANG THUẬN & DỰ ÁN NOBEL THƠ (Trương Duy Nhất)

Từ một người không hề biết làm thơ, bỗng dưng được rắn hổ Kim Xà và phượng hoàng nhập hồn, biến thành một nhà thơ với những vần thơ “thiên giáng” dự giải… Nobel!

Cà phê Trúc Lâm Viên, Đà Nẵng. Đang ngồi với Nguyễn Quang Lập và Huy Đức thì một gã đến chào. Người phốp pháp, mày râu nhẵn nhụi áo quần bảnh bao. Trông tướng vừa tựa Mã Giám Sinh, áo vét đen thẳng nếp chỉn chu như một quan chức hàng Bộ trưởng, lại vênh váo bất cần vẻ ta đây của một tay trọc phú thừa tiền ít chữ.

Tôi chưa từng gặp và cũng chẳng nghe cái tên Hoàng Quang Thuận bao giờ. Lão cũng vậy, nghe anh Lập và Huy Đức giới thiệu Trương Duy Nhất mà cứ ngơ ngơ như bò đội nón. Huyên thuyên về tiền và các mối quan hệ từ tầm Hữu Thỉnh, Hữu Ước trở lên.

Khi gã đi rồi, Nguyễn Quang Lập mới tủm tỉm: nhà thơ Hoàng Quang Thuận, ông đã nghe bao giờ chưa? Về bấm google sẽ ra, một nhân vật khá… hay đấy!

Thế rồi sự việc cứ trôi qua khiến quên béng đi. Cái tên Hoàng Quang Thuận quá lạ, không đủ hấp lực để buộc tôi phải gõ google tìm kiếm. Dáng hình phốp pháp nhẵn nhụi mày râu vênh váo bất cần như bao hình mẫu thường nhật cũng vụt qua mau, chẳng để lại ấn tượng gì.

Bất chợt mấy hôm rồi đọc báo thấy thổi ỏm tỏi chuyện một lão nhập đồng làm “dự án” thơ tham gia giải Nobel. Trông khuôn mặt quen quen, cố nhớ mãi, hóa ra là cái lão áo vét chỉn chu nhẵn nhụi mấy tháng trước gặp ở cà phê Trúc Lâm Viên.

Lần này thì không kiềm nổi. Gõ google mới tá hỏa: hóa ra lão này quá… nổi tiếng! Một “hiện tượng văn chương”, những vần thơ “thiên giáng” !!!

Trước khi nhận định về “những vần thơ thiên giáng” và hiện tượng Hoàng Quang Thuận, hãy tìm hiểu xem ông là ai và cơ duyên nào đã khiến ông đến với thơ để trở thành một “hiện tượng văn chương” ứng viên tiềm năng của giải… Nobel?

Sinh năm 1953, quê Quảng Bình, Viện trưởng Viện công nghệ viễn thông – Trung tâm khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia, hiện sống và làm việc tại TP.HCM. Hoàng Quang Thuận cho biết từ trước 1997, ông chưa bao giờ biết làm thơ. Nhưng duyên nghiệp thơ ca đã đến với ông khi lần đầu tới thăm non thiêng Yên Tử.

Khi từ đỉnh chùa Đồng xuống đến chùa Hoa Yên, ông gặp một tay thanh niên người dân tộc đang ngồi rao bán một con rắn hổ chúa có mào đỏ chót nghe nói vừa bắt được tại gốc sứ cổ thụ 700 năm tuổi, sát cạnh mắt rồng của khu lăng mộ tổ vua Trần. Ông Thuận đã mua “ngài” hổ chúa rồi phóng sinh. Con hổ chúa được vị ni sư Huệ Giác đặt tên là Kim Xà. Điều kỳ lạ: ngay khi được thả, Kim Xà bèn ngẩng cao đầu hơn 1m, gật đầu ba lần chào ông Thuận rồi mới trườn vào rừng thiêng Yên Tử.

Từ đó ông như bị thần nhập và bắt đầu biết làm… thơ! Chỉ trong 3 đêm, cứ từ 12 đến 5 giờ sáng, ông viết liền một mạch 63 bài thơ về Yên Tử. Những vẫn thơ “thiên giáng” ấy được in thành tập “Ngọa vân Yên Tử”. Sau này ông cho bổ sung, tái bản thành tập mới là “Thi vân Yên Tử” với 143 bài. Độc bản 143 bài “Thi vân Yên Tử” nặng 120kg sau đó được trao giải “kỷ lục châu Á”.

Một tập thơ khác của Hoàng Quang Thuận cũng đượm chất kỳ bí bởi được khoác vào câu chuyện “tiền nhân mượn bút”.

Trong dịp đại lễ nghìn năm Thăng Long, ông và nhà thơ Dương Kỳ Anh về “cầu thơ” tại khu du lịch tâm linh Tràng An – Bái Đính. Khi thuyền qua đền Trình, ngang cửa hang Địa Linh, hang Tối, hang Sáng, hang Nấu Rượu… thì bỗng thấy hiện lên một con chim phượng hoàng tuyệt đẹp cánh trắng, mỏ vàng bay lướt qua rặng cây ven suối. Lập tức lúc đó người ông như trào dâng một cảm giác rất đặc biệt, như đột nhiên bị lôi chìm vào một không gian trầm mặc, trang nghiêm và kỳ bí của mấy nghìn năm trước.

Sau khi lễ tại đền Trần, Dương Kỳ Anh và Hoàng Quang Thuận ở lại qua đêm mỗi người một phòng trong khu nhà lầu hình bán nguyệt. Hai ông đã cùng nhau làm một cuộc tâm nguyện trước bàn thờ Phật tổ rồi ký tên vào những xấp giấy trắng (khổ A4) để ứng nghiệm thơ thiền (xin thần nhập về để làm… thơ). Hai người ký chéo những tờ giấy trắng và trao đổi cho nhau. Hoàng Quang Thuận nhận 141 tờ có chữ ký của Dương Kỳ Anh và ngược lại. Đến 12h đêm, mọi thứ vẫn yên bình không động tĩnh gì. Khuya, Hoàng Quang Thuận chợt thấy mát lạnh trong người, như có một luồng gió lạ thổi qua. Ông lấy một tấm chăn choàng lên người và ngồi vào bàn viết. Kỳ lạ, như có “tiền nhân” nhập hồn, những câu thơ cứ tự thế tuôn trào, ông ngồi viết liền một mạch trong trạng thái rất vô thức. Khi giật mình choàng tỉnh thì đã 4h sáng. Nhìn trên mặt bàn, ông thấy la liệt những tờ giấy mình vừa viết, thu lại đếm được tất cả 121 bài thơ được viết theo thể tứ tuyệt Đường luật. Chính ông cũng ngỡ ngàng không tin được điều kỳ lạ vừa xảy ra. Trong khi Dương Kỳ Anh chỉ làm được vỏn vẹn… 4 câu.

Thật hư câu chuyện Kim Xà mào đỏ và chim phượng hoàng cánh trắng mỏ vàng ra sao không rõ. Bởi chẳng ai thấy, chỉ nghe ông Thuận kể lại. Nhưng chuyện ông bỗng dưng biết làm thơ, thơ tuôn trào đến hàng trăm bài thì có thật.

Chính Dương Kỳ Anh cũng phải khâm phục và kinh ngạc trước sự “nhập thơ” thần bí kỳ lạ này. 121 bài thơ Đường luật “tiền nhân mượn bút” đó sau này được Hoàng Quang Thuận in thành cuốn “Hoa Lư thi tập”. Độc bản “Hoa Lư thi tập” nặng 54kg được đem trưng bày tại khu vực hoàng thành Thăng Long trong dịp kỷ niệm nghìn năm Thăng Long – Hà Nội.

Nếu độc bản “Thi vân Yên Tử” được trao giải “kỷ lục châu Á”, thì độc bản “Hoa Lư thi tập” (kích thước 109cm x 70cm x 10cm, nặng 54kg) đang được ông Thuận làm hồ sơ đệ trình UNESCO công nhận là… di sản ký ức nhân loại!

Lịch sử văn chương Việt chưa bao giờ có được một “hiện tượng thơ” độc đáo và kỳ bí đến vậy. 3 tập “Thi vân Yên Tử”, “Ngọa vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi Tập” được in và tái bản tới 4 lần với các bản tiếng Việt – Anh – Pháp. Riêng tập “Thi vân Yên Tử” được một vị giáo sư tên David đem về sử dụng để… giảng dạy trong trường đại học ở Mỹ (!?)

Đặc biệt và hoảng hốt hơn: Từ năm 2009, ông Thuận đã cho làm hồ sơ dịch 2 tập “Thi vân Yên Tử” và “Hoa Lư thi Tập” sang tiếng Anh để gửi tham dự giải Nobel văn chương quốc tế. (xem kyluc.coman ninh thủ đôphongdiep.net)

          Nhà thơ Chủ tịch hội nhà văn VN Hữu Thỉnh và nhà thơ “thiên giáng” Hoàng Quang Thuận

Hoàng Quang Thuận với những tập “thơ thần” và “dự án” Nobel của ông đã tạo nên một hiện tượng hiếm hoi có một không hai. Nhiều bàn cãi, chê thì thậm tệ mà khen cũng ngút trời.

Nhà thơ Trần Trương (tạp chí Thơ) cho rằng: “Tác giả bảo trong 4 giờ của một đêm, hình như có “tiền nhân” nhập vào hồn nên ông viết liền 121 bài thơ theo thể tứ tuyệt Đường luật. Tôi nghe xong thấy kinh hãi, và tự hỏi: đây là một thiên tài hay một người tâm thần vì ông đã quyết định gửi tập thơ “Thi vân Yên Tử” đi dự giải Nobel thế giới. Tôi đọc tập “Thi vân Yên Tử” và nghe qua nhiều phát ngôn của bạn đọc và các nhà thơ khác thì tập thơ này là tập thơ tả cảnh một cách trực giác nhưng vô hồn, một tập thơ của người chơi ngông, và chắc chắn là hầu hết các bài làm theo kiểu “Đường luật” thì đều sai luật” (nguồn: báo Thanh Niên)

Nhà phê bình Nguyễn Hòa cũng khá nặng nề: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt, hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật, thì ngay cái việc cố gắng ép vần cũng đã đưa lại ý từ khôi hài…”

Trong khi nhiều nhà phê bình gọi Hoàng Quang Thuận là “dòng thơ thiền”, thì Nguyễn Hòa và Nguyên An gọi đó là loại thơ “vịnh cảnh”. Nguyễn Hòa cảnh báo: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đa, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ sẽ có chất thiền”.

Dù sao, vẫn thấy nhiều người ca bốc hơn chê. Hay tại thiên hạ vẫn quen nếp thấy “bất thường” tí là cười khẩy bỏ đi không thèm dây vào?

Hội nhà văn Việt Nam lại có vẻ như bắt được cái mạch thơ “thiên giáng” của Hoàng Quang Thuận. Chủ tịch hội, ông Hữu Thỉnh đã nhìn nhận thơ Hoàng Quang Thuận là “nghệ thuật cao nhất của thơ ca”. Đề cập tới bài “Am xưa”(Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc/Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm/Tiếng sáo thiền ca vui bất tận/Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”, nhà thơ Hữu Thỉnh nhận xét: “Đây là bài thơ tiêu biểu cho hai bút pháp thiêng liêng hóa và đời thường hóa, nhân vật trong bài thơ này phải là người tu đắc đạo mới lấy trăng thay cho giường chiếu mà không sợ phàm tục, nhìn thấy trong trăng còn nhiều trăng nữa, tức là qua một vật mà nhìn thấy cái vô biên của vạn giới”

Một đại hội thảo về “hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận đã được Hội nhà văn Việt Nam tổ chức một cách kỳ công, như thể là bước chuẩn bị… thành kính làm bệ đỡ cho khát vọng Nobel của ông Thuận.

Cùng với nhà thơ Chủ tịch hội Hữu Thỉnh, rất rất nhiều nhà thơ, nhà nghiên cứu tên tuổi đều hết lời ngợi ca và tỏ ra thích thú với hiện tượng “thần phật linh ứng nhập hồn” biến một lão ông không hề biết làm thơ thành một “nhà thơ” kỳ bí cho nền thơ Việt.

Nhà phê bình Đỗ Ngọc Yên viết “Đối với Hoàng Quang Thuận, không có ma quỷ nào đưa lối dẫn đường cả, mà chỉ có thần, phật phù hộ độ trì từ khi ông phát tâm nguyện làm một đệ tử trung thành nơi cửa thiền, để rồi từ đấy những vần thơ thấm đẫm chất linh nghiệm báo ứng của tiền nhân hiện về”. Nhà phê bình Đặng Hiển lại cho rằng, nét đậm nhất của “Thi vân Yên Tử” là dấu tích của vua phật Trần Nhân Tông trên Yên Tử. Ông cũng nói thêm “nhưng đó là dấu tích trong lòng người, trong lòng thi nhân”. Nhà phê bình trẻ Thế Trung nhận xét, với hơn một trăm bài thơ, Hoàng Quang Thuận đã vẽ ra trước mắt người đọc một quang cảnh tuyệt mỹ của vùng núi mây Yên Tử, đồng thời được tìm về cội rễ của thiền phái Trúc Lâm. Thế Trung nói: “Thi vân Yên Tử” tập hợp những vần thơ vừa thanh tao, tĩnh lặng, vừa huyền diệu, xa vắng, mang nhiều hàm ý sâu xa, lại gần gũi với đời thường dễ dàng thấm sâu vào lòng người”. Đăng Lan lại cảm nhận: “Thi vân Yên Tử” – Bằng tâm hồn nhạy cảm, tứ thơ hiền hòa, thanh thoát, ám ảnh đậm chất biểu trưng nên tạo khởi rất nhanh, biến ảo trong cái thế giới liên tưởng trong tâm hồn người đọc. Nó là tiếng nói của cảnh giới xuất thế biểu hiện sự sâu lắng; nơi đây giáp mặt cả bốn bề tâm sự; lắng nghe, tỏ bày, đốn ngộ…”

Nhiều vị nhắc đến và đánh giá cao những câu thơ “thần” viết về Am Ngọa Vân của Hoàng Quang Thuận có tên “Am xưa” như nhà thơ Hữu Thỉnh, Trần Nhuận Minh, Hữu Việt, nhà phê bình Trần Thị Thanh, Ngô Hương Giang: Sớm cưỡi mây chơi cùng non biếc / Đêm về bến nghỉ lót trăng nằm / Tiếng sáo thiền ca vui bất tận / Ngập tràn Yên Tử trăng trong trăng”.

Còn ông Dương Kỳ Anh, nhà thơ, cựu Tổng Biên tập báo Tiền Phong thì nhận xét đấy là “những câu thơ hay đến lạnh người”. (nguồn: evan. vnexpress.net)

Thậm chí (mô Phật!), nghe nói Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng đã bình thơ của nhà “thiên giáng” Hoàng Quang Thuận rằng “đọc những bài thơ hay đượm gió ngàn cao, thấm nguồn suối núi, những bài thơ của một con người đầy tư tưởng nhân văn”. (nguồn: báo điện tử đảng Cộng sản VN)

Còn tự ông Hoàng Quang Thuận nói về những bài thơ “tiên giáng” của mình thế nào?

Ông bảo “đó là tiền nhân mượn bút tôi viết thơ”. Phản ứng trước nhận xét của một số người cho rằng thơ ông chỉ là thể thơ du ký, loại tức cảnh sinh tình bình thường xuất hiện nhan nhản trong đời sống văn học hiện nay, ông Thuận nói: “Những bài thơ du ký là bài thơ làm về con người thực, địa danh thực do họ nhìn thấy, cảm thấy, còn tôi du ký trong một đêm sương gió, trong một đêm huyền ảo, du ký trong tâm tưởng. Nhiều địa danh xuất hiện trong thơ tôi ở Hoa Lư, Yên Tử sau đó các nhà sử học phải tìm lại, dân ở đó còn chả nhớ, phải tra lại mới ra, có chỗ phải dịch chữ Hán mới ra”.

Sau 2 sự kiện ly kỳ như ông kể, liệu “tiền nhân” có còn tiếp tục nhập hồn “mượn bút” ông viết thơ nữa không?

Ông Thuận bảo “Cái này không nói trước được. Phải có những thời khắc lịch sử nhất định, hòa hợp âm dương nhất định mới ra đời. Ví dụ như dịp tròn 700 năm vua Trần Nhân Tông về Yên Tử thì mới có “Thi vân Yên Tử”, dịp nghìn năm Thăng Long thì mới có “Hoa Lư thi tập”… (nguồn: phongdiep.net)

Thú thật, tôi không thể tin nổi vì sao thơ lại có thể “nhập” được vào một khuôn tạng như ông Thuận. Nhớ lại buổi gặp tình cờ ở cà phê Trúc Lâm Viên, hình dung lại cái khuôn mặt, cách tiếp chuyện khiến cứ phải liên tưởng đến… Đinh La Thăng! Ông Thăng cũng có làm thơ. Thơ ông được phổ nhạc, nhưng không dự Nobel, mặc dù ông Thăng vẫn có một khát vọng… Nobel khác! (xem “Đinh La Thăng và khát vọng Nobel”)

Cái tên Đinh La Thăng giờ nhiều người nghe là sợ. Sợ ổng lâu lâu nổi hứng nảy ra một “sáng kiến” thì dân tình méo mặt. Trước tôi chưa biết chưa nghe đến cái tên Hoàng Quang Thuận. Nhưng giờ đây ra đường, hễ cứ nghe ai nhắc đến Hoàng Quang Thuận là giật thót mình lui người lại.

Không biết bạn đọc đánh giá hiện tượng thơ “thiên giáng” và nhân vật Hoàng Quang Thuận ra sao, chứ tôi hoảng quá. Hoảng còn hơn cả khi nghe ông Hữu Thỉnh tuyên bố tổ chức đại lễ thơ, hoảng hơn cả khi nghe có ông đại biểu quốc hội đòi phải ban hành “luật thơ”, hoảng hơn cả khi nghe ai đó đề xướng ý tưởng đòi UNESCO công nhận Việt Nam là… cường quốc thơ!

Thương thay cái dân tộc của tôi. Một dân tộc mà ai ai cũng làm thơ, toàn dân làm thơ, toàn dân thành nhà thơ. Có lẽ đây chính là một biểu hiện bất thường trong tâm sinh lý và tư duy của người Việt. Vì thế, trong hàng triệu triệu nhà thơ, bỗng hôm nào đó  một vài vị bỗng dưng được rắn-phụng-chuột-mèo-chó-chim nhập hồn, hóa thành thần nhập thiên giáng như “hiện tượng” thơ Hoàng Quang Thuận cũng là điều dễ hiểu.

Chỉ có điều cứ nghe nhắc là phản xạ giật thót mình lui người lại như phải tránh một cái điều gì đó rất vô hình, vớ vẩn, mông lung.     (Theo Trương Duy Nhất –Một góc nhìn khác)

HOA TÀN, MƯA TẠNH, NON YÊN LẶNG

MINH ĐỨC TRIỀU TÂM ẢNH

Hiện tượng thiên tài thơ, siêu việt thơ, thần thánh thơ… của GSTS Hoàng Quang Thuận – Viện trưởng Viện Công nghệ Viễn thông Việt Nam – qua hai tập “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” mà tạp chí Nhà văn Việt Nam vừa tổ chức hội thảo với những bài tụng ca vi vút tận trời xanh, xem như “dòng thơ Thiền non thiêng Yên Tử” và người ta đã gởi đi dự giải Nobel văn học, người ta đã tặng cho đất Phật Yên Tử cuốn sách độc bản với kích thước 125cm x 80cm x 16cm nặng 120 ký đạt kỷ lục châu Á; lại nghe tin hành lang là người còn dự định cho khắc chạm “thơ Thiền này” khắp núi non Yên Tử nữa!

Hiện tượng ấy như là một cái gì cần phải “chau mày suy nghĩ” đối với nền văn học nước nhà, nhất là văn học Phật giáo. Người ta muốn quảng cáo như thế nào, đạt được kỳ vọng gì là quyền của người ta, nhưng ca tụng thái quá hai tập thơ ấy như là “thơ Thiền non thiêng Yên Tử” là một cái gì thiếu nghiêm túc, thiếu cẩn trọng cần phải được báo động:
– Thơ của Hoàng Quang Thuận có phải là “thơ thiền”  hay không?
– Một người Phật tử hay là một người mộ Phật, cảm xúc về Yên Tử có thể làm được “thơ thiền” chăng?
– Thơ “nhập đồng” hay là kiểu mượn bút viện cớ là của tiền nhân có phải là tinh thần Phật giáo không?
– Làm thơ mà “đạo văn” của người khác – dù bạn bè đã gắng gượng đính chính chỉ là “mượn văn” – cái tâm ấy có thể sáng tác ra “thơ thiền” được chăng?

Hỏi, dường như đã có câu trả lời. Một người Phật tử bình thường cũng cảm nhận, cũng ý thức được đấy là chuyện “không thể”. Thế nhưng, tại sao, thiên hạ chẳng thấy đó là chuyện “không thể”, lại làm một trò đùa hơi quá đáng để “tụng ca, tán thán ca” bằng một bè hợp xướng, một giàn đồng ca ”tươi vui xôm trò” như thế?

Cái hiện tượng thơ Thiền ấy tạo nên một cao trào “rôm rả” mà ta có thể tóm lược như sau:
– Hai tập thơ đã được in và tái bản bốn lần bằng tiếng Việt và cùng ba thứ chữ Việt-Pháp-Anh với số lượng in lên đến 25.000 bản. Và người ta đã làm đầy đủ hồ sơ hai tập thơ và dịch ra tiếng Anh gửi tham dự giải Nobel văn học.
– Có một vị giáo sư mê say ngồi dịch nó mặc dù tuổi cao sức yếu vì không thể cưỡng lại “chất Thiền” ở trong đó.
– Có một ngài nguyên Tổng giám đốc đài nghe nhìn, đọc thơ của ông Thuận đã cảm hứng thốt lên bằng một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt tuy không đúng niêm luật, lại tán thơm: “Tôi tưởng theo anh thăm Yên Tử/ Nào ngờ lạc bước chốn thi vân/ Hoàng Quang cửa Phật soi câu chữ/ Thuận dòng rửa sạch chốn bụi trần”.
– Đến nay hiện đã có hàng chục tờ báo ở trung ương và địa phương, từ báo Nhân Dân, Hà Nội mới, Sài Gòn Giải phóng đến các báo Hạ Long, Quảng Ninh, Thể thao – Văn hóa… đều đã có bài đăng tải về “hiện tượng thơ Hoàng Quang Thuận”. Thậm chí có người “cho lên mây xanh” nhưng dựa trên nền thực trạng bát nháo thơ Việt hôm nay: “Giữa thời buổi thơ in ra nhan nhản, chủ yếu xoay quanh đề tài tình yêu hoặc co vào suy tưởng chiêm nghiệm cá nhân, đôi khi rối mù tắc tị… thì  “Thi vân Yên Tử” và “Ngọa Vân Yên Tử” như một áng mây lành, thoát tục, trong trẻo đến lạ lùng dắt người đọc vào chốn Bồng Lai, rũ bỏ bụi trần trở về với bản ngã thiện tâm trong mỗi con người…”
– Tập thơ đã có tiếng vang thật là “quốc tế”, có lẽ do không tiếc công quảng cáo, tiếp thị, “ưu thế quan hệ” và cả cái gì đó khó hiểu nữa – đến đổi Tổng Thống Pháp đã khen ngợi, Tổng Thống Mỹ gởi lời cảm ơn và hoàng cung Thụy Điển đánh giá là cao siêu và sâu sắc!
– Trước sự động viên cổ vũ của “giàn đồng ca”, ông Thuận đã tự mình – hay ai đó xúi giục – gửi hai tập thơ ấy đi tham dự giải Nobel văn học; và có người còn đẩy “giá trị thơ thiền” ấy đi quá xa, rằng là: “Được giải hay không chẳng quan trọng bằng việc hai tập thơ đã là sách gối đầu giường của nhiều bạn đọc hôm nay và mai sau, đặc biệt đối với những ai yêu thích ‘dòng thơ Thiền’ với những trải nghiệm tâm linh cực kỳ thú vị”.

Còn nữa, chúng ta còn có duyên may mắn ngàn năm một thuở được nghe khúc hòa tấu vang vọng lên tận non thiêng Yên Tử, nó động đến, làm giật mình những hồn thơ cổ xưa, cổ kính của sơ tổ Trúc Lâm, tam tổ Huyền Quang và cả Nguyễn Trãi, Nguyễn Trung Ngạn nữa…
Để có thêm tư liệu dẫn chứng, tôi xin trích bài “Thi vân Yên Tử – tác phẩm và dư luận” của GD&TĐ Online đã đúc kết đại lược là: Sau Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với Non thiêng Yên Tử” do Tạp chí Nhà văn – Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức ngày 8/8/2012, có rất đông người yêu thơ phản hồi bày tỏ tình cảm quan tâm, trân trọng những vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mang đậm chất Thiền. Đại diện cho Hội Nhà văn, ông Hữu Thỉnh nói rằng: “Thơ anh – Hoàng Quang Thuận – là một bức tranh tôn giáo trầm mặc mà sống động, thanh khiết mà run rẩy!”
Những ai quan tâm đến nội dung buổi hội thảo mà GD&TĐ đề cập để biết cái “thanh khiết mà run rẩy” của Hữu Thỉnh muốn nói là cái gì – thì có thể đọc bài của ông:  “Một hồn thơ sau những bức tranh tôn giáo”. Tiếp theo, những ai muốn nghe những “vần thơ đẹp lạ, rất thanh khiết mà dung dị mạng đậm chất Thiền” ấy ra sao thì cứ nhờ chú Google dẫn đường để xem thêm một số bài khác:
– Lạc đạo tùy duyên cùng Thi Vân Yên Tử (Đỗ Ngọc Yên). Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử (Hữu Việt). Cảm hứng thiền trong thơ Hoàng Quang Thuận (Ngô Hương Giang). Dấu tích vua Phật Trần Nhân Tông ở Yên Tử trong lòng thi nhân (Đặng Hiến). Vẻ đẹp cõi Phật trong Thi Vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận (Nguyễn Toàn Thắng). Cảm thức tâm linh trong thơ Hoàng Quang Thuận (Dương Kỳ Anh). Thiền vị trong Thi vân  Yên Tử  của Hoàng Quang Thuận (Trần Thị Thanh). Về Yên Tử đọc thơ Hoàng Quang Thuận (Đăng Lan). Cảnh vật trong cảm thức thiền tông (Phạm Quang Trung). Không gian “Thiền” trong Thi vân Yên Tử (TS. Hà Ngọc Hòa). Yên Tử qua thơ Hoàng Quang Thuận (Thu Phong). Chữ tâm trong Thi Vân Yên Tử (Mộc Lan). GS. Hoàng Quang Thuận: “Tiền nhân mượn bút tôi viết thơ ” (Dương Tử Thành). Có một nhà thơ danh sơn Yên Tử (Trần Nhuận Minh). Thi vân Yên Tử của Hoàng Quang Thuận – Một chân dung thơ –  Phật tính hiền truyền (Hoàng Trung Hiếu). Tình yêu đất nước và chất thiền Thi Vân Yên Tử (Thế Trung). Thi vân Yên Tử của tác giả Hoàng Quang Thuận như một hiện tượng văn học (PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn).
Tuy nhiên, có điều đáng mừng là không phải ai cũng chạy theo phong trào ca tụng ấy, quả thật đã có những người đã tỏ vẻ hoài nghi thiên tài thơ thiền ấy, họ đã biết đặt những vấn đề:
– Thi vân Yên Tử “nhập đồng” hay “đạo” thơ? (SGGP Online). Trong đó nhà văn Võ Thị Xuân Hòa: “Hội Nhà văn Việt Nam sẽ làm rõ nghi án ‘đạo’ thơ”. Còn nhà phê bình Nguyễn Hòa: “Liệu nó có đúng là thơ không và có đúng với những gì mà ông Thuận nói là thơ của tiền nhân không, vì theo đánh giá của tôi, đó chỉ là văn bản thơ hạng xoàng!”
– “Thi vân Yên Tử” của Hoàng Quang Thuận có phải là thơ nhập đồng? của luật sư Nguyễn Minh Tâm. Trong đó, người viết đã rất trung thực phân tích và chứng minh rõ, thơ ấy không phải là thơ nhập đồng, cũng không phải tiền nhân mượn bút – mà chính Hoàng Quang Thuận đã lấy ý từ quyển sách “Chùa Yên Tử, lịch sử – truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương để “biên soạn lại thành thơ”.
– “Hiện tượng thơ nhập đồng” hay là trò sao chép, lừa đảo? của Mai An đăng ở báo Dân Việt, trong đó tác giả nói trong ba đêm mà sáng tác 141 (sic) bài thơ và dự giải Nobel phải chăng là “giấc mơ quá cỡ”? Rồi Mai An trích câu nói của nhà thơ Trần Trương, hội Nhà văn VN: “Đây là một hành động lừa đảo…”
– Dấu hiệu đạo văn của “nhà thơ nhập đồng” – tác giả Nguyễn Việt Chiến đăng trong tạp chí Văn học và Ngôn ngữ.
– “Hiện tượng thơ nhập đồng”: Sớm làm rõ “nghi án” đạo văn; và “Ai tiếp tay cho nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận dự giải Nobel” – Lê Tâm thực hiện. Trong đó tác giả bảo có nhiều người muốn biết ai viết giấy giới thiệu? Và nổi bật ý kiến: “Dự giải Nobel là một điều khôi hài”.
– Và mới đây là bài “Cái lưỡi… đa nhân cách và những phát ngôn” của Kỳ Duyên đăng tại Báo Mới.com – trong đó tác giả sau khi phê phán khá nặng nề … và viết lơ lửng “Xấu chàng, hổ… Tạp chí Nhà văn”, đã nói là ông Thuận phải trả giá đắt cho sự nông nổi của mình chỉ vì hai chữ lợi danh tai quái; ông muốn đạt tới “ngộ” nhưng có lẽ tục lụy còn quá nhiều, tham, sân si còn quá lớn nên “ngộ nhận” chăng?

Có lẽ liệt kê như thế cũng tạm đầy đủ.
Đầu tiên, tôi xin góp ý một cách đúng đắn và khách quan rằng, cả hai tập thơ của Hoàng Quang Thuận là loại thờ tả cảnh, tự sự, cổ tích, sử tích, huyền thoại vào loại bình thường. Tôi nói là bình thường – chớ không dám nói thẳng thừng như nhà phê bình Nguyễn Hòa gọi là “hạng xoàng!” Đối với tôi, nếu “được gọi là thơ” thì thơ Quang Thuận chưa phải là “thơ hay” vì nó thiếu “chất thơ”, tức là thiếu vắng ngôn ngữ nghệ thuật và hình tượng nghệ thuật. “Chất thơ” thì nó không nằm nơi ý nghĩa bề mặt câu chữ của văn bản mà nó phải ở ngoài hoặc ở phía sau bề mặt câu chữ của văn bản. Cố gắng đọc vài chục bài thơ của ông, tôi đã thấy chán – vì nó “chẳng có thơ” và dĩ nhiên, đích thực là “chẳng có Thiền”! Tôi thấy đâu đó chỉ là sự lắp ghép ý tứ, câu chữ, lựa dáng, tìm vần… nhưng mà cũng chưa chỉnh, chưa “giỏi”  lắm!  Và ý nghĩa của nó chỉ có một, nó nằm “chết”, nằm “bất động” nơi bề mặt câu chữ của văn bản mà thôi. Ta hãy khảo sát một số bài:

1. “Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nóng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chìm rừng líu lót với hương trời”.

2. “Viên gạch Hoa Cúc đời nhà Trần
Phù điêu sư tử sứ hoa vân
Vẫn ba gốc đại ngày xưa ấy
Bao năm xa cách vẫn thấy gần”.

3.“ Từ bỏ ngôi vua để tu hành
Từ cái nhất thời, cái hữu danh.
Vĩnh hằng vô hạn, vua tìm đến
Yên Tử trường xuân hóa đất lành”.

4. “Vòng cung uốn lượn tựa mình rồng
Vươn mình thế núi hướng biển Đông
Ẩn sâu khúc lượn trong lòng đất
Đầu rồng ngoảnh lại hướng Thăng Long”.

5. “Dựng xây cung điện đế triều nghi.
Định đế xưng vương lập thành trì.
Đại Hoàng cổ Việt Trương Yên phủ.
Hào sâu núi hiểm bất khả tri”

Cả năm bài tứ tuyệt, nếu là tứ tuyệt nghiêm túc thời trung đại thì bài nào ở đây cũng thất niêm luật cả (những chữ gạch đáy, đổi trắc thành bằng, bằng thành trắc mới đúng); và ý nghĩa của nó chẳng khác gì thông tin của một văn bản điện tử, hiểu ngay, nắm bắt được ngay! Đây là loại “văn xuôi có vần!” Rất tầm thường! Mới tập làm thơ cũng làm được. Nếu ai đó nói là có tâm thì đúng vậy, nó chỉ có tâm! Nhưng ngay cái tâm ấy cũng chưa nắm bắt căn bản tư tưởng Phật học khi nói “vĩnh hằng và trường xuân” ở nơi bài 3 – vì “vĩnh hằng” là cõi của nước Chúa, còn “trường xuân” là cảnh giới luyện tinh thành khí để đạt “trường xuân bất lão” của Đạo gia! Còn về thơ tứ tuyêt như trên thì nhà phê bình Nguyên Hòa cười mỉm: “Dù tác giả làm nhiều bài thơ tứ tuyệt hoặc ghép hai bài tứ tuyệt thành một bài thất ngôn bát cú cho có dáng dấp Đường luật thì ngay cái việc cố gắng ép thơ vần cũng đã đưa lại ý tứ khôi hài…”

Đấy là chúng ta khảo sát về cái gọi là thơ thì thơ Quang Thuận chỉ là “văn xuôi có vần!”, chưa phải là thơ thứ thiệt! Còn về cái mà người ta gọi là “thơ Thiền” của Quang Thuận, thì hãy nghe nhà phê bình Nguyên Hòa nhắc nhở: “Xin chớ nghĩ hễ trong bài thơ có hình ảnh chùa chiền, non cao, bóng núi, cây đá, mây trời, trăng treo, tiếng hạc… là bài thơ có chất Thiền! Xin hãy hiểu rành rẽ về Thiền và thơ Thiền rồi hãy viết, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘vẽ rắn thêm chân’!” Nói vậy, rõ là ông Nguyên Hòa đã rất thận trọng “về Thiền và thơ Thiền”. Thận trọng là đúng. Tuy nhiên, nếu là tôi, là một tu sĩ có học Thiền, có tu Thiền và cả dạy Thiền, tôi sẽ mạo muội xin phép viết lại mệnh đề cuối như sau:“Xin hãy tu tập Thiền, chứng nghiệm Thiền, sống Thiền rồi hãy làm thơ Thiền, kẻo lại rơi vào cảnh ngộ ‘đầu thượng trước đầu, tuyết thượng gia sương’! (1)” Vì vậy, hai tập thơ của Quang Thuận viết về Yên Tử mà được mọi người gọi là thơ Thiền thì quả là hơi nóng vội, có cái gì đó thiếu chân xác, cần phải đính chính lại.

Tại sao tôi lại dám nói vậy? Vì thật sự là thơ Thiền thì phải được cảm hứng từ trực giác tâm linh của những Thiền sư đạt ngộ, của những hành giả đã từng miên mật công phu định tuệ (2) trên non cao, động thẳm, trong những tu viện xa vắng, tịch liêu. Các vị ấy đã nhảy qua hố thẳm phạm trù của lý-trí-thức-tri-nhị-nguyên-sai-biệt, đã giải quyết trọn vẹn “tử sinh đại sự”, đã cất tiếng cười lạnh giá cả sao Ngưu, sao Đẩu, đã cởi bỏ tất thảy mọi xiềng xích buộc ràng của bản ngã với những mặt nạ hư dối, đã trang bị cho mình con mắt thứ ba của “tuệ nhãn” nhìn xuyên thủng hư vô bị che chắn dập dờn bởi khói sương mê lầm, vọng huyễn. Cuộc đời các vị ấy là một chân dung mô phạm khả kính. Họ có đời sống giới luật nghiêm túc, có đạo hạnh tôn quý, có tuệ giác khinh linh siêu thoát. Họ sống thiền trong từng hơi thở, từng sát-na nên mới có thẩm quyền về thiền, nói về thiền, mới có thể “thở ra thơ thiền” được. Còn tác giả của những tập thơ Yên Tử này là ai? Một Phật tử hay đơn thuần chỉ là một người mộ Phật? Hoặc chỉ là một người kính yêu non thiêng Yên Tử? Là một con người bình thường có gia đình vợ con? Một cư sĩ trí thức hay một vị quan đang “đại ẩn” tại triều trung? Và nếu gồm tất thảy những con người ấy, với những “hành trạng” như thế thì người ta chỉ có thể làm thơ tức cảnh, tức tình, về tự sự, về cổ tích, về danh thắng hay về huyền thoại… nhưng thơ ấy không thể gọi là thơ thiền! Tôi nghe biết tác giả là một GSTS, một viện trưởng, một nhà khoa học; tuy nhiên, cho dẫu một trí thức uyên bác cũng không thể nào với tới thế giới tâm linh trực giác, là lãnh địa ở ngoài mọi kiến thức và trí năng? Có thể nào trí thức bác học hiện nay trên thế giới ai cũng có thể liễu giác, chứng nghiệm thiền, sống thiền trong một vài sát-na tư duy đốn ngộ và có thể làm được thơ thiền cả thảy? Điều này là bất khả. Điều này là vẽ lông cho rùa, chắp thừng cho thỏ.

Còn nữa. Còn một chuyện nữa. Như người ta nói, và chính tác giả cũng có nói là mình làm trong ba đêm liền tập “Thi vân Yên Tử” gồm 143 bài trong trạng thái như “nhập đồng’, do tiền nhân mượn bút nên khó lý giải được. Đầu tiên, xin được đính chính, là cái kiểu “nhập đồng, mượn bút” kia không phải là tinh thần của nhà Phật chánh tông, nó hơi “tà” rồi đấy! Có người lại suy luận, có lẽ do nhập định sâu mới làm thế được. Xin thưa, “nhập định sâu” (3) thật sự thì phải đóng hết cả sáu căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý); trong trạng thái ấy, hành giả đâu có thể khởi tư duy mà làm thơ được?! Hàng ngàn người tu thiền định thứ thiệt họ biết rõ điều đó; nói chuyên môn một chút là phải xuống “cận hành định” mới khởi “tầm và tứ” tức là khởi ý niệm và suy nghĩ được! Riêng chuyện nhập thần, mượn bút thì có thể có – nhưng “tiền nhân” này là ai? Tiền nhân này sao lại có đọc quyển sách “ Chùa Yên Tử, lịch sử, truyền thuyết, di tích và danh thắng” của tác giả Trần Trương? Cứ dựa theo sách của người ta, đổi văn xuôi thành văn vần để biến ra cái gọi là thơ thiền? Tiền nhân này sao lại “mượn văn” của tác giả đang sống hiện nay một cách vô ngại thời gian như thế? Và nếu có thật chuyện đó thì tiền nhân này không phải là Phật, là thần, là Trần Nhân Tông, là các vị thiền sư, là các đại bút danh sĩ rồi! Tại sao? Vì Phật thần thì không có cái tâm xiêng xẹo, cong vênh như thế! Và nếu là các tác gia thời trung đại thì “đại bút” của các vị ấy đã rơi xuống “tiểu bút” rồi, thi hương cũng không đỗ đâu! Còn nếu là Trần Nhân Tông, Huyền Quang, các vị thiền sư giáng bút thì sao thơ quý ngài lại “xuống cấp” đến vậy, “tầm thường thơ” đến vậy, chẳng có tuệ, có thiền, có trao truyền mật chỉ tâm ấn gì cả?! Tiền nhân này là ai vậy? (4) Chúng ta phải tìm cho ra cái khuôn mặt của ông ta – để giải bớt cái oan khuất cho tất thảy thiền sư, danh sĩ thời Lý, Trần mà văn học sử thường xem như đấy là thời đại đỉnh cao của văn học, là cái “nôi” hàm tàng mọi giá trị mỹ học, thiền học cũng như tinh túy văn hóa bản sắc của cha ông. Tiền nhân nhập bút ấy là ai mà Nguyễn Hòa đã than: Nếu thực sự “tiền nhân mượn bút” của Hoàng Quang Thuận để “viết thơ” thì xem ra thơ của “tiền nhân” đã sa sút đến mức thê thảm… Với các bài thơ chưa đúng niêm luật … mà được gọi là “nghệ thuật Đường thi trác việt” thì đúng là hết thuốc chữa!

Quả đúng là hết thuốc chữa!
Vì “trăm năm duyên kiếp” như thế này mà cũng là thiền sao:
“- Trăm năm duyên kiếp còn lưu lại
Lối cũ đường xưa ngập cỏ cây”.
Và đây cũng gọi là thơ, là thiền sao:
“- Ba tên kẻ cướp nhảy chặn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương!”
Và đây nữa:
“- Hoa Lư kinh thành của Đế vương
Mây bay phủ núi luỵ biên cương
Hoàng Long dậy sóng ngàn năm ngủ
Long Mã truy phong thượng đạo đường”.
Bài nào cũng thất niêm luật, không những không phải thơ, không phải thơ thiền mà còn không hiểu tác giá đưa thông tin “bí mật” gì ở nơi chỗ “lụy biên cương” và cái “thượng đạo đường”?
Vậy là quá đủ.
Xin chư vị thức giả thẩm định cái gọi là “tiền nhân nhập thần mượn bút” ấy cho!

Tôi không tu Thiền theo thiền phái Trúc Lâm, không phải là đệ tử, thân hữu, cũng không quen biết các ngài, các Sư, Ni ở trong tông môn đó. Tôi thuộc Theravāda, chỉ là một tu sĩ yêu thơ, có nghiên cứu thơ văn của Trúc Lâm tam tổ và các danh sĩ làm thơ có ảnh hưởng thiền thời Lý, Trần. Thơ, thơ thiền, thơ có tư tưởng thiền và thơ có liên hệ đến non thiêng Yên Tử của các vị ấy, vào thời trung đại ấy… tôi nghẹn chữ, không biết nóí sao. Tôi chỉ muốn ví von – dù biết ví von nào cũng khập khễnh – là nó như là hạt tuyết trắng trinh tuyền trên non cao. Nó là đóa hoa tinh khôi, diệu vợi u hương trên đầu núi. Mà bút khí, bút lực, bút trí, bút tâm của thế gian là bút của chợ triền, ở dưới này, thường không vói tới! Nó khác, nó rất khác, nó khác xa so với tất cả thơ mạo nhận là thơ thiền hiện nay. Tảng đá tịnh định, trầm mặc trong vườn thiền hôm kia cũng toát mồ hôi. Lau cỏ quê mùa dân dã, an nhiên sáng nay bên hiên chùa cũng run lẩy bẩy. Hiện tượng phẩm bình hơi quá bút về thơ thiền của Hoàng Quang Thuận làm cho “đá cỏ trong vườn thiền” cũng phải lên tiếng đính chính một vài chỗ cần thiết. Tuy nhiên, thật may mắn thay cho Phật giáo chúng ta, và cả cho những ai yêu non thiêng Yên Tử cùng cốt cách “cam lộ lưu phương (5)” của Hương Vân đầu-đà – là các nhà học giả nghiêm túc, các nhà nghiên cứu có đạo đức tri thức đã đồng loạt phản bác, phê phán nghiêm khắc, đã nhìn ra “chân tướng”, đã chỉ ra cái “bản lai diện mục” của cái trò chơi hơi “quá đà” kia rồi! Chỉ một chút xíu “quá đà” thôi, chớ không nên nói khá nặng lời như ai đó đã xem như là một hiện tượng vĩ cuồng!
Để kết luận, tôi xin chép ra đây bài thất ngôn tứ tuyệt “Sơn phòng mạn hứng” có niêm, đối, vần, luật chỉnh chu của thiền sư thi sĩ Trần Nhân Tông:
“ Thị phi niệm trục triêu hoa lạc
Danh lợi, tâm tùy dạ vũ hàn
Hoa tận, vũ tình, sơn tịch tịch
Nhất thanh đề điểu, hựu xuân tàn”.
Tạm dịch:
“- Phải, trái niệm rơi hoa rạng sớm
Lợi danh lòng lạnh mưa thâm đêm
Hoa tàn, mưa tạnh,  non yên lặng
Còn tiễn xuân tàn, một tiếng chim!”

Hy vọng rằng, những hiện tượng phù du như vậy rồi sẽ qua đi. Chuyện phải, chuyện trái nó rơi theo hoa buổi sớm rơi. Cái tâm về lợi danh nó lạnh ngắt giống như trận mưa lạnh ngắt đêm rồi! Và ngay cái rơi, cái lạnh ấy cũng không còn nữa, nó rụng, nó tạnh hết rồi, chỉ còn lại non yên lặng mà thôi. Và ở nơi cái “thực tại non yên lặng” ấy, một tiếng chim vừa hót lên…Cũng vậy, cái gì không phải thơ, không phải thiền thì nó sẽ rơi, sẽ rụng đi – nhưng sự an tĩnh và thanh khiết của hồn thơ, hồn thiền non thiêng Yên Tử sẽ còn mãi với thời gian. Mong vậy thay!

  Am Mây Tía 20/8/2012

Chú thích:
(1) Trên cái đầu, chồng thêm cái đầu, trên tuyết lại phủ thêm sương – tức là ý niệm chồng thêm ý niệm, che lấp cái thực!
(2) Định (Samādhi), Tuệ (Vipassanā).
(3)Tối thiểu phải sơ thiền trong bốn tầng (jhāna) thiền.
(4)Theo nhà Phật, một người tu Phật có chánh kiến, không bao giờ tin việc nhập thần, giáng bút ấy là của thánh thần tiên Phật; nếu có, chúng chỉ là ma quỷ (ngạ quỷ, dạ-xoa, a-tu-la) mà thôi. Tin ba cái chuyện mê mê hoặc hoặc ấy là tà kiến. Vậy, nếu có, thì “tiền nhân mượn bút” ấy chỉ là ma quỷ.
(5) Móc ngọt chảy mùi thơm.

 “THI VÂN YÊN TỬ” ĐƯỢC SAO CHÉP TỪ ĐÂU?

Tôi quen anh Hoàng Quang Thuận đến hay cũng gần hai mươi năm, đã từng cùng nhau đi chùa dâng hương lễ Phật. Một sự trùng hợp thật ngẫu nhiên, hai cặp vợ chồng chúng tôi đều cùng tuổi Quý Tị và Giáp ngọ. Thời đó, hai gia đình thường gặp nhau. Đã lâu lắm, do bận công việc nên không gặp nhau nữa. Nhưng tôi vẫn nhớ về anh, như một người bạn tâm tình.

Khi anh viết xong và đem in 63 bài thơ trong tập ‘Thi vân Yên tử”, anh có nói chuyện với tôi về căn nguyên ra đời của các bài thơ ấy. Tôi cũng tin như vậy, vì tôi là người tin vào tâm linh, một niềm tin tự nhiên từ máu thịt của mình. Từ niềm tin ấy, tôi đã vô tư quảng bá tập thơ “Thi vân Yên Tử” với sự ra đời đặc biệt của nó  với bạn bè. Nhưng hầu như, ai được tôi thông tin cũng chỉ cười mà không nói gì.

Tình cờ, khi lên Yên Tử, tôi vào quầy sách của Ban quản lý, thấy cuốn “CHÙA YÊN TỬ, LỊCH SỬ – TRUYỀN THUYẾT DI TÍCH VÀ DANH THẮNG” của tác giả Trần Trương, Trưởng Ban quản lý Yên Tử (1992-2003), tôi đã đọc ngấu nghiến bởi sự thôi thúc của tâm linh, một niềm tin bất diệt vào sự hiển linh của Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông, Người Anh Hùng dân tộc và Đệ Nhất Tổ Thiền Trúc Lâm Yên Tử.

Đọc xong cuốn sách, tự nhiên tôi có liên tưởng đến 63 bài thơ “Thiền” của anh Hoàng Quang Thuận và thật ngẫu nhiên, tôi phát hiện ra trong hầu hết các bài thơ anh Thuận viết, đều lấy từ nội dung cuốn sách này, thậm chí có nhiều bài thơ, câu thơ còn sao chép nguyên xi câu văn của tác giả Trần Trương. Tôi sững người và liên tưởng tới điều anh Thuận nói về  xuất xứ của 63 bài thơ được anh viết trong ba đêm với trạng thái như “nhập đồng”, như có “ai” đó, từ cõi cao xanh thúc giục anh phải viết. Tuy nhiên, vì là bạn bè, nên tôi cũng không nỡ trao đổi với anh, e anh tự ái rồi giận tôi. Vả lại, tôi coi đó là một niềm vui riêng của anh, niềm vui có thể chia sẻ trong phạm vi bạn bè, chẳng ảnh hưởng gì đến nhân tình thế thái. Thế rồi, năm tháng trôi qua, do bận công việc, tôi cũng không còn để ý đến điều đó nữa.

Mấy ngày gần đây, tôi được biết Tạp chí Nhà văn (Hội Nhà văn Việt Nam) đã tổ chức Hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử” đã thu hút rất nhiều người quan tâm đến dự. Có nhiều ý kiến xung quanh hiện tượng này với các lời khen, chê khác nhau. Đặc biệt, tôi được biết anh Hoàng Quang Thuận đã khiêm tốn mà nói rằng : Anh không phải là tác giả của hai tập thơ mà “đó là do tiền nhân mượn bút tôi để viết thơ”. Tôi hiểu rằng, theo anh Thuận, tập thơ THI VÂN YÊN TỬ” gồm 63 bài đó không phải là của anh, mà là của “tiền nhân”. Tôi không dám khẳng định “tiền nhân” theo anh nói, có phải là Đức Phật Hoàng Trần Nhân Tông không? Tôi còn biết người ta đã giúp anh nộp hồ sơ những tập thơ “nhập đồng” của anh để tham gia dự Giải Noben văn chương nữa ! Điều này đã khiến tôi giật mình một lần nữa vì điều tôi cho là bình thường đã vượt qua cái ngưỡng bình thường của nó mất rồi.

Tôi đã bình tâm suy ngẫm mấy ngày nay để tìm cách xử xự thế nào cho hợp lẽ, hợp tình. Trong tôi, có hai luồng tư tưởng ám ảnh : Một là, về đời thực, nếu im lặng thì sẽ giữ được tình bạn với Hoàng Quang Thuận; và hai là, tôi sợ, nếu sự thật như tôi phân tích dưới đây, thì anh Hoàng Quang Thuận đã có một hành vi mà tự thân anh ấy sẽ phải lãnh theo luật Nhân – Quả của Nhà Phật. Tôi không dám khẳng định điều gì, nhưng nếu như sự thật là  không có một “tiền nhân” nào mượn bút anh để viết thơ như anh nói, mà chỉ do anh  biên soạn lại thành thơ từ nội dung cuốn sách “ Chùa Yên Tử, Lịch sử – Truyền thuyết di tích và Danh thắng”, thì Nam-Mô-A-Di-Dà-Phật, anh Thuận đã  tạo một NGHIỆP rất nặng nề, cần phải hồi tâm mới mong có thể chuyển được.

Tôi lục trong tủ sách gia đình để tìm cuốn sách “Chùa Yên tử, Lịch sử – Truyền thuyết di tích và Danh thắng” xuất bản lần đầu tiên, từ trước khi  Anh Hoàng Quang Thuận viết 63 bài thơ gọi là “Thiền”. Thật tiếc, cuốn sách ấy đã bị thất lạc, chỉ còn cuốn được tái bản lần thứ tư do Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, xuất bản vào Quý 2/2005. Tôi đành phải sử dụng cuốn này vậy. Cuốn sách của Trần Trương gồm có Lời nói đầu và ba chương. Chương 1 : Đường về Cõi Phật. Chương 2: Bầu trời cảnh Bụt; và Chương 3 : Ông Vua hóa Phật. Toàn bộ cuốn sách gồm có 21 bài viết giới thiệu, miêu tả về các sự kiện lịch sử, những địa danh, cảnh vật, chùa chiền trong hệ thống Danh sơn Yên Tử để giúp người hành hương tìm hiểu nơi  mình đến dâng hương lễ Phật.

Với tấm lòng chân thành đó, tôi quyết định viết bài này để hầu mong góp phần làm sáng tỏ sự thật về tập thơ “nhập đồng” của anh.  Nếu anh Thuận đọc mà buồn hoặc giận dữ thì tôi thành tâm tạ lỗi. Nhưng dù thế nào, tôi cũng mong anh đọc và suy nghĩ để cảm nhận được động cơ, mục đích viết bài của tôi, chỉ mong anh hiểu rằng, tôi viết với một cái tâm trong sáng, cái TÂM của một NGƯỜI THEO ĐẠO PHẬT, để giúp anh.

Tôi dùng phương pháp so sánh để chứng minh suy nghĩ của tôi, rằng : những bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận có xuất xứ từ cuốn sách nói trên của tác giả Trần Trương, chứ không phải là thơ “nhập đồng”. Tôi chỉ chọn một số bài trong tập thơ để so sánh và xin dẫn chiếu đến người đọc, nếu ai quan tâm thì tìm cuốn sách đó để so sánh các bài khác cho đầy đủ. Cách so sánh của tôi là : Nêu những đoạn văn trong cuốn sách của tác giả Trần Trương, sau đó là bài thơ của anh Hoàng Quang Thuận trong tập “Thi vân Yên Tử” do Nhà xuất bản Hội Nhà văn, xuất bản tháng 3/1998 để người đọc cùng suy ngẫm.

1. Trang 20-21 cuốn sách của Trần Trương (sau đây gọi tắt là cuốn sách) viết :
 Hồ Yên Trung nằm ở ngang lưng núi. Hồ rộng hàng ngàn mẫu, nằm lọt giữa bốn bề núi biếc. Nước từ khe suối đổ về. Đôi gò bồng đảo bập bềnh trên sóng nước giữa hồ. Bồng đảo phủ đầy thông… Thỉnh thoảng, một vài chú cá to phởn chí, tung mình lên cao rồi rơi xuống, tạo thành quần sóng lan xa, lan xa mãi.
Ở một góc hồ, thấp thoáng trong khe núi, bầy le le, vịt trời vui đùa nhau, tung cánh… Những đêm trăng sáng, lòng hồ đầy ánh trăng. Bốn bề im ắng, chỉ nghe tiếng chim gù trên núi. Thực là một bức tranh sơn thủy hữu tình… Hồ Yên Trung – Nàng Công Chúa Ngủ Quên nay đã thức… Tạo hóa khéo bày tuyệt tác của thiên thiên. Được kết tụ bởi mây trời non nước thanh hương sắc con người. Nàng vô tư không một chút ưu phiền”.

Trong bài thơ “Hồ Yên Trung” (trang 15), anh Thuận viết :
Yên Trung vắt vẻo ngang lưng núi
Bốn bề mây biếc sóng lô xô
Đôi bồng đảo bập bềnh trên sóng
Cả rừng thông xao động mặt hồ”.

Tạo hóa bày tuyệt tác thiên nhiên
Kết tụ bởi mây trời non nước
Nàng vô tư không chút ưu phiền
Ngắm sao trời đầu gối Hoa Yên.
– Trong bài “Đêm hồ Yên Tử” (trang 17), anh Thuận viết :
Cát vàng thoai thoải sóng lao xao
Cá to phởn chí nhảy lên cao
Le le xanh biếc đùa tung cánh
Chim gù trên núi cảnh tiêu dao

Sơn thủy hữu tình động tiên đào
Lạc đường Lưu – Nguyễn đếm trời sao
Lòng hồ đầy ắp đêm trăng sáng
Vua Trần thưởng nguyệt, nhớ năm nào.

2.  Trang 24, cuốn sách viết :
“ Đến hẻm núi kia có ba tên cướp nhảy ra chặn đường, vua Trần khoan thai ra hiệu cho Bảo Sái cho chúng vài lạng bạc, cả suất cơm chay để độ đường. Đoạn ngồi trên mình ngựa, Ngài thuyết giáo, thức tỉnh từ tâm, đoạn trừ tam độc trong lòng chúng…
… Cả ba quỳ sụp xuống lạy tạ và hứa rằng “ sẽ trở về lương thiện làm ăn”. Kể từ ngày đó, chúng bỏ nghề đao búa, chăm chỉ nghề nông, siêng làm công đức xây dựng chùa miếu, trở thành các tín đồ ngoan đạo của Trúc Lâm. Và từ độ ấy, nạn cướp nơi đây được tiệt trừ. Con đường dốc gập ghềnh nơi hẻm núi, kẻ lại người qua được bình an”.

Trong bài “Kẻ cướp chắn đường” (trang 19), anh Thuận viết :
Ba tên kẻ cướp nhảy chắn đường
Vua Trần cho bạc lẫn phần cơm
Nhẹ nhàng thuyết giáo trừ tâm độc
Cả ba quỳ lạy hứa hoàn lương

Bỏ nghề đao búa thiện giáo đường
Sơn lâm từ ấy hết tai ương
Gập gềnh hẻm núi người qua lại
Bình an vô sự hết đạo cường”.

3. Trang 29, cuốn sách viết :
“ Trưa hè oi ả. Tiếng suối mùa mưa reo réo rắt hòa với tiếng chim rừng ca lảnh lót. Hoa rừng muôn sắc tỏa hương theo gió thơm ngào ngạt. Bụi đường trường quyện lẫn mồ hôi khiến cả hai bức bối. Vua Trần đóng khố, nhoài mình nơi dòng nước trong xanh. Dòng suối cuốn trôi bụi trần ra sông biển. Kể từ dịp ấy, suối được đặt tên : Suối Vua Tắm”.

Trong bài “Suối Tắm” (trang 20), anh Thuận viết :
Trưa hè oi ả tiếng suối reo
Chim ca lảnh lót giữa lưng đèo
Hoa rừng hương sắc hương theo gió
Đàn cá xuôi dòng nước trong veo”.

4.Trang 34, cuốn sách viết :
 “ Phía bên kia cầu là cổng tam quan, dáng vẻ cổ kính, đắp nổi đôi câu đổi viết theo chữ thảo “Cổ tự lưu danh Linh Nhâm Tự”… Xung quanh chùa xum xuê cây trái. Quả trứng gà sai chíu chít vàng ươm. Quả hồng đỏ thắm như hàng trăm chiếc đèn lồng treo lơ lửng. Quả mận tím trĩu cành lúc lỉu… Gần đây, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng Linh Nhâm là tên của một vị Thiền sư đã được Tổ Trúc Lâm giao xây dựng ngôi chùa và nhiều năm trụ trì ở chùa này. Tên của Thiền sư được đặt tên cho chùa…”.

Trong bài “Chùa Cầm Thực” (trang 26), anh Thuận viết :
Tam quan đắp nổi Linh Nham Tự
Thiền sư có phải đặt tên thầy
Mận chín trĩu cành lúc lỉu quả
Trứng gà chiu chít cả trong mây

Linh Nham đâu khác nơi tiên cảnh
Hồng đỏ như trăm đèn lồng cầy…

5. Trang 40, cuốn sách viết :
“ Thưở xưa, cánh đồng Nam Mẫu nước ngập trắng. Từ dốc Quàng Hái, muốn vào Yên Tử, phải đi bè mà vào. Hay tin Vua Trần vào Yên Tử, các cung tần mĩ nữ của triều đình đã tìm về, gặp Vua ở tại con dốc này. Họ than khóc thảm thiết, xin Vua quay trở lại triều đình… Vua cho lập đàn tràng cầu Phật Tổ Như Lai. Vài ngày sau, nước ở hồ Nam Mẫu rút hết. Lòng hồ phơi ra, khá bằng phẳng. Đất nơi đáy hồ thật màu mỡ. Dân bản ùa ra bắt tôm, cá, khai khẩn bãi hoang, thành ruộng vườn. Cánh đồng Nam Mẫu được khai sinh”.

Trong bài “Làng Cung Nữ” (trang 28), anh Thuận viết :
  Làng Mụ, Làng Nương đường Nam Mẫu
Xưa kia nước ngập trắng lòng hồ
Vua Trần thương xót đoàn cung nữ
Lòng trung không trở lại kinh đô

Vua lập đàn cầu Phật Như Lai
Nước hồ rút hết ruộng đất dài
Đáy hồ mầu mỡ –  tôm cùng cá
Làng Mụ, làng Nương được sinh khai.

6. Trang 53, cuốn sách viết :
“Cá tôm say nước nhảy lia thia. Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối… Mới hay chín suối chỉ chung một dòng… Con suối cắt chia tuyến đường Hạ Kiệu – Nam Mẫu thành chín đoạn”.

6. Bài “Chín suối chung một dòng” (trang 36), anh Thuận viết :
Trăm hoa khoe sắc bên bờ suối
Cá tôm say nước nhảy lia thia
Mới hay chín suối chung dòng một
Đường đi Nam Mẫu suối cắt lìa.

7. Trang 79-80-82, cuốn sách viết :
“ Hãy vào Lăng Quy Đức. Lăng quây bốn mặt thành vuông vức, bao quanh ngôi tháp cổ… Mái tường lăng lợp bằng ngói mũi hài, đổ về hai phía, dáng cong theo dáng mái chùa…Mặt ngoài các tảng đá chạm nổi hoa văn sóng nước hình quả núi, đường  nét cách điệu uốn lượn rất tinh tế…Bệ tháp tạo nên bởi hàng chục phiến đá xanh ghép lại…Tầng đầu mở hướng chính nam, bên trong thờ tượng Trần Nhân Tông ngồi thiền ở thế liên hoa, vẻ mặt dung dị, cảm thông, thanh cao và trí huệ… Thi thoảng vẫn thấy xuất hiện cặp rắn đen nằm chầu bên tượng Tổ trong tháp. Trông thấy bóng người, rắn thu mình ẩn núp vào trong… Bốn cây đại cổ, thân dáng hình rồng đứng nép sau tường Lăng Quy Đức, lá rủ vào sân lăng. Cành đại trổ đầy hoa. Hương hoa thơm ngào ngạt. Cánh hoa rắc vàng sân mộ Tổ”.

Trong bài “Lăng Quy Đức (trang 43), anh Thuận viết :
Lăng quây vuông vức bốn mặt thành
Ngói hài hai phía dáng thanh thanh
Mặt ngoài đá chạm hoa văn sóng
Bệ tháp nằm trên phiến đá xanh

Tầng đầu mở cửa hướng chánh nam
Vua Trần nhập diệt cõi Niết Bàn
Rắn đen một cặp chầu bên tượng
Nền Lăng xưa chính Ngọa Vân am.

Hai cây đại cổ dáng hình rồng
Đứng nép bên tường đã trổ bông
Hương hoa thơm nát vườn mộ Tổ
Ngày xưa Tam tổ đã vun trồng

8. Trang 84, cuốn sách viết :
“ Những đêm trăng sáng, bên tháp ngắm trăng thật thú vị. Trăng treo trên cành Tùng. Trăng rắc vàng trên cánh hoa Đại sực nức hương và đính hạt sương đêm. Trăng gắn váo đỉnh Tháp . Mỗi bước trăng trôi, cảnh vật nơi đây lung linh huyền ảo”.

Bài “Trăng Yên Tử (trang 46), anh Thuận viết :
Trăng treo lơ lửng trên cành Tùng
Trăng rắc vàng lên cánh hoa nhung
Sương đêm sực nức mùi hoa đại
Mỗi bước trăng trôi giữa núi rừng

Lung linh huyền ảo ánh trăng rơi
Tiếng hạc trong đêm tận cõi trời…

9. Trang 98, cuốn sách viết :
 “Trong ngách hang, có một núm đá, nước nhỏ tí tách từng giọt một, cả đêm chưa đầy một bát con. Nhà sư gọi đó là sữa mẹ. Một điều kì lạ : Khi bát nước đầy, từ núm không nhỏ thêm giọt nào nữa. Nền chùa sạch khô không giọt nước thừa tràn”. 

Trong bài “Sữa mẹ” (trang 52), anh Thuận viết :
Ngách hang núi đá núm vú con
Sữa mẹ linh thiêng nhỏ giọt tràn
Nhỏ dần từng giọt đêm đầy bát
Nước đầy chỉ một bát con con.

10. Trang 103, cuốn sách viết :
 Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa. ngày nay, các “ông” Rồng xanh thi thoảng lại xuất hiện… Những lúc trở trời, các “ông” bò ra nằm la liệt… Một con rắn lớn từ xà ngang buông mình xuống ban thờ, náu mình vào Tượng Phật nhìn ra”.

Trong bài “Rắn xanh Yên Tử” (trang 31), anh Thuận viết :
Bóng Tùng thấp thoáng bên ô cửa
Rồng xanh thi thoảng nghỉ trên bàn
Mấy ông rắn lớn nằm trên mái
Náu mình tượng Phật ngắm giang san.

11. Trang 108, cuốn sách viết :
“Quanh am là rừng trúc bạt ngàn. Trúc chen nhau mọc dưới tán lá của rừng cây cổ thụ. Trúc lách qua kẽ đá nền am, vươn lên những đọt măng mập mạp. Đây là phế tích Am Thiền Định. Xưa chưa dựng chùa, các nhà sư tu hành nơi am cỏ, hòa mình với chim muông, với thiên nhiên hoang dã”.

Trong bài “Am xưa” (trang 58), anh Thuận viết :
Trúc lách qua kẽ đá nền am
Đọt măng mập mạp giữa đá vàng
Bạt ngàn trúc biếc chen hoa nở
Gió thổi lau thưa vọng tiếng đàn.

12. Trang 110, cuốn sách viết :
“Thác vàng còn lớn gấp bội phần. Vách đá cao dốc đứng. Nước từ đỉnh dốc tuôn trắng xóa, khác nào dải lụa khổng lồ. Ngọn nước như từ trời đổ xuống. Cây rừng khép tán, đứng dưới chân thác ngước nhìn lên, ta chỉ thấy mảnh trời trên ngọn tháp. Nhà văn Vũ Khai đặt tên cho thác là “Thiên Thủy” (nước trời). Với Thác Vàng, nước không hề khô cạn”.

Trong bài  “Thác Vàng” (trang 54), anh Thuận viết :
Ngọn nước như từ trời đổ xuống
Cây rừng khép tán nép bên khe
Mảnh trời ngọn tháp thiên thu thủy
Đâu biết nơi đây có nắng hè.

13. Trang 111, cuốn sách viết :
“ Rừng ở đây nguyên sơ và tuyệt đẹp. Cây cổ thụ vươn cao, xòe tán rộng. Rừng già âmn u. Ánh nắng mặt trời không lọt rơi xuống đất…Dây leo chằng chịt, vắt từ cây này sang cây kia. Một thế giới chim muông, hoa lá dần hiện ra…. Cành khô kêu răng rắc dưới chân. Hương cây, lá mục nồng ngai ngái. Trên đường, từng đoạn lại thấy cây Tùng cổ, như thể người xưa đánh dấu đường”.

Trong bài “Đường rừng” (trang 22), anh Thuận viết :
“ Cổ thụ vươn cao xòe tán rộng
Rừng già nắng lọt đốm hoa rơi
Dây leo chằng chịt vắt cành lá
Chim rừng líu lót với hương trời.

Cây khô răng rắc dưới chân đi
Lá mục nồng ngai hoa từ bi
Trên đường lác đác cây tùng cổ
Thợ trời khéo đặt cảnh thiên trì.

14. Trang 126, cuốn sách viết :
“ Gọi là chùa Vân Tiêu, bởi chùa tọa lạc trên triền núi phía Tây dãy Yên Tử. Dãy núi như trường thành chắn ngang luồng gió biển thổi vào. Hơi nước tới đây, ngưng đọng lại thành mây. Mây, gió bị chắn ở sườn Nam, được thoát ra nơi triền núi phía Tây. Mây trôi lờ lững trên triền non Yên Tử, tới đây lập tức bị tiêu tan. Nên dù ở gần đỉnh núi, chùa Vân Tiêu ít khi bị mây mù che phủ, khác hẳn chùa Bảo Sái ở cùng một độ cao. Ở nơi mây cứ đến là tan, nên chùa mang tên là Vân Tiêu… Phía trước cửa chùa là vườn tháp chín tầng, giống như Hòn Ngọc… Cả khối nặng tòa tháp đè lên lưng của một ông rùa đá to lớn…”.

Trong bài Chùa Vân Tiêu (trang 50), anh Thuận viết :
 Vân Tiêu quay hướng phía Tây phương
Dãy núi Yên Tử án thành đường
Mây trôi lờ lững trên Yên Tử
Tùng xanh lãng đãng bóng trong sương

Mây đến Vân Tiêu mây tự tan
Chín tầng chùa tháp giữa non ngàn
Im lìm trên một ông rùa đá
Hoa cười rung cánh khóm địa lan.

15. Trang 135, cuốn  sách viết :
“ Chóp núi cách tượng An Kỳ Sinh 721 mét, ban đầu, đường đi trên núi khá bằng phẳng, qua một vạt rừng cây lúp xúp, một vạt rừng cây cảnh tự nhiên, chỉ cao hơn đầu người một chút, gốc rễ còi cọc, cong queo và mốc thếch, tô điểm những đóa hoa trà mi, hoa trứng gà, hoa mai…muôn hồng nghìn tía… Chếch về phía phải, có một vạt cây rừng sú, vẹt. Thật kỳ lạ : Sú vẹt ở bờ sông lại ngự trên đỉnh núi (!). Những chú ốc sên, những chú còng… ẩn mình trong kẽ đá suốt mùa đông, chỉ đợi xuân sang là xuất hiện. chúng biến nơi đây thành vương quốc riêng, xa cách cõi trần nơi bờ sông bãi sú.

Qua khỏi vạt cây là bãi đá. Dọc sống núi cơ man nào là đá. Những phiến đá nhỏ, to, cao, thấp thiên hình vạn trạng. Đá xếp thành bậc thang nâng bước chân du khách. Có những phiến đá giống như bầy cá Sấu nằm trườn ườn phơi nắng, xen lẫn với cá voi, éch ộp, thờn bơn…Dưới chân chùa Đồng, ngổn ngang xếp những  tảng đá lớn vuông vức như quân cờ. Lưng đá hằn sâu ngấn sóng nước. Những vỏ sò, vỏ ốc hóa thạch còn lưu trong kẽ đá. Đã một thời, đỉnh ngọn Yên Sơn là bờ biển. Trải qua kỳ kiến tạo vỏ trái đất cách đây hàng triệu năm, bờ bể lại trở thành chóp núi. Và đỉnh Yên Sơn đã trở thành một bảo tàng  tự nhiên lưu dấu tích sự đồi thay dâu bể thời Hồng hoang”.

Trong bài “Đỉnh non thiêng” (trang 70), anh Thuận viết :
Yên Sơn tô điểm đóa trà mi
Sú vẹt non cao thật dị kỳ
Ốc, còng, sên nhỏ nằm trong đá
Quốc vương xa lánh cõi trần bi

Bậc đá làm thang giỏi thợ trời
Đá hình cá sấu nằm chơi vơi
Cá voi, éch ộp, thờn bơn dẹt
Biển cả – đại dương giữa lưng trời

Có lẽ ngày xưa thưở hồng hoang
Yên Sơn bể biếc của kim hoàng
Trải bao biến địa sông thành núi
Đỉnh Yên nay thành một bảo tàng

16. Trang 143 – 144, cuốn  sách viết :
“Trên non Yên Tử, vào ngày trời quang, phóng tầm mắt tới chân trời xa tắp : Một vùng đồi núi nhấp nhô như sóng, lúp xúp dưới chân ta. Thị xã Uông Bí, mỏ than Vàng Danh, vùng Tràng Lương Đông Triều và Hà Bắc hiện ra như bức tranh thủy mạc. Xa xa, Vịnh Hạ Long xanh xanh mờ  vệt đảo. Mặt Vịnh lung linh dưới ánh mặt trời. Dòng sông Bạch Đằng in bóng núi Tràng Kênh…Gió lùa vào kẽ đá, phát ra muôn tiếng nhạc bổng trầm. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ và ngoạn mục, du khách xốn xang đến khó tả. Tâm hồn nhẹ nhỏm và thanh thoát. Bao nỗi ưu phiền trần tục được tiêu tan. Cảm giác kỳ diệu ấy, chỉ khi lên chùa Đồng mới có”.

Trong bài “Trời quang Yên Tử” (trang 71), anh Thuận viết :
Trên non Yên Tử ngày trời quang
Bức tranh thủy mặc dưới nắng vàng
Nhấp nhô như sóng triền đồi núi
Xa xa một dãy Bạch Đằng Giang

Trời đất kỳ vĩ lòng xôn xang
Gió reo thánh thót những cung đàn
Chùa Đồng Yên Tử trời đất Phật
Ưu phiền trần tục thảy tiêu tan.

Tôi chỉ xin trích dẫn để so sánh một số bài như trên, còn nhiều bài  thơ khác cũng có nội dung tương tự với các bài trong cuốn sách của Trần Trương. Trong số 63 bài, tôi kiểm lại thì thấy có một số bài không có liên quan gì tới cuốn sách.  Cụ thể là các bài : Xúc cảm non thiêng; Cô chú thăm Yên Tử;  Vân du Yên Tử; Nghỉ lại chùa Yên; Kim xà; Ân hận; Tặng sư thầy, là do anh Thuận cảm tác mà viết ra.

Từ những so sánh trên, tôi có thể suy luận rằng : Tập thơ “Thi Vân Yên Tử” của anh Hoàng Quang Thuận không phải là thơ “nhập đồng”, cũng không phải là “thơ Thiền” mà có xuất xứ từ cuốn sách của tác giả Trần Trương. Vì những bài thơ ấy thuần túy chỉ là tả cảnh vật qua con mắt của người phàm trần. Nếu thơ “nhập đồng” sẽ có giọng thơ khác, thâm linh, huyền bí và mang hồn cách của “người nhập”.

Những so sánh trên đã cho thấy, từ những bài viết trong cuốn sách của Trần Trương, anh Thuận đã có cảm xúc và dùng năng khiếu thơ của mình viết lại thành các bài thơ. Có thể trong ba đêm, nguồn cảm xúc từ cảnh vật thật, từ tấm lòng thành kính đối với Tam tổ Trúc Lâm và Danh sơn Yên Tử,  lại được thông tin từ cuốn sách của Trần Trương, anh đã thành tâm viết nên 63 bài thơ ấy, để ghi lại cảm xúc của mình. Tôi chắc khi đó, anh chưa hề nghĩ đến việc quảng bá cho  những bài thơ này theo hướng “nhập đồng” hoặc “thơ thiền”. Có lẽ, những tán dương sau này của nhiều người quá thái, đã khiến anh say sưa với ý tưởng ấy và  thổi vào đó yếu tố tâm linh, huyền bí, càng về sau càng mãnh liệt như chúng ta đã thấy diễn biến của “Thi Vân Yên Tử” từ đó đến nay.

Để kết thúc, tôi xin xác quyết một điều rằng : Tôi viết bài này chỉ với một cái tâm trong sáng của một phật tử có pháp danh là THIỆN HÒA, hầu mong anh Thuận sẽ đọc và suy ngẫm về những điều đã làm, để  trả về cho “Thi Vân Yên Tử” đúng giá trị của nó. Đó là điều tôi quan niệm rằng : đã giúp anh, vì tôi vẫn là người – bạn – của – anh !

 TP. Hồ Chí Minh, 02 giờ đêm ngày 12 tháng 8 năm 2012

NGUYỄN MINH TÂM

Để kết thúc “Nhà khoa học” có thơ đề cử  giải Nobel .Chúng ta cùng xem bài của Nhà thơ Trần Mạnh Hảo:

HOÀNG QUANG THUẬN ĐÃ BÁN HÀNG GIẢ (THƠ DỎM, THƠ LỪA, THƠ ĐẠO) ĐỂ BỎ TÚI HÀNG TRĂM TỈ ĐỒNG

TRẦN MẠNH HẢO

Xin bạn đọc hãy kiểm chứng thông tin trên bằng cách vào  http://google.com đánh vào mục tìm kiếm này như sau: “You Tube Hoàng Quang Thuận video” sẽ thấy hàng chục cuốn phim, hàng trăm cảnh quay của Đài truyền hình Việt Nam làm ca ngợi hai tập thơ dỏm “Thi Vân Yên tử” và “Hoa Lư thi tập”, tuyên truyền cho thứ thơ giả, thơ lừa này tới tận cùng để tác giả của nó trục lợi .

Trong một bộ phim, Hoàng Quang Thuận tuyên bố: “Tôi và trung tướng công an nhà văn Hữu Ước đã tổ chức 10 (mười) đêm thơ “Thi vân Yên tử” thu được gần ba mươi tỉ đồng”. Mô Phật, kẻ lừa người đến lừa trời Phật này dùng hàng giả, bán hàng giả là cuốn thơ dỏm, thơ lừa, thơ ăn cắp mà thu được quá nhiều tiền như thế thật xưa nay hiếm có…

Đến đây, chúng ta hiểu vì sao mà báo Công an nhân dân, Hội nhà văn VN, báo Giáo dục & Thời đại đang cố sống cố chết cãi cối cãi chày cho Hoàng Quang Thuận khỏi tội đạo văn là dùng lời nói của một kẻ bao che là Trần Trương (hiện là phó ban dân vận tỉnh Quang Ninh) làm bằng chứng giả. Hãy đọc bài viết của luật sư Nguyễn Minh Tâm khắc biết rằng tội đạo văn của Hoàng Quang Thuận có trời cãi.

Đài truyền hình Việt Nam dĩ nhiên không bao giờ quảng cáo không công cho Hoàng Quang Thuận khi họ làm hàng chục cuốn phim ca ngợi thứ thơ dở nhất thế giới này lên hàng kiệt tác để lừa nhân dân ta và nhân dân thế giới tạo điều kiện cho tập thơ dở vô cùng này đẻ ra tỉ tỉ tiền, lại mang thứ rác rưởi này đi dự giải Nobel làm nhục quốc thể, làm xấu hổ dân tộc Việt Nam không bút nào tả xiết.

Hoàng Quang Thuận đã in ra hàng chục vạn cuốn thơ dỏm, thơ lừa, thơ ăn cắp này để bán cho Bộ ngoại giao làm quà biếu trong giao tế quốc tế, gây thất thoát hàng tỉ đồng, lại bị quốc tế cười vào mũi ngành ngoại giao Việt Nam rằng: các ngài sao lại tặng chúng tôi tập thơ rác rưởi này làm quà thế…?

Hoàng quang Thuận cấu kết với nhà xuất bản Giáo dục, với báo Giáo dục & thời đại in ra hàng vạn cuốn, dùng báo này để ca ngợi thơ dỏm lên hàng kiệt tác, tạo điều kiện để đem thơ dở, thơ rác này vào giảng dạy trong trường học, tiếp thị cho các thư viện hàng chục vạn trường học mua thơ dỏm với giá cao, mang lại nhiều tỉ đồng tiền lời để bọn con buôn giáo dục này chia nhau?

Viết bài này, chúng tôi muốn dư luận hiểu đúng tính chất con buôn của Hoàng Quang Thuận rất là nguy hiểm cho quốc gia; rằng không phải ông Thuận bỏ tiền túi ra in thơ dỏm thơ lừa (thần Phật viết chứ không phải Thuận viết) để chịu lỗ đâu. Tội của ông Thuận là tội bán hàng giả để thu về tiền tỉ thật, ít nhất cả trăm tỉ đồng…?

        Sài Gòn ngày 20-8-2012

TMH

   Anh Hoàng Quang Thuận không đổi họ và chống lệnh đi miền núi

          (Nội dung đáp lại comment của Đà Nhân đăng trên blog của Trương Duy Nhất)

          Gửi ông Đà Nhân,

          Tôi là Hoàng Trọng Quang, công tác tại Hải quan Đà Nẵng, 250 Bạch Đằng, Đà Nẵng. Điện thoại của tôi : 0983228441.

          Tôi đọc blog Trương Duy Nhất và một số blog đăng tải lại ý kiến của Đà Nhân, tôi thấy không thể im lặng mãi để ông bôi nhọ anh trai tôi Hoàng Quang Thuận và tôi. Có rất nhiều thông tin sai sự thật, tôi chỉ cần dẫn chứng một số vu cáo thóa mạ tôi trên các trang blog Trương Duy Nhất và Lê Thiếu Nhơn – tôi sẽ kiện mấy trang blog này không điều tra kĩ mà cứ cho đăng comment của Đà Nhân để bôi nhọ và viết các điều không có thật làm mất danh dự cá nhân tôi và anh tôi.

          1. Đổi họ là một điều xưa nay chỉ có trong chiến tranh khi người ta đổi cả họ tên để hoạt động cách mạng, không ai đổi họ trong thời bình! Gia đình tôi từ xưa, ông nội, cho đến cha tôi họ Hoàng, anh chị em tôi đều họ Hoàng, chưa bao giờ mang họ Huỳnh. Vì vậy, thông tin đổi từ họ Huỳnh ra họ Hoàng là điều vu cáo, bịa đặt của Đà Nhân.

          2. Tôi hiện nay đang công tác tại Hải quan Đà Nẵng, có hiếp dâm ai đâu. Nếu có đã bị pháp luật xử lí còn đâu mà phải cơ quan đuổi việc. Đây là sự vu cáo, nhục mạ nhân cách người khác, trang blog của Trương Duy Nhất đăng bình luận (comment) của Đà Nhân nhằm làm hại anh em tôi.

          Thóa mạ học hàm, học vị anh tôi…, cho rằng “Viện Công nghệ Viễn thông của Viện Khoa học Việt Nam là Viện ma”… Tôi quá bức xúc vì Đà Nhân đã bịa đặt, xuyên tạc. Tôi cũng biết Đà Nhân là ai, một người không dám dùng họ tên thật. Người này đã từng sống ở Đà Nẵng, nay vào TP Hồ Chí Minh, vì đố kị và ganh tị anh trai tôi và tôi nên đã vu cáo hết sức vô lí.

          Trong thời gian anh trai tôi công tác ở Đà Nẵng, cũng chưa bao giờ có quyết định của Sở Giáo dục hoặc Viện Khoa học Việt Nam điều động đi miền núi. Vậy mà, Đà Nhân lại viết những điều vu khống không hề có trên đời này.

          Tôi muốn viết sự thật gửi đến cộng đồng mạng để mọi người rõ hơn về động cơ viết bài và bản chất nhân vật Đà Nhân này.

Hoàng Trọng Quang

———————————————-

MINH DIỆN

Giới văn nghệ đang xôn xao về nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận xung quanh cuộc hội thảo “Hoàng Quang Thuận với non thiêng Yên Tử”, về tin tập thơ”Thi vân Yên Tử” của ông ta đi dự giải Noben văn chương. Đã có nhiều bài viết  về thói háo danh kệch cỡm của ông Thuận. Tôi chỉ xin kể thêm một mẩu chuyện không liên quan đến thơ nhập đồng của ông, nhưng sẽ giúp quý vị hiểu thêm về bản chất của Hoàng Quang Thuận.

Gần hai chục năm trước, Hoàng Quang Thuận từng là cố vấn đối ngoại của ông Tăng Minh Phụng (Bảy Phụng), giám đốc công ty Minh Phụng. Với khuôn mặt nhẵn bóng, áo quần bảnh bao, nói năng trịch thượng, Hoàng Quang Thuận bám Bảy Phụng như hình với bóng. Từ những cuộc gặp gỡ quan chức trong nước đến các chuyến công du nước ngoài của Bẩy Phụng đều có cố vấn Thuận đi kèm. Trong cái túi xách nhỏ của Thuận, luôn sẵn có mấy đồng tiền Gia Long Bảo Giám, trước khi Bẩy Phụng đi đâu, gặp ai và làm việc gì quan trọng, Thuận đều gieo quẻ để biết hên xui và cho lời khuyên.

 Hoàng Quang Thuận đã làm cho Bẩy Phụng có niềm tin tuyệt đối vào tâm linh. Thuận đã dùng các biện pháp tâm linh, thần thánh giúp Bẩy Phụng mở rộng những mối quan hệ. Ông Thuận được Bẩy Phụng cấp cho một xe ô tô có tài xế riêng để làm việc. Với cái gọi là “thuốc gia truyền” cùng những phong bao của Bẩy Phụng, ông Thuận đã lách vào mọi cửa.

 Tôi còn nhớ, khi công ty Minh Phụng đang bi đát trước sức ép từ mọi phía thì Hoàng Quang Thuận đưa ông Viện sĩ Nguyễn Văn Hiệu đến ký kết văn bản hợp tác giữa Viện Khoa học Công nghệ với công ty Minh Phụng. Hoàng Quang Thuận tổ chức họp báo long trọng và để ông Viện sĩ xuất hiện trước các nhà báo.

Khi Tăng Minh Phụng bị bắt trong vụ án Minh Phụng – Epco, Hoàng Quang Thuận sủ quẻ liên tục và nói như đinh đóng cột trước mọi người rằng nhất định Bẩy Phụng sẽ thoát nạn. Thậm chí, khi Tăng Minh Phụng đã bị tuyên án tử hình rồi mà ông Thuận vẫn quả quyết sẽ có người cứu. Thuận nói người cứu Bẩy Phụng là một nhân vật quan trọng mà đối với Thuận thân thiết như trong gia đình. Nghe Thuận nói, đại tá Lưu Vinh, Phó tổng biên tập báo Công an lúc bấy giờ phải thốt lên “Cái thằng đại bịp”. Luật sư Nguyễn Thị Loan, một trong ba luật sư bào chữa cho Tăng Minh Phụng đã cho tôi đọc lá thư cuối cùng của Tăng Minh Phụng viết từ phòng giam  người có án tử hình. Trong thư, Bẩy Phụng nói khá nhiều về Hoàng Quang Thuận và yêu cầu Thuận trả lại chiếc xe hơi…

Tăng Minh Phụng bị thi hành án, đã chết, nhiều cộng sự bị tù đầy và nhiều bạn bè bị liên lụy, riêng “cố vấn” Hoàng Quang Thuận vẫn nhởn nhơ. Hình như thần thánh và các đại nhân chỉ bao bọc cho riêng ông ta?

Tôi cứ tưởng Thuận sẽ giấu mình đi, nhưng không, ông ta vẫn nhởn nhơ trò cũ. Một buổi tối, Hoàng Quang Thuận gõ cửa nhà tôi và sau khi khoe mấy bài thơ tâm linh mới làm về Yên Tử, ông ta vận động tôi mua bảo hiểm lấy hoa hồng giúp con Bẩy Phụng. Tôi nói với Hoàng Quang Thuận : “Tuy Bẩy Phụng đã mất, nhưng cô Thương và gia đình vẫn không để cho các con Bẩy Phụng thiếu thốn. Một sự thật là, nhân dịp tết vừa qua, tôi và anh Huy Đức mang tiền lì xì cho bà mẹ Bẩy Phụng và các cháu nhưng không ai nhận mà mang số tiền đó làm từ thiện… Vì vậy, ông đừng lợi dụng người đã chết để kiếm tiền…”.

Không ngờ, nghe tôi nói như vậy, Hoàng Quang Thuận lên giọng, mang tâm linh ra dọa tôi. Bực quá, tôi phải đứng lên chỉ tay vào cái mặt nhờn mỡ bóng của Thuận mà nói rằng : “Anh xéo ra khỏi nhà tôi ngay!”.

Đấy chỉ là một vài chuyện nhỏ trong nhiều chuyện mà tôi  đã biết về vị GSTS – Nhà thơ nhập đồng Hoàng Quang Thuận.

Nguồn: Blog Bà Đầm Xòe

———————————————–

         Làm sáng tỏ những dư luận xung quanh Hoàng Quang Thuận

          Ông Hoàng Quang Thuận không lấy ô tô và sừng tê giác của em trai tôi!

          (Nội dung đáp lại comment của ông Minh Diện đăng trên blog Lê Thiếu Nhơn)

          Gửi ông Minh Diện,

          Tôi là Tăng Bình Trọng, anh ruột của Tăng Minh Phụng (vụ án Minh Phụng EPCO). Tôi sinh năm 1951, hiện nay là Giám đốc Công ty Minh Phụng, một cái tên Công ty nhiều người biết, có địa chỉ tại 278 Lãnh Bình Thăng, quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh. Điện thoại của tôi là 0903925154.

          Khi em trai tôi còn làm Giám đốc, ông làm việc với Công ty nhiều lần nên có biết tôi ít nhiều. Gần đây đọc blog của Lê Thiếu Nhơn, tôi thấy ông làm một việc quá thất đức. Em trai tôi đã mất, gia đình tan nát, ông lấy cái đau khổ đó để vu cáo, hãm hại người tốt, ngậm máu phun người là một đều bất nhân, bất nghĩa. Được biết ông trước đây là một nhà báo có tên tuổi, tôi không ngờ ông lại làm một việc như vậy. Ông Hoàng Quang Thuận không bao giờ và chưa bao giờ lấy ô tô của em tôi, chưa bao giờ lấy sừng tê giác của em tôi. Tất cả nhân chứng sống vẫn còn và có thể khẳng định điều đó. Vậy mà, ông Minh Diệu lại dựng lên một câu chuyện không có thật như vậy, ắt sẽ gặp quả báo.

          Ông Minh Diện không nên làm điều ác. Tôi viết những dòng này để cảnh báo lương tâm, đặc biệt của một người cầm bút như ông. Là một phật tử, cư sĩ tôi thấy phải cho cộng đồng mạng biết sự thật này.

Tăng Bình Trọngngày 12 tháng 9 năm 2012

(nguồn: Giáo dục & Thời đại)

 

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s