LÍNH MÀ EM

Nhân ngày Giáng Sinh xin gửi tới các chiến sỹ đang ngày đêm canh gác ngoài biên cương hải đảo một bài thơ rất nổi tiếng của Lý Thụy Ý.

ly thuy yCó nhiều người lầm tưởng đây là thơ của Phạm Tiến Duật vì được đăng trên tuyển tập thơ của ông do NXB Hội nhà văn VN xuất bản năm 2007.Nhưng theo nhà thơ Trần Mạnh Hảo thì nhà văn Lý Thụy Ý(viết báo và làm thơ trước 1975) mới chính là tác giả của bài thơ . Bản thân Phạm Tiến Duật có lần đã từng thừa nhận bài thơ ấy  không phải là thơ của ông(báo Tuổi trẻ ngày 04.11.2007 bài “Một người lính đặc biệt trên đường mòn huyền thoại” của Nguyễn Quang Thiều).Nhưng không hiểu  sao vẫn có sự nhầm lẫn đáng tiếc này?

Lính Mà Em (Lý Thụy Ý)

Mình trách anh hay hồi âm thư trễ
-Em đợi hoài! Em sẽ giận cho xem
Thư anh viết:- Bao giờ anh muốn thế
Hành quân hoài đấy chứ- Lính mà Em!

Anh gởi về em mấy cành hoa dại:
-Để làm quà không về được Noel
Không đi lễ nửa đêm cùng em gái
Thôi đừng buồn anh nhé- Lính mà em!

Anh kể chuyện hành quân nằm sương gối súng
Trăng tiền đồn không đủ viết thư đêm
Nên thư cho em nét mờ, chữ vụng
-Hãy hiểu dùm anh nhé- Lính mà Em!

Qua hành lang Eden ghi kỷ niệm
Buổi chiều mưa hai đứa đứng bên thềm
Anh che cho em khỏi ướt tà áo tím
-Anh quen rồi, không lạnh- Lính mà em

Ngày về phép anh hẹn mình dạo phố
Tay chinh nhân đan năm ngón tay mềm
Mình xót xa đời anh nhiều gian khổ
Anh cười buồn khẽ nói:- Lính mà em!

Ghét anh ghê! Chỉ được tài biện hộ

Làm “người ta” càng thương mến nhiều thêm
Nên xa lánh những cuộc vui thành phố
Để nhớ một người hay nói  LÍNH MÀ EM !

(Khói Lửa 20-1967)

Thư của tác giả gửi Trần Mạnh Hảo:

Kính gởi nhà thơ Trần Mạnh Hảo

Tôi tình cờ đọc được trên trang mạng của Nguyễn Trọng Tạo và Nguyễn Khắc Phục những luồng ý kiến về bài thơ “LÍNH MÀ EM” mà tôi là tác giả. Tôi, Lý Thụy Ý, viết báo và làm thơ tại Sài gòn trước 1975, đã viết “Lính mà em” khoảng năm 1967-1968. Bài thơ sau đó đăng lên tuần báo Văn nghệ Tiền phong của Sài gòn, tạo được tiếng vang cho tên tuổi Lý Thụy Ý, và được đưa vào thi phẩm “Khói lửa 20″…
Đó là tâm tư của một người con gái thời chiến yêu lính, “đặc sệt” chất “Em gái hậu phương”, nói với người tình lính chiến hay dùng “Lính mà em” để biện hộ cho những lần thất hứa…Tôi tin rằng nhiều người Sài gòn vẫn còn nhớ “Lính mà em” của Lý thụy Ý, vì bài thơ được hai nhạc sĩ Y Vân và Anh Thy phổ nhạc, Hùng Cường hát và phát đi phát lại trên đài phát thanh nhiều lần…
Tôi gởi kèm cho ông 2 bài thơ, 1 được cho là của nhà thơ Phạm Tiến Duật (Ông Nguyễn Khắc Phục gần như khẳng định ). Bài thơ có lẽ được chép qua những người không “thuộc” cho lắm nên lôm côm và mất ý, tôi tin nếu Phạm Tiến Duật làm, chắc chắn sẽ hay hơn nhiều! Và một “Lính mà Em” của chính tác giả, Lý Thụy Ý, để ông thấy rõ sự khác biệt giữa “thật” và “tam sao thất bổn”…Thật ra, tôi đã đọc nhiều “Lính mà em”…và thất vọng khi thấy câu chữ hầu như…chẳng còn gì ngoài ba từ “Lính mà em!”
Hy vọng với sự khách quan, ông cho vài ý kiến, và tôi cũng chỉ biết ngậm ngùi khi mà bài thơ nầy giờ đây cũng đã nằm chễm chệ trong tập thơ cuối cùng của nhà thơ Phạm Tiến Duật với những câu cú…đáng buồn!
Cũng xin nói thêm rằng, chỉ có “người ngoài cuộc” là nói Lính mà Em của Phạm Tiến Duật, còn bản thân ông thì không thừa nhận. Trên báo TUỔI TRẺ số ra ngày Chủ nhật- 4-11-2007, trong bài “Một người lính đặc biệt trên đường mòn huyền thoại” của nhà thơ Nguyễn Quang Thiều viết về Phạm Tiến Duật có đoạn:( xin trích nguyên văn )”…Khi tôi đến, ông lấy tập thơ tặng tôi và mở tập  thơ ra chỉ cho tôi xem một bài thơ và nói đó không phải là thơ của ông, nhưng vì yêu quí mà những người làm sách đã đưa bài thơ đó vào. Đó là bài “Lính mà Em”. Phạm Tiến Duật nói đây là bài thơ của một nhà thơ nào đó của Sài gòn viết trước 1975…”(Nguyễn Quang Thiều).
Thật ra, những dư luận cũng đã qua khá lâu, nhưng gần đây tôi mới tình cờ biết được nên nghĩ tác giả Lính Mà Em lên tiếng cũng không thừa, trước hết để tránh sự ngộ nhận không đáng có, thứ hai là đưa ra nguyên bản bài thơ để những người yêu Lính mà em có một bài thơ đúng nghĩa.
Hy vọng không làm phiền nhà thơ.
Chân thành cám ơn.
Lý Thụy Ý
Sài gòn 22- 12- 2012

Bài hát  :+ http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=IHMddNMHbs

+http://www.nhaccuatui.com/nghe?M=XgBxoyPjzO

Nhân đây nhớ lại bài “LÍNH 5 ĐỒNG” có từ những năm 1980 (không rõ tác giả)

LÍNH 5 ĐỒNG

Em bỏ tôi là phải lắm rồi

Lính quèn binh phục lại lôi thôi

Gia tài gói gọn ba lô cóc

Nó ở tây về hẳn hơn tôi

Tôi biết thân tôi lính 5 đồng

Làm gì có nổi áo nylon

Làm gì có những chiều thứ bảy

Đến để tặng em những đóa hồng

Nó ở tây về có máy khâu

Ra đường ăn mặc đúng mốt Âu

Chiều chiều mô-kích bay dạt phố

Ai cũng nhìn theo bảo nó giầu

Nó hẳn hơn tôi, bởi nó giầu

Nên em lấy nó có gì đâu

Cho dù nó hơn em nhiều tuổi

Em vẫn cứ yêu, vẫn gật đầu.

Nước ngoài tôi cũng đã từng đi

Cam bốt, Ai lao có lạ gì

Nhưng mà em cứ như không biết

Bởi lẽ tôi về chẳng có chi…

Em có nhớ không buổi chia tay

Lời thề hẹn ước vẫn còn đây

“Anh đi, em sẽ chờ anh mãi”

Thế mà giờ đã vội quên ngay

Ngày xưa hai đứa học chung trường

Tôi là cậu bé thật dễ thương

Và em yêu tôi từ dạo ấy

Mơ ước rồi đây sẽ chung đường

Em có nhớ chăng buổi ra trường

Chia tay hai đứa thật vấn vương

Em vào đại học, tôi đi lính

Hai đứa hai đường, phương mỗi phương

Năm xưa hai đứa khắc tên nhau

Trên cây liễu nhỏ ở bên cầu

Bao giờ có dịp đi qua đó

Xóa hộ cho tôi một chữ đầu

Rồi đây trên tay bế con ai

Khi được tin về một chàng trai

Xưa em đã yêu, giờ ngã xuống

Tôi biết rằng em chỉ thở dài./.

————————————

MỘT SỐ BÀI THƠ HAY :

MẸ TÔI

mẹ tôi dòng dõi nhà quê
trầu cau từ thuở chưa về làm dâu
áo sồi nâu, mấn bùn nâu
trắng trong dải yếm bắc cầu nên duyên


cha tôi chẳng đỗ trạng nguyên
ông đồ hay chữ thường quên việc nhà
mẹ tôi chẳng tiếng kêu ca
hai tay đồng áng lợn gà nồi niêu

chồng con duyên phận phải chiều
ca dao ru lúa câu Kiều ru con
gái trai mấy đứa vuông tròn
chiến tranh mình mẹ ngóng con, thờ chồng
bây giờ phố chật người đông
đứa nam đứa bắc nâu sồng mẹ thăm
(tuổi già đi lại khó khăn
thương con nhớ cháu đêm nằm chẳng yên)

mẹ tôi tóc bạc răng đen

nhớ thương xanh thắm một miền nhà quê.

NGUYỄN TRỌNG TẠO

——————————————

NGỒI BUỒN NHỚ MẸ TA XƯA

Bần thần hương huệ thơm đêm
Khói nhang vẽ nẻo đường lên Niết Bàn
Chân nhang lấm láp tro tàn
Xăm xăm bóng mẹ trần gian thuở nào

Mẹ ta không có yếm đào
Nón mê thay nón quai thao đội đầu
Rối ren tay bí tay bầu
Váy nhuộm bùn, áo nhuộm nâu bốn mùa

Cái cò… sung chát đào chua…
Câu ca mẹ hát gió đưa về trời
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết những lời mẹ ru

Bao giờ cho tới mùa thu
Trái hồng trái bưởi đánh đu giữa rằm
Cho giờ cho tới tháng Năm
Mẹ ra trải chiếu ta nằm đếm sao

Ngân Hà chẩy ngược lên cao
Quạt mo vỗ khúc nghêu ngao thằng Bờm…
Bao giờ đom đóm chập chờn
Trong leo lẻo những vui buồn xa xôi

Mẹ ru cái lẽ ở đời
Sữa nuôi phần xác, hát nuôi phần hồn
Bà ru mẹ… mẹ ru con
Liệu mai sau các con còn nhớ chăng

Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta… chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm bũng lưỡi lừa cá xương.

NGUYỄN DUY

Bình:

Nguyễn Duy là cây bút thơ lục bát đẳng cấp cao. Giọng lục bát của Nguyễn Duy cũng khá phong phú. Khi thì sâu lắng, thôn trang, mực thước, cổ điển. Lúc lại ba la bông lông, bụi bụi, phố phường, trẻ trung hiện đại. Mối quan tâm của thơ Nguyễn Duy cũng rộng. Hầu như cảnh đời, phận người nào trong đời này đều đã bước vào cõi thơ ông. Từ người mẹ, người bà, người vợ, người em gái gần gụi, hay thoáng qua chợt gặp, người nông dân, công nhân, người lính, người xa xứ; cảnh sắc thiên nhiên, mùa vụ, như cây lúa, cây tre, bông mai vàng, bông lục bình.v.v… Dường như Nguyễn Duy đã tạo ra cho thơ ông cả một đời sống, một thế giới. Trong cái thế giới thơ – và, thơ lục bát Nguyễn Duy đó thì thơ viết về người phụ nữ – bà, mẹ, vợ, người em gái – là một mảng thơ khá đặc sắc. Bài thơ Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa là một trong những bài hay nhất, gây xúc động nhất.

Buồn nhớ mẹ, mất mẹ là một nỗi buồn rất lớn, rất sâu. Sâu suốt kiếp người, nên nói không cùng, đi không hết. Sinh làm người, ai chả có mẹ, chả bắt đầu từ mẹ, từ hít hà, bú mớm, cưng nựng, lon ton, rồi lớn khôn, thành ra cái thằng con người trí thức, mơ mộng và rồi làm thơ. Thơ về mẹ, về những đoạn trường thành thân con người ấy.

Người mẹ nào sinh con, nuôi con chả chịu bao vất vả, người mẹ xứ quê – Quê Việt những năm 50, 60, 70 của thế kỷ trước, thế kỷ nô dịch – chiến tranh, càng thêm bội phần vất vả. Bản chất của thơ vốn là một tiếng ca buồn. Mẹ cũng buồn. Bởi vậy thơ lại là thơ về mẹ, sao cầm hết buồn? Nhưng, không hề chi, lo chi. Thơ là một cái buồn đẹp. Buồn của một loài trăng, đêm càng đen, càng sâu càng dứt lòng mình mà sáng. Mẹ là nỗi buồn nhân bản, buồn nhân thế. Thế thái, nhân tình có buồn cỡ mấy mẹ cũng cưu mang, ru nín được hết. Bởi vậy mang nỗi buồn mẹ vào thơ là mang điều kỳ vĩ vào cho cái đẹp. Thực là một công việc đáng làm biết mấy. Đứa con – nhà thơ kia đáng làm con của mẹ. Có đứa con nào dám so bì với hắn nữa. Chưa tin thì cứ hỏi mẹ Việt ngàn thuở qua thì rõ. Vậy mới bảo, lo chi, hề chi.
Ta đi trọn kiếp con người
Cũng không đi hết những lời mẹ ru…
Ý thơ tụng ca này, đặt vào ai cũng thành ra lố, thành ra nịnh hót rởm. Nhưng đặt trước tình mẹ thấy “nịnh” thế vẫn còn nhẹ, nhẹ hều. “Nghĩa mẹ như nước trong nguồn…”  cơ mà. Cội nguồn – gốc, lớn lao lắm. Nhưng ông Nguyễn Duy chớ vội sợ mẹ quỏ mà buông bút. Ông còn có thêm lời đáng giá để dâng mẹ.
Nhìn về quê mẹ xa xăm
Lòng ta chỗ ướt mẹ nằm đêm mưa
Ngồi buồn nhớ mẹ ta xưa
Miệng nhai cơm bũng lưỡi lừa cá xương…
Mẹ buồn và mẹ bao la, kỳ vỹ. Bởi vậy, viết về mẹ con có thể có lời buồn, nhưng là phận con đỏ, con thơ trước mẹ, con làm sao có tầm bao la, kỳ vỹ. Mẹ cũng quê mùa, giản dị, như áo nhuộm nâu, hơi ấm ổ rơm… Nhờ vậy con còn có cửa để mà về thưa thốt. Lời thơ giản dị, chân thành, thấm buồn và sâu lắng lẽ đời. Được mấy câu này, thế cũng đáng lắm. Hẳn mẹ vui lòng.

Đứa con nào chưa tin điều bày tỏ này, xin hãy về hỏi mẹ. Lòng ta chỗ ướt… ấy nơi mẹ đang chờ ta.

——————————————-

BỜ SÔNG VẪN GIÓ

Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió…
người không thấy về…
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối… một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh
Lệ xin giọt cuối để dành
Trên phần mộ mẹ, nương hình bóng cha
Cây cau cũ, giại hiên nhà
Còn nghe gió thổi sông xa một lần
Con xin ngắn lại đường gần
Một lần rồi mẹ hãy dần dần đi.

TRÚC THÔNG

Bình:
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió… người không thấy về…

Trong đời sống người dân miền châu thổ, con sông là nguồn sữa phù sa nuôi dưỡng cánh đồng. Ấy là xét về giá trị thời gian, mùa vụ. Về không gian thì hình ảnh con sông được xem là một điểm mốc hẹn mang giá trị lâu dài, có khi thành bất tử. Bất tử ngay cả khi nó đã bị lấp đi! Cái con sông – Bờ sông – xưa tiễn đưa, nay đang mong đợi, ở tình thơ này được tác giả xây dựng với cả hai yếu tố: không gian, thời gian và lồng cộng với hai biểu tượng tinh thần, là: lá ngô và làn gió. Một thời gian mang niềm thương nhớ khôn nguôi; một không gian không đổi dời; một tiếng gọi tha thiết đêm ngày của gió quê và một thứ sinh thể mang cái màu sắc thiên thu đã lay động lên, hoá thượng thanh khí lên, là chiếc lá ngô – nơi cõi phần ký ức. Bốn lực tác động tạo hình ảnh, hình tượng này, chúng đã hoá thân vào nhau làm Một – niềm hướng tưởng: Cố Hương.
Lá ngô lay ở bờ sông
Bờ sông vẫn gió… người không thấy về…
Xin người hãy trở về quê
Một lần cuối – một lần về cuối thôi
Về thương lại bến sông trôi
Về buồn lại đã một thời tóc xanh…

Nỗi nhớ quê hương trong tâm tưởng người tha hương mặn mòi, da diết lắm. Người ta xưa nay hằng: “Chiều chiều ra đứng ngõ sau…”, nhìn sông thấy khói sóng lúc cuối ngày mà buồn, nhìn trăng sáng đẹp mà nhớ. Vâng! Đến cả loài cầm thú cũng đã“ba năm quay đầu về núi…” kia mà.

Niềm tha hương ở thơ Bờ sông vẫn gió, với người mẹ – người đã dành cả quãng ngày xanh tuổi trẻ cho con cháu, nay da mồi, tóc bạc, tuổi đã ngả sang chiều mà vẫn chưa thực hiện được nguyện ước, về thăm quê hương bản quán, mà khoảng cách dặm đường nào có xa xôi: Con xin ngắn lại đường gần… Lẽ thường con người đứng trước khoảng cách “đường xa dặm thẳm” mới phải mong cho “ngắn lại”! Chính từ cái “nghịch lý” này mới hoạ rõ lên cái “nghịch phận”. Tình thơ bởi thế mới sâu nặng, mới ám ảnh. Và cũng bởi thế, không phải ngẫu nhiên trong một bài thơ ngắn, tác giả đã dụng từ “xin” tới ba lần: Xin người hãy trở về quê; Lệ xin giọt cuối để dành; Con xin ngắn lại đường gần. Từ “xin” trong ngôn ngữ tiếng Việt mang đậm tính thân phận, nhân tính, phật tính. Như, cầu xin, xin lỗi, xin phép, xin ăn, xin học v.v… Vậy nên từ này thường chỉ được dùng khi tấm lòng có việc thành kính, ai hoài. Bờ sông vẫn gió mang trong nó tâm thi thành và ai. Qua cái tâm thi này, niềm thân phận buồn thương, lệ tình mẫu tử đã lung linh ngời sáng lên tính luân lý và đạo lý sâu sắc.

Một điểm kỹ thuật, nhưng đầy sự dụng công cũng cần được soi tỏ.

Tổng lượng câu chữ của bài thơ là 12 câu, với 84 chữ. Một bài thơ có số lượng câu chữ giản thiểu như vậy, nhưng ở phần phân lượng chữ lại được nhà thơ sử dụng gia tăng, nhân đầy lên. Tính cả cụm từ “một lần” thì bài thơ có 7 chữ được sử dụng lặp đi lặp lại thành 24 lần chữ. Lặp ngôn tới tỷ lệ vậy mà khi thưởng thức, không phải người kỹ tính không dễ nhận ra. Ấy là bởi, trong một thi phẩm khi tình thơ, hồn thơ toả sáng lên, động vang lên, tạo ra một trường xung cảm mạnh mẽ giữa thi phẩm và người thưởng thức, thì khi ấy, tính hình thức, kỹ thuật đã trở thành một phương tiện cấu thành, biểu đạt của nội dung nghệ thuật; tình thơ khi ấy cất cánh bay thoát ra khỏi cái vỏ – ngôn ngữ, thơ đã đi từ cái cá thể – mang dấu vết ngôn ngữ và thân phận, đến nhập vào hợp thể, đồng vang nơi tiếng nói (thanh ngữ) chung. Đó là nơi cư ẩn truyền nối thiêng liêng của cõi phần tâm tình, tâm linh. Nơi mà kỹ thuật ngôn ngữ chỉ còn tồn tại như một nghi lễ trước bàn thờ tinh thần: Hồn Thơ Mầu Nhiệm!

Thi phẩm Bờ sông vẫn gió của nhà thơ Trúc Thông, quả là một đóng góp quý giá cho kho tàng nghệ thuật thơ lục bát nước nhà.

________________


MƯA
             Trời mưa bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?..

CA DAO
Ấy là tôi nói ngày xưa
Mẹ tôi tái giá – đò đưa theo dòng
Không mưa cũng thể phập phồng
Lừa tôi ngõ trước, mẹ vòng lối sau.

Ấy là tôi nói ca dao
Con chuồn chuồn ớt đậu vào đời tôi
Bà đừng ru nữa bà ơi
Vít thêm ngọn nắng mồng tơi dậu nhà.

Ấy là tôi nói áo hoa
Mẹ mua cho Tết tỉnh xa gửi về
Dì tôi dỗ: áo của dì
Để cho tôi mặc, không thì tôi không

Ghét lây bẩy sắc cầu vồng
Giá như biết chọn lối vòng cơn mưa.

NGUYỄN NGỌC LY

Bình:

Thơ Mưa – của tác giả Nguyễn Ngọc Ly ngỡ như vọng ra từ một tiếng khóc dài. Chữ thơ chẩy theo từng tiếng nấc nghẹn ngào, tức tưởi. Hai chữ “Ấy là…” vì vậy đã ba lần được láy, thốt. Lời thơ rất thật mà tình thơ thì lắng đọng. Chỉ có hai câu thơ cuối khổ thơ thứ hai và hai câu thơ kết bài là thấy dấu vết của sự làm thơ.

Không gian – Mưa trong bài thơ là cái không gian mượn của ca dao, “Trời mưa bong bóng phập phồng/ Mẹ đi lấy chồng con ở với ai?”. Nỗi tình ca dao xưa cũng tựa cảnh tình thơ nay: Mẹ tôi tái giá đò đưa theo dòng… Tình ca dao thì lấy mưa để so ví, làm tương hỗ gợi ra cảnh phân ly. Tình trong thơ Nguyễn Ngọc Ly thì: Không mưa cũng thể phập phồng… sự ngăn cách – phân ly, dù không hề mưa gió cũng đã rõ rồi. Cụm từ “cũng thể phập phồng” là thứ nỗi niềm mẹ – con xui lên, trào ra: mưa – nước mắt – chẳng cần đến tạo tác, hô ứng của giời đất.

Thơ Mưa ở khổ một và ba, giọng thơ mộc, trực. Riêng khổ thơ hai, giọng thơ mang tính tượng trưng, cách ngôn:
Ấy là tôi nói ca dao
Con chuồn chuồn ớt đậu vào đời tôi
Bà đừng ru nữa bà ơi
Vít thêm ngọn nắng mồng tơi dậu nhà…
Thể lục bát được viết khá điêu luyện. Tính tượng trưng ở câu thơ 4 gây cảm nhận thật sâu đắm. Ngỡ như nghe vẳng tiếng trẻ thút thít đang nuối chìm đi trong tiếng ru dỗ của người bà ngoại. Cảm động xiết bao!

Cũng là người nhà quê, nhà tôi trước đây cũng có một dậu mồng tơi và tôi thường ngày vẫn hái rau mồng tơi về nấu canh cua. Vậy mà tôi đâu có nhìn thấy hình ảnh nắng mồng tơi. Phải là người trong hoàn cảnh thơ MƯA, sống với cái nỗi nẫu nùng mất cha vắng mẹ mới có được cái biệt nhãn, để nhìn ra hình ảnh rớt mồng tơi của nắng. Đó là thứ nắng không chịu tàn rụng, nó cứ rớt trên bờ dậu và vì vậy màn đêm chưa thể buông, để trong lời ru mòn mỏi của người bà, đứa cháu thơ mới có phút nguôi ngoai mà đi vào giấc ngủ. Nắng mồng tơi – Qủa thực là một thứ nắng được tạo bởi Nguyễn Ngọc Ly. Ông đã rút lòng mình trao cho khoảng trời thi ca nước nhà thứ nắng đó.

Nhưng khoảng sâu lắng, thiêm thiếp ngủ của tình thơ cũng chỉ như một chút lặng, thoáng chốc lại bừng thức dậy. Tiếng khóc lại vọng lên, nối dài khi hai chữ “ Ấy là…” bắt nhịp cho khổ thơ ba xuất hiện. Ấy là khi chiếc áo hoa hiện về trong ngày Tết. Khác với khổ một, cung bậc tình cảm ở khổ ba đã được đẩy cao lên. Ngoài lòng than trách, giọng thơ còn có phần giận dỗi:

Dì tôi dỗ:  áo của dì
Để cho tôi mặc không thì tôi không…

Lời thơ không cầu kỳ, gọt đẽo. Bởi đây là lời trẻ nói thơ, nghe rất thật thà rất cảm lòng. Thơ có sức lay thức cả sự ngủ quên, vô tâm trước bổn phận làm người, trước đồng loại!

Bình thêm:
Ghét lây bẩy sắc cầu vồng
Giá như biết chọn lối vòng cơn mưa.

Thực là cách nghĩ của trẻ thơ.

Về phương diện người lớn, tôi nghĩ, nên mở rộng đường cho người mẹ trẻ ấy. Nỗi đời chưa dễ qua màu tóc xanh mà. Trách là trách ông chồng thứ hai kia. Hoàn cảnh thơ kể ra là có ngày cưới xin hẳn hoi: Tôi chắn lối trước mẹ vòng ngõ sau… Vậy thì ông ấy nấp bóng ở đâu mà chẳng ra an ủi đưa trẻ – con của người ông yêu, lấy một lời? Và tại sao, đã yêu được mẹ sao lại chẳng thương lấy con? Tổ tiên ta cũng đã dậy về đoạn trường ca dao này: “Con mình những trấu cùng tro/ Ta đi gánh nước tắm cho con mình…”

Nghĩ vậy, tôi lại bỗng ngờ về lối tìm hạnh phúc của người mẹ. Ngờ một chút thôi! Lớn hơn, tôi chia sẻ với cách chọn lối đi vòng của bà. Và rất cầu mong cho bà hạnh phúc!…

________________

Mẹ Của Anh – Xuân Quỳnh

Phải đâu mẹ của riêng anh
Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi
Mẹ tuy không đẻ không nuôi
Mà em ơn mẹ suốt đời chưa xong

Ngày xưa má mẹ cũng hồng
Bên anh mẹ thức lo từng cơn đau
Bây giờ tóc mẹ trắng phau
Để cho mái tóc trên đầu anh đen

Đâu con dốc nắng đường quen
Chợ xa gánh nặng mẹ lên mấy lần
Thương anh thương cả bước chân
Giống bàn chân mẹ tảo tần năm nao

Lời ru mẹ hát thuở nào
Chuyện xưa mẹ kể lẫn vào thơ anh
Nào là hoa bưởi hoa chanh
Nào câu quan họ mái đình cây đa

Xin đừng bắt chước câu ca
Đi về dối mẹ để mà yêu nhau
Mẹ không ghét bỏ em đâu
Yêu anh em đã là dâu trong nhà

Em xin hát tiếp lời ca
Ru anh sau nỗi lo âu nhọc nhằn
Hát tình yêu của chúng mình
Nhỏ nhoi giữa một trời xanh khôn cùng

Giữa ngàn hoa cỏ núi sông
Giữa lòng thương mẹ mênh mông không bờ
Chắc chiu từ những ngày xưa
Mẹ sinh anh để bây giờ cho em.

Cả bài thơ toát lên một tình yêu thương vô bờ về mẹ. “Phải đâu mẹ của riêng anh. Mẹ là mẹ của chúng mình đấy thôi“. Mẹ không phải là của riêng anh và kể từ ngày con về làm dâu thì con đã coi mẹ chồng cũng như là mẹ ruột của mình.
Thế nhưng, trong thực thực tế không phải ai cũng suy nghĩ được như nữ sĩ Xuân Quỳnh, chuyện đời “con chồng và dì ghẻ, Mẹ chồng và nàng dâu,…, cho đến bây giờ vẫn là những câu chuyện muôn thuở.

Đây là ý kiến của một bạn nữ, học chuyên văn. Một góc nhìn rất hay và xứng đáng để mỗi chàng trai, cô gái trước khi bước vào con đường hôn nhân xem xét và suy ngẫm về nghĩa vụ của mình:

“Tôi là dân chuyên văn nhưng nói thật tôi lại không thích thơ văn. Riêng những bài thơ hay và ý nghĩa thì tôi lại đọc, đọc để cảm nhận sự thiêng liêng của tình cảm, để không đánh mất đi cái tình người trong cuộc sống bon chen này. Bài thơ rất hay, rất ý nghĩa, có điều tôi thấy có bài thơ này mà không có bài thơ nói về mẹ vợ thì tôi cũng không thích nó. Tôi không phải là người sống theo chủ nghĩa cá nhân, đây là tôi chỉ xin được nói đôi điều quan điểm của mình về vấn đề này trong cuộc sống. Ở đời ai cũng nói con dâu phải có hiếu nghĩa với mẹ chồng, mẹ chồng nào cũng muốn có cô con dâu như thế, anh nào lấy vợ cũng muốn lấy cô vợ như thế. Đó hẳn là một điều tốt đẹp nên ai cũng muốn.

Tôi không phủ nhận điều này, nhưng những người đàn ông lấy vợ, hay những người mẹ chồng có bao giờ nghĩ con dâu của họ cũng là con gái của người ta không? Tôi chưa lập gia đình nhưng tôi thấy cái thực tại trong cuộc sống hôn nhân bây giờ nó có nhiều cái không công bằng lắm. Chẳng được mấy anh hiếu nghĩa với bố mẹ vợ.Chẳng được mấy người mẹ chồng hiểu được con dâu họ cũng cần báo đáp cha mẹ ruột.”

Gia đình tôi toàn con gái thôi, bố mẹ dành tất cả tình yêu thương cho chị em tôi. Cho chúng tôi hình hài này, cho chúng tôi một cuộc sống đầy đủ vật chất và tình thương. Dạy chúng tôi một biển trời kinh nghiệm sống, rèn cho chúng tôi một bản lĩnh vững vàng, dạy chúng tôi biết đứng dậy khi vấp ngã và luôn bên chúng tôi trong bất kỳ hoàn cảnh nảo. Tôi yêu bố mẹ tôi, tôi cũng sẽ yêu bố mẹ chồng tôi như bố mẹ tôi.

Nhưng tôi cũng mong muốn tìm một người yêu thương bố mẹ tôi như bố mẹ của người ta vậy. Bố mẹ đối với tôi chỉ có một, ông trời chỉ cho tôi 1 người bố và một người mẹ thôi. Cái gì có một thì đều là vô giá, và bố mẹ tôi cũng là một món quà vô giá mà tôi có được. Vậy thì những người đàn ông nếu yêu vợ hay yêu cả bố mẹ của vợ như bố mẹ của mình nhé.”

Còn về phần tôi, bản thân Tôi luôn tâm niệm : “Đừng để khi người ta gả con gái về nhà mình là người ta cảm thấy họ đang “mất đi” một người con”

( Sưu tầm)

TRÊN ĐƯỜNG THANH NIÊN(Việt Phương)

Ta đi yêu người ta yêu nhau
Người ta cũng là ta khác đâu
Ta yêu tình yêu người ta lắm
Say đắm bao nhiêu cái hôn đầu

Ta đi yêu người ta yêu nhau
Đêm chớ về khuya,  hương đượm lâu
Gió ơi gió hãy vừa đủ lạnh
Cho những lứa đôi chụm mái đầu

Ta rủ sóng hồ im lặng im
Thảm cỏ ven bờ êm thật êm
Trời sao mở hết chiều sâu thẳm
Hàng liễu thướt tha thả tóc mềm

Đừng có bao giờ dứt bỏ nhau
Yêu nữa, người ơi, chưa đủ đâu
Đôi nào cần nối tình dang dở
Đây trái tim ta hiến nhịp cầu

Ta hẹn Hồ Tây mỗi buổi chiều
Người về, ta cũng lại về theo
Chẳng đợi riêng ai, ta đợi cả
Nhân cuộc đời ta lên tình yêu 

——————————

   Я вас любил
TÔI YÊU EM 
Puskin

(Nguyên bản tiếng Nga)

Я вас любил: любовь еще, быть может,
В душе моей угасла не совсем;
Но пусть она вас больше не тревожит;
Я не хочу печалить вас ничем.
Я вас любил безмолвно, безнадежно,
То робостью, то ревностью томим;
Я вас любил так искренно, так нежно,
Как дай вам бог любимой быть другим.

(Bản dịch nghĩa)

Tôi đã yêu em: tình yêu hãy còn, có lẽ là
Trong lòng tôi (nó) đã không tắt hẳn;
Nhưng thôi, hãy để nó chẳng quấy rầy em thêm nữa.
Tôi không muốn làm phiền muộn em bởi bất cứ điều gì.
Tôi đã yêu em lặng thầm, không hy vọng,
Bị giày vò khi thì bởi sự rụt rè, khi thì bởi nỗi hờn ghen.
Tôi đã yêu em chân thành đến thế, dịu dàng đến thế,
Cầu Chúa cho em vẫn là người được yêu dấu như thế bởi người khác.

(Bản dịch thơ của Thúy Toàn) :Tôi yêu em

Tôi yêu em đến nay chừng có thể 
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai; 
Nhưng không để em bận lòng thêm chút nữa, 
Hay hồn em phải gợn sóng u hoài. 

Tôi yêu em âm thầm, không hy vọng,, 
Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen, 
Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm, 
Cầu cho em được người tình như tôi đã yêu em.

———————————————- 

CHUYỆN TÌNH NỔI TIẾNG ĐẰNG SAU BÀI THƠ DANH TIẾNG

“…Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm/Có những ngày trốn học bị đòn roi/Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất/Có một phần xương thịt của em tôi…”- Đằng sau mỗi câu thơ nổi tiếng ấy là một câu chuyện tình yêu nhiều nước mắt của nhà thơ Giang Nam.

Ở cái tuổi 83, nhà thơ Giang Nam vẫn còn minh mẫn, hàng ngày ông vẫn đánh vật với chữ nghĩa, những hội thảo, những trang hồi ký đang viết dở, tập dưỡng sinh và làm thơ tình tặng riêng cho… vợ.

Tôi hỏi ông về mối tình đầy cảm động giữa ông với bà Phạm Thị Triều, ông kể: “Ông bà gặp nhau tại Đá Bàn – căn cứ địa cách mạng của Khánh Hoà những năm kháng chiến. Gia đình bà khi đó có nghề làm mắm gia truyền tại Vĩnh Trường, Nha Trang. Chị em bà lớn lên đều lần lượt tham gia cách mạng. Còn ông, từ huyện Ninh Hoà ra Quy Nhơn học bậc cao đẳng tiểu học ở trường Quốc học. Khi Nhật đảo chính Pháp, trường đóng cửa, ông gánh theo sách vở trở lại quê nhà tham gia công tác của xã phụ trách công tác thiếu niên và thông tin tuyên truyền. Khi làm trưởng ban thông tin của xã, Giang Nam thường viết thơ văn gửi cho báo “Thắng” là tờ báo kháng chiến của Khánh Hoà, cũng là tờ báo kháng chiến đầu tiên của vùng Nam Trung bộ. Cũng nhờ viết thơ thường xuyên mà tỉnh đã có công văn xin ông về Ty Thông tin tham gia làm báo “Thắng”. Đó là một bước ngoặt trong cuộc đời Giang Nam để rồi ông đã gặp bà.

Cùng ở khối cơ quan Quân Dân Chính Đảng, thường xuyên được giáp mặt nhau nhưng cũng chỉ dám liếc nhìn chứ không nói chuyện riêng được lâu. Vì cái thời đó, cách mạng là trên hết. Cho đến ngày, ông có tên trong danh sách đi chiến trường. Thấy tình cảm cao đẹp của hai người đã chín muồi nên tổ chức đã gọi ông đến và nói: “Nếu yêu rồi thì phải xác định gắn với cách mạng, tình yêu của người lính phải luôn cao cả”. Niềm vui như vỡ òa, ông về tất bật chuẩn bị và nhờ tổ chức đứng ra chủ trì cho hôn nhân của ông. Sau đêm tân hôn đúng 2 ngày (vào đầu năm 1955), ông phải nhận nhiệm vụ mới ở Bình Định.

Khi chia tay, bà Triều tặng cho ông chiếc khăn tay và lá thư với lời nhắn nhủ ngắn gọn: “Hãy giữ gìn sức khỏe, tình yêu của em luôn trọn vẹn cho anh, mãi mãi là vậy và lớn thêm. Anh hãy sống cho lý tưởng cách mạng trước chứ đừng lo nghĩ cho em nhiều. Dù có bất cứ điều gì xảy ra, em cũng một lòng đợi anh, chung thủy với anh”. Ông bà và đồng đội hy vọng rằng chỉ hai năm sau sẽ được đoàn tụ theo tinh thần Hiệp định Genève giữa ta và Pháp, không ai nghĩ đó là cuộc chia ly không hẹn ngày về. Tuy sau đó, ông được tổ chức đưa về lại Nha Trang, được đưa vào Sài Gòn làm giấy tờ hợp pháp với tên họ, quê quán mới để dễ bề hoạt động. Dù sống ngay trên thành phố quê hương mình nhưng ông bà hoạt động ở 2 tuyến khác nhau, không được gặp mặt.

Trước khi ông viết bài thơ “Quê hương”, ông đã viết bài thơ “Lá thư thành phố” ở vùng đất đỏ miền đông Nam Bộ vào năm 1958 (bài này được in trên báo Thống Nhất) khi ông đang làm công cho một tư nhân thầu khoán có đoạn: “Con vẫn ăn chơi, em vẫn khỏe / Anh yên lòng nhé chốn xa xăm / Dây bầu sai trái bên đầu ngõ / Vẫn đợi anh về hái nấu canh – Con nhớ anh thường đếm biếng ngủ / Nó khóc làm em cũng khóc theo / Anh gửi về em manh áo cũ / Đắp cho con đỡ nhớ anh nhiều”. Bài thơ đã được viết từ chính những câu chuyện nước mắt của đời thường.

Vào những năm 1957-1958, ông và vợ ông ở hai tuyến công tác khác nhau nhưng lại may mắn gặp nhau khi đổi vùng vào Nam Bộ hoạt động. Vợ chồng ông thuê một căn nhà lá nhỏ trong một xóm lao động nghèo ở Biên Hòa để ở. Hàng ngày vợ ông đi bán bánh bò ngoài chợ, còn ông thì làm công cho cho một tư sản thầu khoán người Việt. Tuy cuộc sống nghèo khổ cơ cực nhưng vợ chồng ông rất vui vì lần đầu sau 4 năm làm lễ thành hôn trên căn cứ Đá Bàn (Ninh Hòa) mới có điều kiện ở gần nhau.

Rồi vợ ông sinh được một cháu gái. Đó là nỗi vui mừng to lớn đối với vợ chồng ông. Tuy nhiên vì công việc của chủ gắn với mỏ đá ở Long Khánh (Xuân Lộc) và con đường tỉnh lộ 2 La Gi – Hàm Tân (tỉnh Bình Tuy) nên ông phải thường xuyên sống xa nhà. Hàng tuần ông chỉ về nghỉ một lần. Bà thím nhà bên người đã cho ông thuê nhà, ái ngại với hoàn cảnh của vợ ông đã thường chạy qua lại giúp đỡ – khi thì đi chợ hộ, khi thì dỗ cháu bé ngủ. Cháu rất ngon, bụ bẫm dễ nuôi nhưng thỉnh thoảng có đêm cháu khóc mãi không ngủ được. Bà thím qua bế nó và bảo vợ ông: “Trẻ nhỏ coi vậy mà khôn lắm, nó nhớ cha nó đó. Cô coi có cái áo nào của chú đắp cho nó ngủ”. Không biết vì mồ hôi quen thuộc hay vì cái gì khác mà con ông sau đó nín khóc và ngủ ngon lành.

Hai năm sau ông viết bài thơ “Quê hương” lần này là dưới chân núi Hòn Dù, cách 40 cây số phía Tây thành phố Nha Trang, nơi đóng căn cứ bí mật của Tỉnh ủy Khánh Hòa lúc bấy giờ. Ông ngồi trong căn chòi nhỏ của mình dưới tán lá rừng, trước mắt là ngọn đèn dầu được che kín cả ba mặt chỉ trừ một chút ánh sáng rọi trên trang giấy. “Hầu như tôi đã viết một mạch không xóa sửa, hình ảnh cứ như được sắp xếp sắn và hiện ra đầu ngòi bút. Từng đoạn nước mắt tôi trào ra: Giặc bắn em rồi quăng mất xác / Chỉ vì em là du kích em ơi / Đau xé lòng anh chết nửa con người… và nhất là ở hai câu cuối cùng của bài: Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất / Có một phần xương thịt của em tôi – Y như máu thịt của người tôi yêu đã hóa thành những hạt bụi trộn vào mỗi hòn đất dù nhỏ nhất trên trái đất này. Tôi không ngờ bài thơ tôi viết trong giây phút đau đớn của đời mình lại trở thành một bài thơ tình yêu được người đọc yêu thích”.

Chiều hôm đó anh Phó Bí thư Tỉnh ủy gọi ông lên chỗ làm việc. Ông có linh cảm điều gì đó không bình thường mới xảy ra. Quả nhiên sau đó anh Phó Bí thư Tỉnh ủy đã nói thật: tin của cơ sở trong thành vừa báo cho biết vợ và con gái ông bị địch bắt trước đó hơn một năm đã bị chúng thủ tiêu, trong hoàn cảnh nào thì chưa xác minh được nhưng chắc chắn là không còn sống.

Ông choáng váng trước cái tin đột ngột ấy như trời vừa sập xuống đầu mình. Ông không đủ can đảm hỏi thêm điều gì nữa. Những kỷ niệm cũ, tình yêu e ấp vụng dại, những giận hờn và buổi chia tay đầy nước mắt, cả hai mẹ con điều khóc… bỗng sống dậy xót xa nhức nhối và rõ ràng cứ như mới xảy ra hôm qua. Và ông đã viết bài thơ “Quê hương” trong tâm trạng đau đớn tột cùng….

Tưởng rằng vợ con đã bị địch giết hại, nhưng bất ngờ, năm 1962, sau 3 năm bị bắt, vợ và con gái ông được thả về do không tìm ra căn cứ kết tội. Cô con gái nhỏ phải theo mẹ hết nhà giam này sang nhà giam khác, bà Triều phải đấu tranh quyết không chịu xa con, vì thế mà mẹ con vẫn được ở bên nhau vẹn toàn.

Gia đình nhỏ được đoàn tụ trong nước mắt. Thế nhưng ngay sau đó lại có điện của Khu ủy khu 6 gửi Tỉnh ủy Khánh Hoà điều ông lên bổ sung cho Ban Tuyên huấn Khu. Ông bà vừa gặp mặt lại phải một lần nữa chia tay để ông về cơ quan mới đóng ở vùng giáp ranh hai tỉnh Đăk Lăk và Tuyên Đức. Về Khu chưa được bao lâu ông được cử đi học Trường Đảng do Trung ương cục miền Nam mở ở Tây Ninh, sau đó ông được giữ lại công tác tại Hội Văn nghệ giải phóng với chức danh Phó Tổng Thư ký Hội.

Từ đó là quãng thời gian ông gắn bó với hoạt động văn nghệ giải phóng. Thêm một lần nữa ông lại phải chia ly với vợ con, năm 1968 bà Triều lại bị bắt lần hai vẫn với cô con gái nhỏ do sơ xuất của người giao liên đã để lộ đầu mối. Hai mẹ con bà bị địch buộc tội đưa ra tòa mấy lần nhưng không thành là nhờ một luật sư tốt bụng bào chữa giúp. Chính vì thế mà không bị đầy ra Côn Đảo. Mãi đến năm 1973, sau khi Hiệp định Paris về lập lại hoà bình ở Việt Nam được ký kết bà mới được phía bên kia trả về. Sau bao năm ly biệt, lúc này cô con gái cũng đã mười lăm tuổi, còn vợ chồng Giang Nam tuổi cũng đã cao nên không sinh thêm được người con nào nữa. Khi đất nước thống nhất vợ chồng Giang Nam tìm người luật sư kia khắp nơi để trả ơn nhưng không gặp.

Chưa hết, sau ngày giải phóng miền Nam, ông cùng với đội ngũ văn nghệ sĩ Hội văn nghệ giải phóng hoạt động tại T4 trước đây được giao kiện toàn các tổ chức văn nghệ của Sài Gòn. Còn vợ ông sau giải phóng vẫn tham gia công tác trong chính quyền mới tại Thành phố Nha Trang. Những tưởng sau những biến cố thăng trầm của cuộc đời cách mạng, giờ đây ông bà sẽ được đoàn tụ, nhưng không, còn một cuộc thiên di nữa khi năm 1978 ông được điều ra Hà Nội phụ trách mảng văn nghệ miền Nam kiêm Tổng biên tập báo Văn Nghệ.

Ngày ấy cơ quan Báo Văn Nghệ chưa có chỗ ở, ông phải ở tạm căn phòng vốn là phòng tắm tại cơ quan Hội Nhà văn ở 65 Nguyễn Du. Ông động viên bà ra Hà Nội ở, tưởng rằng đất nước hoà bình cuộc sống sẽ ổn định hơn nhưng khi từ Nha Trang ra, nhìn thấy cảnh ăn ở của ông bà đã oà khóc nức nở vì không thể tin ông làm “quan văn nghệ” Trung ương mà sống tạm bợ cơ hàn thế. Không quen với khí hậu miền Bắc bà đau ốm liên miên. Cực chẳng đã, ông đành để cho vợ trở lại Nha Trang, chịu cảnh vợ Nam chồng Bắc.

Khi tình hình Khánh Hoà có những thay đổi, tỉnh có đặt vấn đề với Trung ương xin ông về chỉ đạo khối tư tưởng văn hoá. Sau quá trình cân nhắc, trên đã đồng ý để ông về công tác tại quê nhà. Ông chính thức tiếp nhận vị trí Phó Chủ tịch Tỉnh Khánh Hoà. Từ đó cuộc sống gia đình của ông bà mới phần nào ổn định.

Bây giờ, mọi chuyện đã lùi xa. Sau bấy nhiêu dâu bể ông ngồi đó bên những dò lan vươn cành đu đưa trước làn gió biển. Vẫn gương mặt với đôi kính gọng đen mắt trắng bình thản trước thế sự. Cô con gái duy nhất của ông bà hai lần vào tù cùng mẹ nay đã là một phụ nữ ngoài năm mươi, hiện giữ cương vị Phó Giám đốc công ty vận tải biển.

Trong ngôi nhà thân thuộc, phía sau ông già nhỏ nhắn bên bàn viết vẫn có bóng dáng người bạn đời thấp thoáng ở phòng trong. Bà năm nay cũng đã bước qua tuổi 80, mắt chưa mờ nhưng chân thì đã chậm. Năm 2005, ông đã trải qua một cuộc phẫu thuật nối động mạch vành tim hiếm có. Trên thế giới phẫu thuật này chưa từng được tiến hành ở bệnh nhân trên tuổi bảy mươi. Ca phẫu thuật đã thành công. Bác sĩ người Pháp trực tiếp mổ biết ông nói và nghe tốt tiếng Pháp, đã đợi bằng được “bệnh nhân chiến trường” tỉnh lại để nói lời chúc mừng.

Căn nhà của vợ chồng ông đang ở hiện nay được bà Triều mua lại của một người quen từ trước giải phóng, căn nhà rộng rãi thoáng mát, phía trước hiên là thư phòng, bên trên có những dò lan ra hoa đều dặn- đó cũng là nơi Giang Nam ngồi đọc báo, sáng tác và tiếp khách mỗi ngày. Trong căn nhà ông bất cứ ai bước vào cũng thấy niềm vui và hạnh phúc của một đôi bạn ngoài 80 mà vẫn vui vẻ tình tứ như thuở nào. Ông bà sống giản dị, điềm đạm nhưng qua cách tiếp khách cũng đủ thấy họ trọng nghĩa tình.

Suốt cuộc đời ông chỉ yêu duy nhất một người, ở tuổi 83 nhưng lúc nào ông luôn gọi vợ bằng những từ ngọt ngào: em yêu, em thương… giống ngày son trẻ.Khi tôi ngỏ ý xin chụp một tấm ảnh ông bà sau cuộc trò chuyện, ông đứng dậy vào phòng gọi “Em ơi, có nhà báo xin chụp hình”. Khi bà đi ra, ông lại bảo “Ngồi đây em”, tôi bấm máy và cảm thấy tình yêu giữa họ có sức gắn kết bền chặt đến phi thường.

Trịnh Anh

QUÊ HƯƠNG

Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường 
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ 
“Ai bảo chăn trâu là khổ” 
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao 

Những ngày trốn học 
Đuổi bướm cầu ao 
Mẹ bắt được… 
Chưa đánh roi nào đã khóc! 
Có cô bé nhà bên 
Nhìn tôi cười khúc khích… 

Cách mạng bùng lên 
Rồi kháng chiến trường kỳ 
Quê tôi đầy bóng giặc 
Từ biệt mẹ, tôi đi 
Cô bé nhà bên (có ai ngờ!) 
Cũng vào du kích 
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích 
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) 

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời 
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại 
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi… 
Hòa bình tôi trở về đây 
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày 
Lại gặp em 
Thẹn thùng nép sau cánh cửa 
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ 
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!) 

Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi 
Em để yên trong tay tôi nóng bỏng… 
Hôm nay nhận được tin em 
Không tin được dù đó là sự thật 
Giặc bắn em rồi, quăng mất xác 
Chỉ vì em là du kích, em ơi! 

Đau xé lòng anh, chết nửa con người! 
Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm 
Có những ngày trốn học bị đòn, roi 
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất 
Có một phần xương thịt của em tôi. 

Giang Nam

————————————-

bài thơ “Núi Đôi” và tác giả Vũ Cao

Chuyen it biet ve bai tho 'Nui Doi' va tac gia Vu Cao  Được sáng tác từ năm 1956, đã hơn nửa thế kỷ từ khi bài thơ Núi Đôi ra đời, nhưng bài thơ đã và vẫn đang làm rung động tâm hồn không biết bao thế hệ thanh niên Việt Nam. Ít ai biết rằng, bài thơ đã được nhà thơ Vũ Cao sáng tác từ một câu chuyện tình có thật, bối cảnh có thật. Theo lời tác giả kể lại, trong bài thơ duy nhất chỉ có câu “Bảy năm về trước em mười bảy/Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng” là chi tiết hư cấu. Nhà thơ Vũ Cao từng tìm đến tận núi Đôi để viếng mộ cô gái, và 20 năm sau ngày viết bài thơ đã gặp nhân vật anh bộ đội trong bài thơ ấy…

Vì sao người 17 tuổi đã là người trẻ nhất làng?

“Bảy năm về trước em mười bảy/ Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng/ Xuân Dục, Đoài Đông hai cánh lúa/ Bữa thì em tới bữa anh sang. Lối ta đi giữa hai sườn núi/ Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi/ Em vẫn đùa anh sao khéo thế/ Núi chồng, núi vợ đứng song đôi”. Nhiều người nhận xét, những vần thơ chân thật mà đẹp như mơ của nhà thơ quê đất thành Nam ấy đã từng làm nao lòng bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Một thời, những người yêu bài thơ Núi Đôi thường băn khoăn tự hỏi: hai câu đầu tiên trong bài thơ khiến người ta nghĩ mãi mà không biết đó là vùng quê nào mà không có một bóng trẻ con, chỉ mới 17 tuổi mà đã là người trẻ nhất làng? Nếu sự thực như vậy thì vì sao làng này lại không có trẻ em? Không tìm được câu trả lời, có người nói, thơ ca chỉ là chuyện hư cấu, không có thực nên chẳng có ngôi làng nào như thế.

Nhưng chính nhà thơ Vũ Cao từng nói, nếu không có chất liệu cuộc sống hàng ngày thì ông không viết được. Ông từng kể với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng bài thơ Núi Đôi được ông viết vào một ngày cuối năm 1956. Hồi đó ông về công tác ở sư đoàn 312, đóng quân ở huyện Sóc Sơn (Hà Nội), cạnh đó có ngọn núi Đôi. Một hôm, theo mấy người dân đi chợ, ông nghe họ kể chuyện tình của một cô gái du kích trong làng yêu một anh trai làng, rồi anh đi bộ đội. Khi anh bộ đội trở về thì cô gái đã hy sinh.

Nghe vậy, Vũ Cao liền tìm đến thăm mộ người nữ liệt sỹ đó ở xóm Chùa, thôn Xuân Đoài (còn gọi là Xuân Dục – Đoài Đông), thuộc xã Phù Linh (còn gọi là Lạc Long), huyện Sóc Sơn, Hà Nội. Đến tận nơi và nghe người dân kể lại câu chuyện tình giữa anh bộ đội và cô du kích, cảm hứng xuất hiện khiến ông đã chấp bút viết ra bài thơ Núi Đôi ra đời đúng như câu chuyện có thật. Cả tên làng, tên chợ, tên người và quang cảnh đều hoàn toàn có thật. Mộ cô gái hiện nay vẫn còn. Chỉ có anh bộ đội là người yêu của cô du kích thì lúc ấy Vũ Cao không gặp được, không rõ còn sống hay đã mất.

Về lý do tại sao ngay trong hai câu thơ đầu, ông lại cho rằng đôi nam nữ, trong đó cô gái 17 tuổi và chàng trai đôi mươi là “trẻ nhất làng”?. Vũ Cao sau này nói với nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo rằng, ngay chính ông cũng không hiểu vì sao ông lại viết như vậy. Ông kể: “Quả thật hồi đó trong làng còn có cả trẻ nhỏ và thanh thiếu niên cùng trang lứa với họ. Có lẽ tôi đã quá cảm động trước chuyện tình đẹp như mơ và cũng đầy tình tiết bi kịch của đôi lứa ấy mà “thậm xưng” lên như vậy. Tuy nhiên, nói trẻ nhất làng thì cũng có khía cạnh không ngoa, vì ở lứa tuổi 17 – đôi mươi ấy, đó là lứa tuổi nhiều sức sống nhất, yêu tha thiết nhất và vì thế, người ta tiếc cho cuộc tình không thành vì giặc Pháp xâm chiếm quê hương, giết cô du kích”.

Sự đồng cảm lạ kỳ giữa nhà thơ – hình mẫu

Liệt sỹ Trần Thị Bắc

Hai ngọn núi Đôi bây giờ vẫn còn, người dân ở khu vực xã Phù Linh đều biết câu chuyện trong bài thơ cùng tên ngọn núi, hỏi ai cũng đều có thể nhận được câu trả lời: “Cô ấy chính là người làng này”.

Nhân vật nữ trong bài thơ chính là liệt sỹ Trần Thị Bắc, con gái đầu trong một gia đình có truyền thống yêu nước. Lớn lên trong thời kỳ giặc Pháp xâm lược, năm 15 tuổi Bắc đã tham gia các hoạt động đoàn thể. 17 tuổi cô vào đội du kích với nhiệm vụ làm giao thông liên lạc, tiếp tế cho đội du kích rồi được giao cả ba nhiệm vụ: quân báo, cứu thương và binh vận.

Ngày 21.3.1954, dẫn một đoàn cán bộ đi công tác, khi trở về núi Đôi thì Bắc gặp ổ phục kích của địch. Cô giao liên dù bị địch bịt miệng nhưng vẫn kịp thời la lớn để cảnh báo những người trong đoàn cùng đi phía sau, giúp các cán bộ chạy thoát. Tức tối, địch tra hỏi nhưng không khai thác được thông tin gì từ cô du kích gan dạ này. Giặc Pháp xử bắn Bắc ngay tại chỗ. Khi đồng đội tìm đến nơi thì Bắc đã tắt thở. Đồng đội đắp mộ cho cô ở khu vực cầu Cốn, Vệ Sơn, xã Tân Minh.

Người ta cũng xác định được nhân vật “Anh đi bộ đội sao trên mũ” ấy cũng là một người có thật: ông Trịnh Khanh, người cùng xã Phù Linh. Theo lời ông Khanh kể lại, ông và chị Bắc quen nhau trong thời gian Bắc đang học y tá, và đơn vị của ông đóng quân gần đó. Là đồng hương nên có nhiều điều quý mến nhau, giữa đôi trai gái này đã hẹn ước với nhau trước khi chị Bắc học xong khóa y tá rồi quay về Phù Linh.

Đầu năm 1953, ông Khanh và chị Bắc gặp lại nhau và hai người quyết định tổ chức đám cưới ngay tại đơn vị của chú rể. Đám cưới tổ chức đơn sơ, đại diện họ nhà trai là đồng đội cùng đơn vị, đại diện họ nhà gái là mẹ của Bắc. Vợ chồng sống với nhau được hai ngày thì chia tay, ông Khanh theo đơn vị chuyển quân đến địa điểm mới, chị Bắc trở về quê nhà Phù Linh. “Tôi không ngờ đó là cuộc chia ly vĩnh viễn”, ông Khanh nhớ lại.

Ba tháng sau ngày cưới, ông Khanh nhận được tin vợ mình đã hi sinh. Đau đớn nhưng không biết làm sao, ông tiếp tục theo đơn vị bước vào những trận đánh mới.

Khi Hiệp định Genève được ký kết, một buổi chiều cuối năm 1954, người ta nhìn thấy một anh bộ đội vai đeo ba lô bước về, nhưng không vào làng ngay mà ngồi thẫn thờ bên ngôi mộ chị Bắc ven gò Cầu Cốn. Ông Khanh nghẹn ngào như câu thơ Vũ Cao đã viết “Anh ngước nhìn lên hai dốc núi/ Hàng cây, bờ cỏ, con đường quen/ Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói/ Núi vẫn đôi mà anh mất em”. “Không hiểu vì sao nhà thơ Vũ Cao lại có thể đồng cảm, hiểu tâm trạng của người trong cuộc đến như thế”, ông Khanh nói.

Năm 1975, sau khi đất nước thống nhất, ông Khanh đã tới tìm gặp nhà thơ Vũ Cao, nhà thơ lúc đó mới bàng hoàng: “Thế Bắc có chồng rồi à?”

Bài thơ Núi Đôi “sém” thành… truyện ngắn

Theo nhà thơ Vũ Cao, khi mới bắt gặp câu chuyện, ông đã dự định sẽ viết một truyện ngắn về đề tài này chứ không phải là một bài thơ. “Không hiểu vì sao, sau khi đi thực tế, tứ thơ dâng lên và bài thơ ra đời”, nhà thơ Vũ Cao kể lại.

Hàng chục năm sau khi bài thơ ra đời, nhiều bạn đọc còn nhầm tưởng bối cảnh và tình huống trong bài thơ là của chính tác giả. Trong một lần nói chuyện với sinh viên Trường cao đẳng Sư phạm Hà Nội, thậm chí còn có một cô sinh viên nước mắt lưng tròng thầm thì với nhà thơ “Cháu thương bác quá”.

Nhà thơ Thanh Thảo từng nói, Vũ Cao là nhà thơ hiền hiếm có. Rằng Vũ Cao nổi tiếng sau kháng chiến chống Pháp với bài thơ Núi Đôi bất tử, Vũ Cao lẽ ra có thể nhân thành công đó để đưa thơ mình lên. Nhưng ông lại cứ như người bộ hành chậm rãi, nhường đường cho người khác, cho các nhà thơ khác. Vũ Cao từng nói, ông làm thơ mục đích cũng chỉ là để phục vụ bộ đội mà thôi.

Nguyễn Hồng Hạnh

Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954)
Liệt sĩ Trần Thị Bắc (sinh năm 1932 – mất ngày 21/3/1954)

——————

Núi đôi (Vũ Cao)

Bảy năm về trước em mười bảy

Anh mới đôi mươi trẻ nhất làng

Xuân Dục, Ðoài Ðông hai cánh lúa

Bữa thì em tới bữa anh sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi
Ðôi ngọn nên làng gọi Núi Ðôi
Em vẫn đùa anh: Sao khéo thế
Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới
Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau
Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn
Ðâu ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội lên Ðông Bắc
Chiến đấu quên mình năm lại năm
Mỗi bận dân công về lại hỏi
Ai người Xuân Dục Núi Ðôi chăng?

Anh nghĩ quê ta giặc chiếm rồi
Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi
Mỗi tin súng nổ vùng đai địch
Sương trắng người đi lại nhớ người.

Ðồng đội có nhau thường nhắc nhở
Trung du làng nước vẫn chờ trông
Núi Ðôi bốt dựng kề ba xóm
Em vẫn đi về những bến sông?

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại
Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi
Hành quân qua tắt đường sang huyện
Anh ghé thăm nhà thăm Núi Ðôi

Mới đến đầu ao tin sét đánh
Giặc giết em rồi, dưới gốc thông
Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa
Em sống trung thành, chết thuỷ chung

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi
Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen
Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói
Núi vẫn đôi mà anh mất em!

Dân chợ Phù Linh ai cũng bảo
Em còn trẻ lắm, nhất làng trong
Mấy năm cô ấy làm du kích
Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng

Từ núi qua thôn đường nghẽn lối
Xuân Dục Ðoài Ðông cỏ ngút đầy
Sân biến thành ao nhà đổ chái
Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất
Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau
Nứa gianh nửa mái lều che tạm
Sương nắng khuây dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ
Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều
Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc
Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu!

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ
Oán thù còn đó anh còn đây
Ở đâu cô gái làng Xuân Dục
Ðã chết vì dân giữa đất này? 

Ai viết tên em thành liệt sĩ
Bên những hàng bia trắng giữa đồng
Nhớ nhau anh gọi: em, đồng chí
Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội, sao trên mũ
Mãi mãi là sao sáng dẫn đường
Em sẽ là hoa trên đỉnh núi
Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

——————————————-

NHỚ CON SÔNG QUÊ HƯƠNG

Nhớ con sông quê hương(Tế Hanh)

Quê hương tôi có con sông xanh biếc
Nước gương trong soi tóc những hàng tre
Tâm hồn tôi là một buổi trưa hè
Tỏa nắng xuống lòng sông lấp loáng
Chẳng biết nước có giữ ngày, giữ tháng
Giữ bao nhiêu kỉ niệm giữa dòng trôi?
Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ

Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu
Khi bờ tre ríu rít tiếng chim kêu
Khi mặt nước chập chờn con cá nhảy
Bạn bè tôi tụm năm tụm bảy
Bầy chim non bơi lội trên sông
Tôi dang tay ôm nước vào lòng
Sông mở nước ôm tôi vào dạ

Chúng tôi lớn lên mỗi người mỗi ngả
Kẻ sớm khuya chài lưới bên sông
Kẻ cuốc cày mưa nắng ngoài đồng
Tôi cầm súng xa nhà đi kháng chiến
Nhưng lòng tôi như mưa nguồn, gió biển
Vẫn trở về lưu luyến bên sông
*
* *
Tôi hôm nay sống trong lòng miền Bắc
Sờ lên ngực nghe trái tim thầm nhắc
Hai tiếng thiêng liêng, hai tiếng “miền Nam”
Tôi nhớ không nguôi ánh nắng màu vàng
Tôi quên sao được sắc trời xanh biếc
Tôi nhớ cả những người không quen biết…

Có những trưa tôi đứng dưới hàng cây
Bỗng nghe dâng cả một nỗi tràn đầy
Hình ảnh con sông quê mát rượi
Lai láng chảy lòng tôi như suối tưới
Quê hương ơi! Lòng tôi cũng như sông
Tình Bắc Nam chung chảy một dòng
Không ghềnh thác nào ngăn cản được
Tôi sẽ lại nơi tôi hằng mơ ước
Tôi sẽ về sông nước của quê hương
Tôi sẽ về sông nước của tình thương…

(1956)

 QUÊ HƯƠNG (Tế Hanh)

Làng tôi ở vốn làm nghề chài lưới
Nước bao vây, cách biển nửa ngày sông
Khi trời trong, gió nhẹ, sớm mai hồng
Dân trai tráng bơi thuyền đi đánh cá

Chiếc thuyền nhẹ hăng như con tuấn mã
Phăng mái chèo, mạnh mẽ vượt trường giang
Cánh buồm giương to như mảnh hồn làng
Rướn thân trắng bao la thâu góp gió…

Ngày hôm sau, ồn ào trên bến đỗ
Khắp dân làng tấp nập đón ghe về
“Nhờ ơn trời biển lặng cá đầy ghe”
Những con cá tươi ngon thân bạc trắng

Dân chài lưới, làn da ngăm rám nắng
Cả thân hình nồng thở vị xa xăm
Chiếc thuyền im bến mỏi trở về nằm
Nghe chất muối thấm dần trong thớ vỏ

Nay xa cách lòng tôi luôn tưởng nhớ
Màu nước xanh, cá bạc, chiếc buồm vôi
Thoáng con thuyền rẽ sóng chạy ra khơi
Tôi thấy nhớ cái mùi nồng mặn quá!

———————————-

 

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s