TÌM HIỂU DANH HIỆU VIỆN SỸ VÀ VIỆN HÀN LÂM

LƯỢC KHẢO VỀ CÁC TÊN GỌI Viện hàn lâm và Viện sĩ CÙNG NHỮNG NHẦM LẪN TAI HẠI
Lê Mạnh Chiến
PHẦN THỮ NHẤT

I. Về Viện Hàn lâm (hay Hàn lâm viện trong Hán ngữ)
1. Hàn lâm viện ở Trung Hoa và ở Việt Nam thời xưa
Theo từ điển Từ hải, chữ hàn (trong Hàn lâm viện) vốn có nghĩa là một loai gà núi đẹp, gọi là cẩm kê, dịch sang tiếng Việt là “gà gấm”. Về sau, chữ hàn này còn có nghĩa là cái lông chim dài và cứng. Ngày xưa, ở châu Á cũng như ở châu Âu, người ta dùng những chiếc lông chim dài và cứng để làm bút viết, do đó, chữ hàn翰 lại có nghĩa là cái bút, và còn có thêm vài nghĩa khác nữa. Trong từ hàn lâm thì hàn nghĩa là bút, lâm nghĩa là rừng; hàn lâm có nghĩa đen là rừng bút, nghĩa bóng là văn đàn, là chốn tinh hoa về học thuật.Thời nhà Đường, năm Khai Nguyên thứ 26 (738), Đường Huyền Tông tuyển mộ các triều thần “văn hay chữ tốt” để soạn thảo các chiếu chỉ, mệnh lệnh, từ đó sinh ra chức quan Hàn lâm học sĩ (gọi tắt là Hàn lâm) và Hàn lâm viện, mà ngày nay chúng ta gọi là Viện hàn lâm. Thời Tống, quan Câu đương Hàn lâm viện (tức là chủ quản Hàn lâm viện) còn kiêm quản thiên văn, thư nghệ, đồ họa, y dược và cả việc bếp núc trà rượu của triều đình. Nhà Nguyên lập Hàn lâm học sĩ viện, về sau hợp với Quốc sử viện, gọi là Hàn lâm kiêm quốc sử viện. Thời Minh, Hàn lâm viện chính thức trở thành cơ quan ngoại vi của triều đình. Thời nhà Thanh, Hàn lâm viện vẫn đảm nhiệm việc biên soạn quốc sử, ghi chép lời nói và việc làm của hoàng đế, giảng kinh sử, thảo văn kiện có liên quan đến các quy định về lễ nghi.
Theo sách Lịch triều hiến chương loại chí (phần Quan chức chí) do Phan Huy Chú biên soạn thì ở Việt Nam, Hàn lâm viện được thành lập từ năm 1086, thời vua Lý Nhân tông, với Mac Hiển Tích là vị Hàn lâm học sĩ đầu tiên. Nhà Trần đặt chức Hàn lâm phụng chỉ để soạn thảo các chiếu chỉ thay nhà vua, thường do thái sư đảm nhiệm. Nhà Lê khi mới dựng nước cũng lập ngay Hàn lâm viện, do Nguyễn Trãi làm Hàn lâm phụng chỉ.
Phan Thanh Giản (1796 – 1867), vị tiến sĩ đầu tiên của đất Nam Kỳ, lúc mới đỗ đạt đã từng giữ chức Hàn lâm viện biên tu rồi thăng lên chức Hàn lâm viện kiểm thảo, thời vua Minh Mệnh
Nói tóm lại, dù là ở Trung Hoa hay ở Việt Nam, Hàn lâm viện là nơi tập trung những người có học vấn cao để thực hiện những công việc liên quan đến sách vở, trứ tác.
Từ “Hàn lâm viện” trong Hán ngữ được dịch sang tiếng Latin là Academia (xuất hiện năm 1508 – theo từ điển Robert), tương ứng với Academy, Académie, Академия trong các thứ tiếng Anh, Pháp và Nga (chữ Академия được phiên âm là Akademiya). Điều đó cũng được thể hiện trong Từ điển Annam -Latin (Dictionarium Anamitic – Latinum) của A.J.L. Taberd (in năm 1838).
2. Về các chữ Académie, Academy, Akademiya (trong tiếng Pháp, Anh, và Nga, tương ứng với Academia trong tiếng Latin, với nghĩa là Viện học thuật )
Trong cuốn Pháp – Việt từ điển (ra đời năm 1936) của cụ Đào Duy Anh, ở mục từ Académie, chúng ta thấy những lời dịch như sau:
1. Cái vườn mà Platon giảng triết học ở đó, gần thành Athènes;
2. Quốc gia học hội, bác-học-viện, hàn-lâm-viện, đại học hiệu, đai học khu.
3. Du kỹ trường, thể dục trường, như trường kỵ mã, trường đấu kiếm;
4. Bức họa người cổi truồng, khỏa thân họa.
Sau đó, tác giả nêu một số ví dụ:
-. Académie franÕaise: Pháp quốc hàn lâm viện (nay ta gọi là Viện hàn lâm Pháp)
– Académie des sciences: Khoa học viện (nay nên gọi là Viện hàn lâm khoa học Pháp)
– Académie des inscriptions et belles-lettres: Bi ký mỹ văn học viện ( =Viện HL Bi ký và Mỹ văn)
– Académie des sciences morales et politiques: Luân lý chính trị học viện
– Académie des beaux-arts: Mỹ thuật viện (có thể gọi là Viện hàn lâm nghệ thuật)
– Académie de médecine; Y khoa học viện (có thể gọi là Viện hàn lâm Y học)
– Académie d’agriculture: Nông phố học viện.( có thể gọi là Viện hàn lâm nông học)
(Bên cạnh tên của các cơ quan này đều có chữ Hán, chúng tôi xin phép bỏ bớt – LMC)
Tất cả các nghĩa 1, 2, 3, 4 đều được ghi trong từ điển Petit Larousse – cuốn từ điển Pháp ngữ rất thông dụng của người Pháp. Học giả Đào Duy Anh đã nêu đầy đủ và đã dịch đúng nghĩa.
Pháp – Việt từ điển được biên soạn trước năm 1936, khi mà chữ quốc ngữ mới được sử dụng rộng rãi trong vài chục năm nên còn chịu ảnh hưởng nặng nề của cách diễn đạt trong Hán ngữ. Trong 4 nghĩa trên đây thì nghĩa thứ hai là thông dụng nhất, có thể dịch sang tiếng Việt hiện nay bằng các cụm từ: Hội học thuật quốc gia; Viện hàn-lâm; Viện nghiên cứu; Học viện; Học hiệu, Trường đại học …
Chúng ta nhận thấy rằng, chỉ trong ví dụ đầu tiên thì chữ Académie mới được soạn giả gọi là Viện hàn lâm, còn trong các trường hợp khác thì được gọi là Viện hoặc Học viện. Nghĩa là, chỉ riêng Académie cao cấp nhất, có uy tín nhất, “danh giá” nhất thì cụ Đào Duy Anh mới gọi là Viện hàn lâm, một tên gọi mang tính tôn nghiêm, trịnh trọng, còn các Académie khác ở cấp thấp hơn thì gọi là viện, học viện. Nghĩa là, phải biết về hoạt động của từng Académie cụ thể để tìm cho nó một nghĩa tiếng Việt thích đáng. Người dịch phải có kiến thức và có trách nhiệm cao thì mới cân nhắc như thế.
Theo Từ điển Pháp – Việt của Viện khoa học xã hội Việt Nam do Lê Khả Kế chủ biên thì từ Académie được dịch sang tiếng Việt như sau; 1. viện hàn lâm; 2. hội (văn học nghệ thuật); 3. học viện. Académie militaire Học viện quân sự; 4. khu giáo dục (Pháp): Académie de Nancy khu giáo dục Năng-xi; 5. (họa) hình nghiên cứu khỏa thân. Như vậy là, ở đây thiếu hẳn nghĩa 1 và nghĩa 3 trong từ điển của Đào Duy Anh. Tuy nhiên, đó là những nghĩa rất ít gặp.
Chữ Academy trong tiếng Anh và chữ Akademiya trong tiếng Nga đều có các nghĩa 1, 2 và 3 như trong Từ điển của cụ Đào Duy Anh, nhưng không thấy có nghĩa thứ 4.
Ở Liên Xô trước đây và ở Liên bang Nga hiện nay, có khá nhiều trường đại học được gọi là Akademiya, ví dụ, Военно-воздущая академия = Đại học Không quân, Военно-медицинская академия = Đại học quân y; Академия общественных наук = Học viện khoa học xã hội (chính là trường đảng của Liên xô, nhưng các học viên người Việt cứ gọi là Viện hàn lâm khoa học xã hội).
Mặc dầu các quyển từ điển Pháp –Việt và Anh – Việt đều nêu nhiều nghĩa cho các chữ Académie, Academy để giúp người dịch lựa chọn trong từng trường hợp khi dịch sang tiếng Việt, nhưng trên sách báo ở Việt Nam từ nhiều chục năm nay, dường như tất cả các chữ này (cùng các chữ tương ứng trong các thứ tiếng khác) đều được dịch thành “viện hàn lâm”. Các sinh viên và nghiên cứu sinh Việt Nam học tại các trường của Liên Xô có tên trong các ví dụ vừa kể đều gọi các trường ấy là “viện hàn lâm”, như Viện hàn lâm không quân, Viện hàn lâm quân y, Viện hàn lâm khoa học xã hội. Gọi như thế là sai, vì Akademiya ở đây có nghĩa là trường học
Ở Anh, chữ Academy rất ít khi được dùng để đặt tên cho các viện nghiên cứu hoặc các trường học. Thế nhưng ở Việt Nam hiện nay có một số trường mang tên bằng tiếng Anh có chữ đó, ví dụ: Hanoi Academy (không thấy tên bằng tiếng Việt, và tôi cũng chưa biết dó là trường gì), Academy of Finance (Học viện Tài chính), Ho Chi Minh National Academy of Politics and Public Administration (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh). Phải chăng, đó là sự bắt chước từ tiếng Nga?
Hiện nay, người Việt Nam vẫn thường nói đến Viện hàn lâm. Nhưng, ở Trung Quốc, Đài Loan, Hong Kong, Macao thì các viện nghiên cứu lớn nhất hoặc các Academy nổi tiếng trên thế giới đều được dịch sang Hán ngữ là Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật….chứ không bao giờ gọi là Hàn lâm viện. Ví dụ, Académie franÕaise được gọi là Pháp-lan-tây học thuật viện, tức là Viện học thuật Pháp; Russian Academy of Sciences mà ta gọi là Viện hàn lâm khoa học Nga, thì người Trung quốc gọi là Nga-la-tư khoa học viện, tức là Viện khoa học Nga
Chữ Academy (Académie, Akademiya…..) được dịch sang tiếng Việt là Viện hàn lâm hay Viện, Học viện, Viện nghiên cứu, Viện học thuật, Hội học thuật…. là do sự cân nhắc của người dịch. Uy tín của mỗi Viện không phụ thuộc vào chữ Academy mà là do những thành tựu của nó trong quá khứ và hiện tại tạo nên. Ở nước Anh, cơ quan khoa học sang trọng nhất, danh tiếng vào bậc nhất thế giới, được thành lập từ năm 1660, có tên là Royal Society = Hội Hoàng gia, để cho rõ hơn một chút, ta có thể dịch là Học hội Hoàng gia . Cái tên đầy đủ của nó thì lại càng “bình dân” hơn nữa: The Royal Society of London for Improving Natural Knowledge = Hội Hoàng gia Luân Đôn nhằm cải tiến tri thức tự nhiên. Trong khi đó, British Academy, tưởng như là cơ quan học thuật cao nhất lại là một viện về khoa học xã hội và nhân văn, được thành lập năm 1902, ít danh tiếng hơn rất nhiều. Hiện nay ở nước ta hầu như chữ Academy (Académie, Akademiya…..) được đồng nhất hóa với Viện hàn lâm và mặc nhiên trở nên hết sức khả kính, rất ít khi người ta để ý đến thực chất của nó trong từng trường hợp cụ thể.
3. Viện hàn lâm Pháp
Tầng lớp thanh niên trí thức Việt Nam hồi đầu thế kỷ 20 luôn luôn giàu lòng yêu nước và có hoài bão chống thực dân Pháp để giành độc lập cho nước nhà. Nhưng họ luôn luôn trân trọng, thậm chí, say mê những giá trị cao đẹp của nền văn hóa Pháp, với nhiều danh nhân có tên tuổi lẫy lừng, cống hiến rất nhiều cho nền văn minh của nhân loại. Tôi được biết và tin điều đó từ khi còn rất nhỏ do nghe lỏm các cuộc trò chuyện giữa cụ thân sinh và các bạn học của ông – những người đã tốt nghiệp Cao đẳng Đông Dương (École des Hautes Études Indochinoises), đồng môn và cùng lứa với các liệt sĩ cách mang Nguyễn Thái Học và Phó Đức Chính.
Ở Pháp có một tổ chức học thuật có tên là Institut de France (Hiệp hội học thuật Pháp), được thành lập năm 1795, gồm 5 Viện (Académie) trong số 7 viện mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến ở mục từ Académie trong quyển Pháp – Việt từ điển của ông. Đó là:
Académie franÕaise = Viện Hàn lâm Pháp, thành lập năm 1635
Académie des sciences = Viện Khoa học (tự nhiên) Pháp, thành lập năm 1666
Académie des inscriptions et belles-lettre = Viện Bi ký và Mỹ văn, thành lập năm1663
Académie des sciences morales et politiques = Viện Luân lý và Chính trị, thành lập năm 1785
Académie des beaux-arts = Viện Mỹ thuật, thành lập năm 1815.
Trong số 5 viện này, Académie franÕaise – Viện hàn lâm Pháp (ở Trung Quốc người ta gọi là Viện học thuật Pháp) được thành lập sớm nhất, quan trọng và “danh giá“ hơn hẳn các viện khác.
Do Hồng y Giáo chủ Richelieu thành lập năm 1635 dưới thời vua Louis XIII, Viện hàn lâm Pháp được giao nhiệm vụ trước tiên là tiêu chuẩn hóa và hoàn thiện ngôn ngữ Pháp, xây dựng những quy tắc ngữ pháp làm cho tiếng Pháp càng thêm trong sáng và dễ hiểu. Trên tinh thần đó, Viện này bắt đầu biên soạn một bộ từ điển có tên là Dictionnaire de l’Académie française (Từ điển của Viện hàn lâm Pháp) xuất bản lần đầu tiên vào năm 1694, sau đó, không ngừng được bổ sung và cải tiến. Lần xuất bản thứ 8 diễn ra trong những năm 1933 – 1935. Hiện nay, lần xuất bản thứ 9 đã in được 3 tập, còn thiếu tập 4. Hàng năm, Viện tổ chức nhiều cuộc hội thảo giới thiệu các tác phẩm, xét duyệt và trao tặng các giải thưởng cho các công trình khoa học có giá trị lớn.
Viện Hàn lâm Pháp gồm 40 “ghế bành” (fauteuil), tập hợp những nhân vật nổi tiếng trong đời sống văn học (thơ ca, tiểu thuyết, kịch nghệ, phê bình), các nhà triết học, các nhà sử học cùng các nhà khoa học tự nhiên. Ngoài ra, nò còn thu hút các tướng lĩnh, các chính khách, các chức sắc tôn giáo nổi tiếng. Phải là tác giả của những tác phẩm lớn để lại cho đời sau thì mới được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp và được “giữ ghế” suốt đời (trừ khi có hành vi bất chính). Họ được gọi là những người bất tử (immortels) của nước Pháp, và đương nhiên, đều là công dân Pháp. Mỗi khi có một viện sĩ (académicien) qua đời thì Viện sẽ bầu một viện sĩ mới để thay vào chỗ trống. Nhà tư tưởng vĩ đại Montesquieu, các đại văn hào Voltaire, Victor Hugo, Alexandre Dumas (con), các nhà toán học Joseph Fourier và Jean le Rond d’Alembert, nhà bác học Louis Pasteur, v.v. là những tên tuổi sáng ngời đã được bầu vào Viện Hàn lâm Pháp. Năm 1855, người ta đã đặt thêm chiếc “ghế bành thứ 41” (tượng trưng) dành cho những con người đúng là “bất tử” nhưng suốt đời không bao giờ có dịp bước vào cửa của Viện hàm lâm Pháp. Trong số đó, cần phải kể đến những tên tuổi quen thuộc với độc giả Việt Nam như Descartes, Molière, Pascal, Rousseau, Diderot, Balzac, Dumas (cha), Stendhal, Maupassant, Baudelaire, Zola, Daudet, Proust, v.v.
Trong lịch sử của Viện Hàn lâm Pháp, đã có những viện sĩ bị phế truất vì có hành vi bất chính.
Viện sĩ Hàn lâm Pháp được bầu gần đây nhất là ông Jules Alphonse Nicolas Hoffmann (viết gọn là Jules Hoffmann), một nhà sinh vật học gốc Luxembourg, được trao tặng giải thưởng Nobel về Sinh lý học và Y học năm 2011 cùng với Bruce Alan Butler (Mỹ) và Ralph Marvin Steinman (Canada). Ông sinh năm 1941, là viện sĩ của Viện HL khoa học Pháp (Académie des sciences) từ năm 1992, chủ tịch của Viện này trong những năm 2007 – 2008, trở thành Viện sĩ thứ 726 (trên thực tế là thứ 722 vì có 4 viện sĩ đã bị phế truất, trong đó có Henri Philippe Pétain, vốn là anh hùng dân tộc của Pháp trong Đại chiến I nhưng phạm tội phản quốc trong Đại chiến II) của Viện Hàn lâm Pháp từ ngày 01/3/2012.
Trong những năm cuối thế kỷ 20, có một Viện sĩ Hàn lâm Pháp khá quen thuộc với khán giả truyền hình Việt Nam. Đó là ông Jacques-Yves Cousteau (1910 – 1997), nhà thám hiểm hải dương học huyền thoại, cũng là người sáng chế những bộ áo lặn và thiết bị lặn hiện đại đắc dụng nhất, đồng thời là tác giả của nhiều bộ phim và nhiều quyển sách kỳ thú về thế giới sinh vật dưới đáy biển. Ông được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Pháp ngày 24/11/1988.
Viện Hàn lâm Pháp không phải là một cơ quan nghiên cứu khoa học, mà là “ngôi đền” tôn vinh các nhà khoa học, các nhà văn hóa đã đạt những thành tựu to lớn có ảnh hưởng lâu dài ở trong và ngoài nước Pháp. Đây cũng là tổ chức có uy tín nhất có tác dụng khuyến khích, biểu dương kịp thời những công trình khoa học, văn học và những tài năng mới xuất hiện, bằng những hoạt động như hội thảo, giới thiệu, xuất bản các tác phẩm. Việc hoàn thiện văn phạm và từ điển tiếng Pháp được coi là một nhiệm vụ hết sức quan trọng và thường xuyên. Đó là một điều khiến chúng ta rất đáng suy nghĩ.
Ở Pháp, ngoài 7 cơ quan có tên là Académie… mà học giả Đào Duy Anh đã nhắc đến, còn có một số cơ quan nữa cũng được gọi là Académie. Nếu tất cả các Académie ở Pháp không phải là trường học (mà là các viện) đều được gọi là Viện hàn lâm thì nước Pháp có chừng một chục Viện hàn lâm, trong số đó, Viện hàn lâm Pháp, tức Académie franÕaise là lâu đời nhất, danh giá nhất, được ngưỡng mộ nhất, ai cũng biết. Mọi người chỉ cần gọi nó là l’Académie (nghĩa là Viện hàn lâm, không cần có chữ franÕaise nghĩa là của nước Pháp), giống như ở Việt Nam người ta nói đại hội Đảng có nghĩa là đại hội của Đảng cộng sản Việt Nam ..Nhưng khi nói đến một Viện hàn lâm khác thì nhất thiết phải gọi đầy đủ tên của nó.
4. Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, Viện hàn lâm khoa học Nga
Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô tồn tại từ năm 1925 đến năm 1991, là cơ quan nghiên cứu khoa học cao nhất của Liên Xô, trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng Liên Xô, có tên theo tiếng Nga là Академия наук СССР, tên tiếng Anh là USSR Academy of Sciences. Tiền thân của nó là Viện hàn lâm khoa học Nga, do Pyotr Đại đế thành lập năm 1724 tại Saint Petersburg theo khuôn mẫu của Tây Âu (gần giống như Académie des sciences của Pháp ở Paris) nhưng phụ thuộc nhà nước nhiều hơn. Trong thời gian 1917 – 1925, có 69 viện sĩ. Sau khi chuyển thành Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, nó được tổ chức lại theo mô hình mới hoàn toàn và có quy mô càng ngày càng to lớn. Năm 1934, chuyển trú sở từ Petrograd về Moskva. Lúc này, có 80 viện chuyên ngành, với khoảng 2000 nghiên cứu viên. Đến năm 1940, các con số đó đã tăng gấp đôi. Năm 1936 có 98 viện sĩ (akademik). Năm 1985, có 330 cơ quan khoa học, với 57 ngàn cán bộ nghiên cứu, một nửa trong số đó là tiến sĩ và phó tiến sĩ (mà ở Việt Nam đã được nâng bậc thành tiến sĩ). Năm 1989 có 323 viện sĩ, 586 thành viên thông tấn, 138 thành viên nước ngoài.
Viện hàn lâm khoa học Liên Xô là viện lớn nhất và “danh giá” nhất ở Liên Xô, bên cạnh nó còn có một số Viện hàn lâm chuyên ngành về kiến trúc, y học, nông nghiệp, sư phạm, nghệ thuật, v.v. Ngoài ra mỗi nước cộng hòa xô viết đều có một Viện hàn lâm khoa học, khiến tổng số các Viện hàn lâm ở Liên xô lên đến nhiều chục. Các nước xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu cũng thành lập các viện hàn lâm khoa học theo mô hình của Liên Xô.
Ngày 21/11/1991, Tổng thống Liên bang Nga ký sắc lệnh tái lập Viện hàn lâm khoa học Nga với tư cách là cơ quan thừa kế hoàn toàn của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô.. Cơ cấu tổ chức từ thời Liên Xô vẫn được giữ nguyên. Hiện nay, Viện hàn lâm khoa học Nga có 3 chi nhánh (ở Siberia, ở Ural và ở Viễn đông.) và 15 trung tâm ở các vùng. Đến cuối năm 2011, Viện hàn lâm khoa học Nga có 531 viện sĩ (akademik) và 769 thành viên thông tấn.
Trong những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, những người thuộc thế hệ cha mẹ chúng tôi vẫn chưa già lắm, chỉ mới trên dưới 60 tuổi. Họ cùng với những thanh niên học sinh thuộc lớp con cái của mình được nghe rất nhiều điều kỳ diệu về một nền khoa học đang phát triển rực rỡ ở Liên bang Xô-viết mà trụ cột của nó là Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Những thành tựu khoa học vĩ đại có thật của nó, như việc chế tạo vũ khí nguyên tử, phóng vệ tinh nhân tạo và con tàu vũ trụ đã khiến cả thế giới phải khâm phục.
Mặt khác, đã xẩy ra rất nhiều sự việc tệ hại liên quan đến Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Điển hình nhất là sự tác oai tác quái của Trofim Denisovich Lysenko (1898 – 1976), kẻ khởi xướng một khuynh hướng khoa học giả hiệu trong sinh vật học và khống chế khoa học nông nghiệp ở Liên Xô từ khoảng năm 1935 đến 1960. Ông ta đã dùng quyền lực chính trị để giết hại nhiều nhà bác học có ý kiến khác mình, bắt bớ và giam cầm khiến họ bị chết trong tù, ví duj như Nikolai Ivanovich Vavilov (1887 – 1943), nhà di truyền học xuất sắc nhất của Liên Xô đã bị bắt giam năm 1940 và chết trong nhà tù ở Saratov ngày 26/01/1943 vì thiếu dinh dưỡng.
【Theo website poeples.ru bằng tiếng Nga chuyên giới thiệu tiểu sử các nhân vật nổi tiếng, tại trang http://www.peoples.ru/science/botany/vavilov/index.html ghi tiểu sử của N.I. Vavilov thì nhà bác học này bị tuyên án tử hình ngày 09/7/1941 cùng với nhiều người khác nhưng đến ngày hành quyết là 28/7/1941 thì một mình ông đươc hoãn lại, và đến ngày 23/6/1942, được giảm mức án xuống 20 năm tù, nhưng chỉ nửa năm sau đó thì ông qua đời. Sergei Pavlovich Korolev (.1907 – 1966), tác giả của tên lửa vũ trụ Xô-viết cũng phải ở tù từ ngáy 22/6/1938 đến ngày 27/6/1944.】
Tuy nhiên,những sự thật đen tối như vậy đã được giữ kín, chỉ những người thân của các nạn nhân mới biết nên hầu như không ảnh hưởng đến uy tín của Viện Hàn lâm khoa học Liên Xô.trong lòng nhân dân Việt Nam.
II. Về tên gọi “Viện sĩ”
1. Thế nào là Viện sĩ ?
Câu hỏi này tưởng như là do một kẻ dốt đặc nêu ra, nhưng không hẳn như thế.
Theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên thì, viện sĩ là thành viên viện hàn lâm (thường là viện hàn lâm khoa học).
Định nghĩa như vậy, xem qua thì thấy không có gì sai, nhưng nghĩ kỹ thì thấy còn chưa ổn.
Trong một Viện hàn lâm thì các Viện sĩ phải là những người quyết định các vấn đề khoa học thuộc chương trình hành động của Viện. Đành rằng, trong Viện hàn lâm cũng có ông chủ tịch và các ông trưởng ban nọ, trưởng bộ phận kia, nhưng đó chỉ là những chức vụ về tổ chức chứ không có ý nghĩa quyết định trong các vấn đề khoa học.Trong khoa học, ông chủ tịch Viện hàn lâm cũng là một Viện sĩ, lá phiếu của ông ta không thể có “trọng lượng” hơn lá phiếu của các Viện sĩ khác. Những người chỉ được tham dự một số công việc của Viện hàn lâm thì không thể gọi là Viện sĩ. Các viện nghiên cứu của nước ngoài mà tiếng Việt hiện nay gọi là Viện hàn lâm đều mang các chữ Academy, Académie, và Akademiya trong tiếng Anh, tiếng Pháp và tiếng Nga. Các thành viên trụ cột của các viện nghiên cứu ấy ở Anh, Pháp và Nga được gọi là Acadenician, Académicien, Akademik mới đích xác là viện sĩ. Ở một số Viện hàn lâm của các nước châu Âu, nhiều khi còn có các thành viên ở ngạch thấp hơn, không có tư cách của viện sĩ.
Sau đây, tôi xin viện dẫn mục Члены РАН trong bài Росси́йская акаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga) tại từ điển Wikipedia tiếng Nga (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia.
. Члены РАН (Nguồn : http://ru.wikipedia.org/wiki/Российская_академия_наук)
Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН (академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАН избираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения. Членами-корреспондентами РАН избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.
По состоянию на 23 декабря 2011 года среди членов РАН были 531 академик и 769 членов-корреспондентов.
(Последнее изменение этой страницы: 15:35, 22 сентября 2012)

Xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm KH Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:
Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga
Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ – akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn.
Theo tình trạng đến ngày 23/12/2011, trong số các thành viên của RAS đã có 531 viện sĩ và 679 thành viên thông tấn (LMC dịch) (Sự thay đổi gần đây nhất của trang này là vào hổi 15h23’ ngày 22.0.2002 ?? )
Như vậy, theo từ điển Wikipedia tiếng Nga thì Viện hàn lâm khoa học Nga có hai ngạch thành viên. Thứ nhất là thành viên chính thức (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa phải là thành viên chính thức, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, nếu gọi họ là viện sĩ thông tấn. thì sai, chữ “viện sĩ” (akademịk) phải dành cho thành viên chính thức.
Còn một ngạch thành viên nữa nhưng không được nhắc đến trong văn bản tiếng Nga này, đó là thành viên nước ngoài hay thành viên ngoại tịch, tiếng Nga là иностранный член, mà ở nước ta đã có 5 người được nhận danh hiệu này, người ta vẫn gọi họ là Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô). Gọi như vậy là không đúng. Phải chăng, đây là ngạch thành viên thứ yếu, có tính chất hình thức, lễ nghi, không quan trọng cho nên từ điển Wikipedia tiếng Nga đã bỏ qua? Quả thật, khó mà có cách giải thích khác hơn. Tuy thế, nó vẫn được nhắc đến trong văn bản tiếng Anh tương ứng trên Wikipedia (dành cho đông đảo độc giả trên thế giới), như sau:
Membership
There are three types of membership in the RAS: full members (academicians), corresponding members and foreign members. Academicians and corresponding members must be citizens of the
Russian Federation when elected. However, some academicians and corresponding members had been elected before the collapse of the USSR and are now citizens of other countries. Members of RAS are elected based on their scientific contributions – election to membership is considered very prestigious. As of 2005-2007 there are just under 500 full members in the academy and a similar number of corresponding members.
(Nguồn: mục Membership trong bài Russian Academy of Sciences, Wikipedia tiếng Anh)
Dịch sang tiếng Việt:
Tư cách thành viên (của Viện hàn lâm khoa học Nga)
Có ba ngạch tư cách thành viên trong Viện hàn lâm khoa học Nga: thành viên có tư cách đầy đủ, tức là thành viên chính thức, là viện sĩ (academician), thành viên thông tấn (corresponding member) và thành viên nước ngoài (foreign member). Các viện sĩ và các thành viên thông tấn phải là công dân của Liên bang Nga khi được bầu. Tuy vậy, một số viện sĩ và thành viên thông tấn đã được bầu trước khi Liên Xô sụp đổ, hiện nay là công dân mới của các nước khác. Các thành viên của RAS được bầu dựa trên những cống hiến khoa học của họ, người được bầu làm thành viên được coi là rất có danh giá. Trong những năm 2005 – 2007, ở Viện hàn lâm khoa học Nga có gần 500 thành viên chính thức và khoảng ngần ấy thành viên thông tấn (LMC dịch).
Tuy website chính thức của Viện hàn lâm khoa học Nga không nhắc đến ngạch thành viên nươc ngoài, coi như nó không tồn tại, nhưng, bài viết về Viện hàn lâm khoa học Nga trong từ điển Wikipedia tiếng Ạnh thì có nhắc đến một chút. Điều đó chứng tỏ rằng, đối với Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô), thành viên nước ngoài (иностранный член, foreign member) chỉ là thành viên hình thức, có ý nghĩa hết sức phù phiếm, mờ nhạt, đương nhiên không thể là viện sĩ. Chưa cần xét đến thành tích và uy tín trong khoa học, chỉ riêng vấn đề quốc tịch đã không cho phép người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô). Thành viên thông tấn (члены-корреспондент, corresponding member) của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga) có tư cách thành viên thấp hơn viện sĩ, đương nhiên, không phải là viênhj sĩ nhưng có thể coi như “viện sĩ dự bị”.
Viện hàn lâm Pháp (Académie franÕaise) vốn là ”ngôi đền” để tôn vinh các vĩ nhân của nước Pháp cho nên chỉ có ngạch thành viên chính thức tức là các viện sĩ chứ không có các ngạch thấp hơn. Nhưng ở các Viện hàn lâm khác thì thường vẫn có vài ngạch thành viên, trong đó, ngạch cao nhất là thành viên chính thức, tiếng Pháp gọi là membre titulaire (nhưng người ta thường viết là membre mà không cần có chữ titulaire) mới là viện sĩ (tức là académicien)
Hai tiếng “viện sĩ” hiện nay nghe rất quen tai nhưng hình như cũng mới xuất hiện ở Việt Nam chừng nửa thế kỷ. Trong quyển Hán- Việt từ điển của Đào Duy Anh không có từ này. Giở quyển Pháp – Việt từ điển, xem chữ Académicien, thấy cụ Đào viết: Académicien: 1. Nhà triết học về phái Platon; 2. Hội viên của Quốc gia học hộ,; hội viên tòa Hàn lâm nước Pháp. Lại xem tiếp các quyển từ điển Pháp – Việt và Việt – Pháp của Đào Văn Tập hay của Đào Đăng Vĩ in ở Sài Gòn hồi những năm 50 – 60 của thế kỷ trước, cũng không thể tìm thấy chữ “viện sĩ”.
Giở mấy quyển từ điển của Trung Quốc hiện có trên giá sách của tôi như Cổ kim Hán ngữ từ điển, Cổ kim Hán ngữ thực dụng từ điển hay Tân hiện đại Hán ngữ từ điển (kiêm tác Anh-Hán từ điển) thì thấy quyển nào cũng có từ “viện sĩ”, với lời diễn giải giống nhau. Quyển Tân hiện đại…viết: 院士 (viện sĩ): academician; nhân viên nghiên cứu cao cấp nhất của các bộ phận thuộc viện khoa học ở một số quốc gia. Tôi cho rằng, định nghĩa như vậy là chính xác.
Tiếp tục tìm hiểu thêm thì biết rằng, ở Trung Quốc lâu nay không hề sử dụng tên gọi “viện hàn lâm” để chỉ các viện khoa học, nhưng họ vẫn có các viện sĩ. Hiện tại, ở nước này có hai loại viện sĩ có uy vọng ngang nhau, đó là: Viện sĩ Viện khoa học Trung Quốc (Chinese Academy of Sciences, CAS)và Viện sĩ Viện công trình Trung Quốc (Chinese Academy of Engineering, CAE), gọi tắt là Viện sĩ Trung khoa viện và Viện sĩ Trung công viện. Người Trung Hoa bắt đầu có viện sĩ từ năm 1948.
2. Tên gọi “Viện sĩ” phải đi kèm với tên của Viện hàn lâm (hay Viện nghiên cứu)
Như quý vị độc giả đã thấy, nước Pháp có chừng một chục viện học thuật được gọi là Académie…, tức là có chừng một chục viện hàn lâm khác nhau, không thể lẫn lộn. Do đó, không thể có một ngạch viện sĩ chung chung, mà phải phân biệt viện sĩ của Viện hàn lâm X hay của Viện hàm lâm Y. Ở Pháp, Académie franÕaise (mà ta gọi là Viện hàn lâm Pháp).là Académie nổi tiếng nhất, chỉ cần nói đến l’Académie là người ta nghĩ ngay đến Académie franÕaise, cũng như ở Việt Nam hay ở Liên xô trước đây, hễ nói đến đảng thì có nghĩa là nói đên đảng Cộng sản. Do đó, từ Académicien (hoặc Membre de l’Académie) nghĩa là viện sĩ của một viện hàn lâm, nhưng khi nó được sử dụng một mình thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (đúng như cụ Đào Duy Anh đã giảng), cũng như ở nước ta, khi nói “ông A là đảng viên” thì đã có nghĩa rằng, ông ấy là đảng viên của đảng Cộng sản Việt Nam, ngay cả khi đảng Dân chủ và đãng Xã hội đang tồn tại cũng vậy. Nhưng ta không thể nói bà Hillary Clinton là đảng viên, mà phải nói rằng, bà Hillary Clinton là đảng viên của đảng Dân chủ ở Mỹ.
Ở Trung Quốc, cả Trung khoa viện (Viện khoa học Trung Quốc) và Trung công viện (Viện công trình Trung Quốc) đều chưa có cái nào nổi trội hơn hẳn, cho nên không thể nói đến viện sĩ A hay viện sĩ B, mà phải phân biệt viện sĩ Trung khoa viện với viện sĩ Trung công viện.
Trong tiếng Nga, chữ aкадемик (akademik, tương đương với académicien trong tiếng Pháp và academician trong tiếng Anh) có nghĩa là thành viên chính thức của một Академия. Cũng tương tự như ở Pháp, ở Liên Xô (và ở Nga hiện nay) có rất nhiều Академия, tức là rất nhiều Viện hàn lầm, nhưng vì Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (nay là Viện hàn lâm khoa học Nga) quá nổi tiếng và quen thuộc với mọi người trên đất nước ấy, cho nên, chữ akademik mà không kèm theo định ngữ nào nữa thì có nghĩa là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô, tương tự như từ “đảng viên” ở Việt Nam hiện nay có nghĩa là đảng viên đảng Cộng sản Việt Nam. Viện sĩ của các viện hàn lâm khác thì phài ghi rõ là akademik của viện nào, nếu nhận là akademik mà không có định ngữ kèm theo (khiến mọi người hiểu là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên xô) thì điều đó được coi là một sự gian dối.
Sở dĩ phải nhấn mạnh mấy chữ thành viên chính thức là vì, ở Liên Xô trước đây và ở Nga ngày nay cũng như ở các nước khác còn có các ngạch thành viên không chính thức của viện hàn lâm, không phải là viện sĩ, như chúng tôi đã nói ở trên.

III. Những nhầm lẫn tai hại trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”
1. Sử dụng không đúng theo thông lệ của tiếng Việt
Như chúng tôi đã nói ở trên, Viện hàn lâm nào cũng có tên rõ ràng và viện sĩ của các Viện ấy được phân biệt với nhau theo tên của từng Viện. Vị thế của một người mang danh hiệu viện sĩ luôn luôn gắn liền với hình ảnh quá khứ và hiện tại của Viện mà ông ta được bầu làm viện sĩ. Bởi vậy, khi nói đến một viện sĩ thì phải nêu rõ là viện sĩ của viện nào, ở nước nào. Ví dụ, nhà bác học Pháp Jules Hoffmann trong những năm 1992 – 2011 là Membre de l’Académie des sciences (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Pháp), cũng đã quá sang trọng, nhưng từ ngày 01/3/2012, ông trở thành Membre de l’Académie (mất các chữ des sciences, nghĩa là các khoa học) tức là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp, đứng vào hàng “bất tử” của nước Pháp. Bây giờ, nếu ai đó không chịu bỏ bớt các chữ des sciences cho ông thì có nghĩa là đã hạ thấp địa vị của ông. Ngược lại, giả sử trước tháng 3/2012, nếu ông Jules Hoffmann để cho anh thư ký “bỏ quên” các chữ des sciences thì điều đó đồng nghĩa với sự dối trá.
Hàng ngày chúng ta thấy báo chí và tivi nhắc đến viện sĩ Nguyễn, viện sĩ Trần, viện sĩ Phan, các viện sĩ X, Y, Z, v.v. Cái danh hiệu viện sĩ ấy không xuất phát từ Việt Nam (vì nhà nước Việt Nam chưa phong tặng danh hiệu viện sĩ cho các nghiên cứu viên cao cấp nhất của một viện nào cả), mà là do họ mang từ nước ngoài về, từ nhiều nước khác nhau. Vậy mà họ đều được gọi bằng cùng một cái tên là viện sĩ. Như thế thật là không ổn. Thử hình dung một tình huống như sau.. Có 5 ông là Phan A, Trần B, Nguyễn C, và X, Y, mỗi ông đi đến một nước. Ông Nguyễn C sang Nga rồi gia nhập đảng Nước Nga thống nhất, ông Trần B sang Nhật rồi vào đảng Dân chủ – Tự do (LDP), ông Phan A sang Pháp rồi gia nhập đảng Cộng sản Pháp, các ông X và Y thì sang Mỹ, vào đảng Cộng hòa và đảng Dân chủ. Nói tóm lại là ông nào cũng trở thành đảng viên của một đảng nào đó ở mỗi nước. Khi về Việt Nam, tất cả các ông ấy có thể tự xưng là đảng viên hay không?. Tuy mỗi ông đều là đảng viên của một đảng nào đó nhưng tiếng Việt không thể chấp nhận cách xưng hô như vậy. Các ông ấy nhất thiết phải ghi rõ: Phan A – đảng viên đảng Cộng sản Pháp, Nguyễn C – đảng viên đảng nước Nga thống nhất, v.v.
Đối với danh hiệu viện sĩ cũng tương tự như vậy. Nếu quả thật các GS Phan A, GS Trần B, GS Nguyễn C , v.v. đã trở thành viện sĩ của các Viện nào đó ở các nước kể trên thì họ cũng phải ghi danh vị của mình giống như mẫu kê khai đảng tịch vừa kể. Đương nhiên là hai chữ viện sĩ không thể đứng trước họ-tên của các ông. Chỉ khi nào ở Việt Nam có một Viện hàn lâm, hoặc một Viện nào đó rất nổi tiếng mà toàn dân đều biết như đảng Cộng sản Việt Nam vậy, rồi nhà nước Việt Nam ra quyết nghị phong tặng danh hiệu viện sĩ cho họ, khi dó, các GS kia mới đĩnh đạc ghi danh của mình là VS Phan A, Viện sĩ Trần B, VS Nguyễn C, v.v. Cũng xin nhắc rằng, lúc ấy các ông nên vứt cái chữ GS đi, bởi vì VS sang trọng hơn rất nhiều. Ai cũng biết rằng, những người có chức vụ cao hoặc tước vị cao, người nào mà chẳng trải qua những chức vụ, những tước vị thấp hơn, lẽ nào cứ phải ghi hết hoặc gần hết các chức vị ấy.. Các vị akademik ở Nga chẳng bao giờ ghi thêm danh hiệu giáo sư cả, bởi vì ở đó có hàng vạn giáo sư, nhưng số akademik (viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô) lúc cao nhất chỉ hơn 300 người.
2. Sai lệch quá lớn giữa danh vị thật và danh vị được quảng bá.
Báo chí và đài phát thanh, truyền hinh ở nước ta đã từng đưa tin và nhiều lần nhắc đến việc các giáo sư A, B, C nào đó được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô (hoặc Nga). Cùng một ông, có nơi ghi là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga), có nơi lại ghi là viện sĩ nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Hiên tượng đó chứng tỏ rằng, những người đưa tin (hay cả những người được tặng danh hiệu?) chưa hiểu quy chế về ngạch bậc đối với các thành viên của Viện hàn lâm khoa học này. Họ tưởng rằng, thành viên của Viện hàn lâm thì ắt là viện sĩ. Nhưng sự thực thì không phải như vậy. Chúng tôi đã nói khá kỹ về điều này ở tiểu mục 1. của phần II trên kia.
Tra cứu trong danh sách viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên xô và Viện hàn lâm khoa học Nga, chúng ta không thể tìm thấy tên một người Việt Nam nào cả. Thực ra, sự tra cứu ấy là một việc không cần làm, vì yêu cầu về quốc tịch đã quy định không thể có người nước ngoài trở thành viện sĩ của Viện hàn lâm này. Nhưng trong danh sách các thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (gồm cả từ thời Liên Xô) thì có tên 5 người Việt Nam Hiển nhiên, họ không phải là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) như lâu nay chúng ta đã gọi nhầm, hiểu lầm. Họ là thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm ấy. Đối với người Nga, hình ảnh của các thành viên này hết sức mờ nhạt, chỉ có tính chất hình thức, ngoại giao, đến nỗi từ điển Wikipedia tiếng Nga không hề nhắc đến họ, coi như họ không tồn tại. Lâu nay, ở nước ta, họ vẫn tự xưng hoặc được mọi người xưng tụng là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Liên Xô (hoặc Nga). Bất cứ nơi nào có tên của họ, bao giờ cũng có các chữ VS hoặc viện sĩ đứng ở phía trước, víí dụ: VS Nguyễn C..hoặc Viện sĩ Trần B. Viết như vậy là đã phạm hai lỗi. Thứ nhất là lỗi về tiếng Việt, vì ở nước ta., từ “viện sĩ” chưa có nghĩa cụ thể như từ “đảng viên”, cho nên, viết như thế thì không ai biết là viện sĩ gì.. Thứ hai là, ông Nguyễn C hay ông Trần B ấy không phải là viện sĩ Viên hàn lâm khoa học nào cả. Để không phạm phải hai lỗi ấy thì phải viết như sau: Nguyễn Văn X, thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga.
Trong thời kỳ mà Liên Xô còn tồn tại, hầu hết các nước XHCN ở Đông Âu cũng đều có Viện hàn lâm khoa học sao chép theo mẫu của Liên Xô. Bởi vậy, nếu có người Việt Nam nào đó đã từng được báo chí trong nước gọi là viện sĩ của nước này nước nọ thì cũng giống như trường hợp ở Liên Xô vậy..
PHẦN THỨ HAI
3. Cuộc tuyên truyền rầm rộ cho một mỹ hiệu hão huyền
Đầu tháng 7/2011, hàng loạt báo chí nước ta rầm rộ đưa tin GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Bản tin của Nhà xuất bản Tri thức (ngày 11/7/20110) có tiêu đề GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Trong các cuộc hội nghị và các cuộc liên hoan, ăn mừng, chúc tụng, mọi người đều khẳng định rằng từ nay GS Phan Huy Lê đã trở thành viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Lúc đó, tôi thấy nét mặt ông thật hồn nhiên đầy vẻ đắc thắng, mãn nguyện, rạng rỡ tươi cười đón nhận mỹ hiệu cao quý ấy. Mọi người hết sức cung kính và thán phục, cảm thấy tự hào khi đứng trước một viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Ngót năm thế kỷ vừa qua, chỉ những đại trí thức kiệt xuất nhất của nước Pháp may ra mới được bầu làm viện sĩ Viện hàn lâm Pháp (Membre de l’Académie franÕaise), và họ được gọi là những người “bất tử” (Immortels) của nước Pháp, được dân chúng nước Pháp tôn thờ muôn đời. Thế mà từ nay, một người Việt Nam quê ở xứ Nghệ được vinh dự đứng trong hàng ngũ ấy. Thật là một niềm hãnh diện ngút trời đến với mọi người dân đất Việt.
Người viết bài này phải nén nỗi bàng hoàng, cố đọc kỹ các bản tin để cho rõ.sự tình. Không tìm thấy một bản tin tiếng Pháp nào đưa tin về sự kiện này. Nhưng, báo điện tử của Đảng Cộng sản Việt Nam 16//07/2011 đã đưa tin như sau:
Giáo sư Phan Huy Lê – Niềm tự hào của nền sử học nước nhà

(ĐCSVN) – Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. Vinh dự này thuộc về Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê khi ông vừa được Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn (thuộc Học viện Pháp quốc) bầu là Viện sĩ Thông tấn. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là niềm vinh dự lớn lao của giới sử học nước nhà, khẳng định vị thế của khoa học lịch sử Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
Niềm tự hào của giới sử học
Đầu tháng 7-2011, tên tuổi của GS Phan Huy Lê một lần nữa trở thành niềm tự hào của học trò, đồng nghiệp trong nước và quốc tế, bởi ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Điều này không những khẳng định những đóng góp to lớn, tài năng và uy tín của GS Phan Huy Lê mà còn là sự tôn vinh nền sử học Việt Nam trong thời kỳ hội nhập. GS, Nhà giáo Nhân dân Đinh Xuân Lâm- Phó Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, người đồng hương, đồng môn và đồng nghiệp của GS. Phan Huy Lê khẳng định: Đây là một tin rất vui, tin mừng vì đây không chỉ là tôn vinh cá nhân mà là tôn vinh cả nền sử học của nước ta trong thời kỳ hội nhập và phát triển. Theo tôi, với việc GS Phan Huy Lê được bầu vào Viện hàn lâm Pháp như vậy tạo điều kiện cho giới khoa học- xã hội VN nói chung và giới sử học nói riêng có điều kiện thuận lợi, có cơ hội để đặt quan hệ rộng rãi với sử học thế giới và trên cơ sở đó chúng ta đi vào thời kỳ hội nhập và phát triển thuận lợi hơn..

Bản tin này in đậm dòng chữ – Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp – một Viện hàn lâm có uy tín hàng đầu trên thế giới, tiếng Pháp gọi là L’Académie franÕaise. Nhưng, tiếp đó, lại viết rằng, GS Phan Huy Lê là viện sĩ thông tấn nước ngoài của Viện Hàn lâm văn khắc và mỹ văn (tiếng Pháp là Académie des Inscriptions et Belles-Letres. mà cụ Đào Duy Anh dịch là Viện Bi ký và Mỹ văn). Tiếp theo, bản tin lại khẳng định rằng ông là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp, rồi GS Đinh Xuân Lâm cũng nhắc lại rằng, GS Phan Huy Lê được bầu vào Viện hàn lâm Pháp. Cứ xem danh sách đầy đủ các viện sĩ Viện hàn lâm Pháp từ khi thành lập đến năm 2012 thì biết rằng, đã xẩy ra một sự nhầm lẫn nghiêm trọng và kéo dài. Dẫu tụt xuống thành viện sĩ thông tấn của Viện Bi ký và Mỹ văn, tôi vẫn cứ băn khoăn, bởi vì, tôi nhớ rằng, không ở đâu có chức danh viện sĩ thông tấn nước ngoài, mà chỉ có thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) ở Nga mang quốc tịch Nga.. Để kiểm tra lại trí nhớ của mình, tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant của Viện này. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l’Académie des inscriptions et belles-lettres de l’Institut de France.tức là Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.
Theo danh sách này, từ khi thành lập (năm 1663) đến ngày 02/9/2012, cả thảy có 670 vị là thành viên người Pháp (viện sĩ), trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm viện sĩ. Năm 2011, Viện đã bầu 3 viện sĩ là FranÕois Déroche (sinh năm 1954), Jean Guilaine (sinh năm 1936) và Véroniquee Schiltz (sinh năm 1942). Năm 2012, Viện cũng bầu 3 viện sĩ là Pierre Gros (sinh năm 1939), Jehan Desanges (sinh năm 1929) và Jacques Verger (sinh năm 1943). .
Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên, hay thành viên cộng sự), Associés libres (cộng sự viên tự do) và Associés étrangers (cộng sự viên nước ngoài).Tất cả các danh sách này đều không có tên GS Phan Huy Lê. Trong danh sách Associés étrangers, chúng tôi thấy có tên ông Norodom Sihamoni, đương kim Quốc vương Căm-pu-chia (sinh năm 1953, được bầu chọn từ năm 2008)
Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm vài ngạch viện sĩ và vài ngạch cộng sự viên. Hiện nay, có một ngạch viện sĩ người Pháp và một ngạch thành viên cộng sự, người nước ngoài.
Như vây, GS Phan Huy Lê không có tên trong danh sách các viện sĩ và các cộng sự viên (associés) của Académie des Inscriptions et Belles –Lettres. Vì không có ngạch thành viên thông tấn nên không có gì bám víu để từ đó có thể cố ý dịch sai, biến ông thành viện sĩ thông tấn. rồi nhích dần lên viện sĩ.
Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, tôi phải tìm website chính thức (Official website) của viện này tại địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
Tìm đến trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ:: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên, như sau:
Membres L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour
l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux ; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres.
(Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt::
Các thành viên (của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn)
Viện HL Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên nước ngoài.
Viện HL Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử, ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế của họ.
Khi một chiếc ghế bành (fauteuil) viện sĩ được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không, thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ có mặt.
Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện tuyển chọn các thành viên mới, theo thói quen thường có. (LMC dịch)

Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì chưa đúng về ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng đúng về thực chất. Còn các correspondant, phâỉ dịch chính xác là thông tín viên, hay người truyền tin vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa. GS Phan Huy Lê được chọn làm người truyền tin nước ngoài ngày 27/5/2011 cùng với 7 người khác. Trước đó một năm rưỡi, ngày 06/11/2009, Viện này cũng đã thay 8 người truyền tin nước ngoài và 8 người truyền tin trong nước.
Mời quý vị độc giả xem văn bản của Viện Hàn lâm Bi ký và Mỹ văn về việc chỉ định GS Phan Huy Lê làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger)
(Nguồn:http://www.aibl.fr/membres/liste-des-correspondants-etrangers/article/phan-huy-le?lang=fr )
Dịch sang tiếng Việt:
PHAN HUY Lê
Hiệp sĩ Lá cọ hàn lâm (Nghĩa là “Người được tặng huân chương Văn hóa – Giáo dục hạng 3, hạng thấp nhất, tặng cho giảng viên có trên 15 tuổi nghề – LMC )
, Sinh tại Thạch –Châu (Việt Nam), 23 tháng hai 1934
Nhà Đông phương học, chuyên gia về lịch sử nông thôn, lịch sử văn hóa và lịch sử quân sự của Việt Nam, Chủ tịch Hội sử học Việt Nam.
Được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (correspondant étranger) từ ngày 27
tháng 5 năm 2011 để thay cho Francisco Rico
—————————————————————————————————————— Hơn một năm qua, mọi người đã tôn xưng GS Phan Huy Lê khi thì là viện sĩ, lúc thì là viện sĩ thông tấn Viện HL bi ký và mỹ văn Pháp. Nhiều nơi, nhiều lúc, nhiều người, trong đó GS Đinh Xuân Lâm đã nói rằng, GS Phan Huy Lê được bầu vào Viện hàn lâm Pháp, đồng nghĩa với việc ông trở thành con người “bất tử” của nước Pháp, được người Pháp thờ phụng muôn đời. Nhưng sự thực thì GS Phan Huy Lê chỉ được Viện hàn lâm bi ký và mỹ văn chỉ định làm thông tín viên, làm việc của một nghiên cứu viên cấp thấp, không cần có có sự bầu chọn ở một cuộc họp của hội đồng viện sĩ.
Phải coi việc GS Phan Huy Lê được chỉ định làm thông tín viên của Viện HL Bi ký và Mỹ văn là một vinh dự và may mắn quá lớn đối với ông. Tuy thế, đó vẫn là một việc rất rất nhỏ, chưa đáng để cho báo chí ở Pháp đưa tin, chỉ có các bản tin tiếng Việt phóng đại quá sai mà thôi. Chúng tôi phải tìm ở website của L’Académie des Inscriptions et Belles Lettres thì mới thấy tin này bằng tiếng Pháp.
Sự hồn nhiên của ông chủ tịch Hội sử học thật đáng trách. Lẽ ra, vinh dự mà mình được hưởng đến đâu thì cứ khoe đến đấy, đằng này lại khoe quá đà, vượt sự thật quá xa, để cho gần một trăm triệu người Việt Nam hiện tại (nếu kể cả mai sau thì còn nhiều lắm) bị lấm lẫn, từ thạch anh lại tưởng là ruby thượng hạng hoặc kim cương, để rồi khi vỡ lẽ ra thì lại thất vọng ê chề, chán chường, bực tức rồi quay ra chửi đổng.
Trước đây, khi một thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) xuất hiện trên báo chí dưới danh hiệu là viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô), ví dụ, ông Nguyễn B chẳng hạn, bao giờ cũng thấy viết là GS.VS. Nguyễn B. Viết như vậy là phạm liền mấy lỗi, như tôi đã phân tích ở trên. Nhưng thật khó biết đó là lỗi của nhà báo, của biên tập viên, lỗi của nhân viên đánh máy hay là lỗi của chính ông Nguyễn B. Riêng về GS Phan Huy Lê, tôi đã thấy có chỗ ông viết tên mình là GS.VS.Phan Huy Lê rồi ký tên và đóng dấu của Hội Khoa học lịch sử.
Nói tóm lại, GS Phan Huy Lê là thông tín viên (correspondant) của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn (L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres), một Viện học thuật nổi tiếng vào hạng thứ tư hoặc thứ năm ở Pháp; ông không hề là “viện sĩ” của một Viện nào cả, lại càng không thể là Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp như chính ông cùng hệ thống báo chí toàn quốc đã từng ngộ nhận và tuyên truyền rầm rộ và coi đó là một niềm tự hào của người Việt Nam..
VI. Vài lời cuối bài
Đây là bài lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ”. Nếu viết kỹ hơn thì còn rất nhiều điều đáng nói, có cả chuyện “cười ra nước mắt” nữa. Nhưng, tác giả nghĩ rằng, ngần ấy cũng đã khá đủ để chúng ta có những hiểu biết cơ bản về các tên gọi như viện hàn lâm và viện sĩ, académie (hoặc academy, akademiya…) và académicien (hoặc academician, akademik…), và cuối cùng nhận rõ không ít sai lầm tai hại trong việc sử dụng tên gọi “viện sĩ”.
Ở nước ta, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” hình như có sức mê hoặc phi thường và rất nhiều người muốn khai thác chúng một cách triệt để. Cho nên, cứ hễ ớ đâu có Academy là lập tức được dịch ra ngay thành Viện hàn lâm, hễ dính một chút đến một Academy nào đó là trở thành viện sĩ, và được nhiều người trầm trồ, thán phục. Sự ngưỡng vọng đối với viện hàn lâm và viện sĩ, có lẽ bắt đầu thể hiện đối với Viện hàn lâm Pháp (Académie franÕaise) từ thế hệ cha chú chúng tôi, tiếp nữa là đối với Viện hàn lâm khoa hoc Liên Xô, bén rễ trong lòng nhiều thế hệ trước khi Liên xô sụp đổ. Tình cảm ấy bắt nguồn từ đức tính tốt là lòng yêu chuộng tri thức. Nhưng, khi thời thế đổi thay, thói giả dối, bệnh ham chuộng hình thức và hư danh bao trùm lên xã hội thì đức tính tốt ấy bị lợi dụng và khai thác triệt để. Thói dối trá đã ngấm sâu vào máu của những người đã giành được ít nhiều danh lợi, đến mức trở thành bản năng, vô thức, tất yếu.
Khi lương tâm và trách nhiệm công dân bắt buộc tôi phải viết vài này, nhiều khi tôi cảm thấy thẫn thờ, chán nản. Ôi, sao lại có chuyện lạ đời như thế này? Một giáo sư nổi tiếng bậc nhất hiện nay, thường vẫn rao giảng về thái độ trung thực trong khoa học, về việc dấn thân để bảo vệ chân lý khoa học, nay lại đánh lừa cả nước ngót 100 triệu người ư? Mà lại lừa rất dễ. Ông ta đã được các cấp chính quyền cùng toàn bộ hệ thống thông tịn tuyên truyền văn hóa giáo dục khoa học ra sức đề cao, tâng bốc, coi như một niềm tự hào của đất nước. của dân tộc.Tôi băn khoăn tự hỏi, trước sự việc này, ta nên cười hay nên khóc, và đối với những người trong cuộc ấy, ta nên khinh ghét hay nên thương hại?
Tôi rất mong muốn nước ta có những “viện hàn lâm” (nếu thấy cần phải gọi như thế) hoặc là một hay vài viện nghiên cứu (của nhà nước và của tư nhân), trong đó nổi lên một viện có ảnh hưởng sâu rộng đến sự phát triển lành mạnh của đất nước, rất nổi tiếng và toàn dân ai ai cũng biết, dù nó có tên là Viện (hàn lâm) ABXFZ gì đó nhưng chỉ cần nói đến “Viện (hàn lâm)” là đủ biết mà không cần nói rõ tên, giống như từ “đảng’ hiện nay vậy. Khi đó, các thành viên trụ cột (không phải là “tứ trụ” mà có thể là “nhị thập tứ trụ” hay là “tứ thập nhị trụ”, v.v.) được tôn xưng là Viện sĩ của viên ABXFZ, nhưng chỉ cần xưng “Viện sĩ” là đủ.. Lúc bấy giờ, các cụ Phan A, Nguyễn B, Trần C (nếu còn sống) sẽ được gọi là viện sĩ theo đúng nghĩa và họ tha hố vung bút thoải mái viết VS Phan A, viện sĩ Nguyễn B mà không sợ phạm lỗi tiếng Việt. Nhưng lúc đó phải lưu ý cấm các chú vệ sĩ không được viết tắt chữ “vệ sĩ” là VS, mà có lẽ nên cấm ngay từ bây giờ, vì nếu không cấm thì vệ sĩ Mạnh Huỵch chẳng hạn, lúc nào cũng có quyền giới thiệu mình là VS. Mạnh Huỵch mà không cần ai ban phát danh hiệu và không hề phạm lỗi tiếng Việt, bởi vì vệ sĩ gần như là nghề nghiệp của ông ta, như ta vẫn thường nói ca sĩ Hồng Nhung hay nhạc sĩ Trần Tiến vậy. Ngoài ra, nếu Viện ABXFZ được mọi người biết đến vì nó đầy tai tiếng, lúc đó, xét về mặt ngôn ngữ học thì viết VS Phan A hay viện sĩ Nguyễn B cũng đều hoàn toàn đúng, nhưng đó là cái đúng mà chúng ta không mong muốn.
Ở nước ta có hai Viện nghiên cứu lớn (không biết đã lớn nhất hay chưa) mà tôi khá quen biết, đó là Viện khoa học xã hội Việt Nam và Viện khoa học và công nghệ Việt Nam. Cả hai Viện ấy có tên bằng tiếng Anh, lần lượt là Vietnam Academy of Social siences và Viet Nam Academy of Science and Technology (chữ Việt Nam có khi viết liền, có khi viết rời, có khi viết Vietnamese). Vì khá nhiều người hiểu chữ Academy một cách “hàn lâm” chứ không nghĩ rằng ngày nay nó được sử dụng khá “thông tục” nên họ phê phán rằng, làm ăn chẳng ra gì mà đã huyênh hoang khoác lác , dám vỗ ngực tự xưng là Academy. Theo tôi thì dịch như vậy không sai, Viện khoa học Trung Quốc cũng có tên bằng tiếng Anh là Chinese :Academy of Sciences cơ mà. Còn cái tên bằng tiếng Việt thì cũng tùy các nhà lãnh đạo cao cấp định đoạt, nhưng nếu gọi là Viện hay Viện hàn lâm thì giá trị của nó cũng không hề tăng lên hay giảm xuống. Chiếc áo không làm nên thày tu, huống chi là một cái tên.
Với tư cách một công dân cao tuổi, tôi viết bài lược khảo này để quý vị độc giả và các nhà chức trách tham khảo nhằm hiểu rõ hơn về những danh hiệu mà suốt nhiều năm qua, các cơ quan báo chí và các nhà khoa học cùng toàn thể dân chúng đã hiểu sai, dấn đến những chuyện lố bịch, đáng hổ thẹn. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước đông đảo độc giả và cả trước pháp luật về điều mà tôi đã khám phá.
Theo những địa chỉ của các nguồn tư liệu từ Internet mà tôi đã sử dụng, bất cứ độc giả nào biết chữ Hán và tiếng Nga, tiếng Anh và tiếng Pháp đều có thể kiểm tra ngay trước màn hình của máy tính. Nếu phát hiện thấy tôi đã trích dẫn sai, hiểu sai, diễn giải sai các nguồn tư liệu ấy, tôi kính mong được chỉ dẫn thật rõ, rõ hơn hoặc như tôi đã làm trong bài này. Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm toàn diện về mọi điều mà tôi đã viết.
Lê Mạnh Chiến Tháng 9 năm /2012

—————————————————————————————————————————

PHẦN PHỤ LỤC
Kính thưa quý vị độc giả ,
Để độc giả khỏi phải nghi ngờ về tính xác thực của những cứ liệu được sử dụng trong bài này, chúng tôi xin giới thiệu một số cứ liệu ấy.
Nhằm giúp quý vị độc giả hình dung được khoảng cách giữa một Associé étranger (Cộng sự viên nước ngoài) váo một Correspondant étranger (thông tín viên nước ngoài), chúng tôi xin giới thiệu Hồ sơ cá nhân của một Cộng sự viên nước ngoài và Hồ sơ cá nhân của GS Phan Huy Lê mà chúng tôi đã tìm thấy trong website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn (L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres). Chúng tôi khong cần giới thiệu Hồ sơ cá nhân của một Viện sĩ, bởi vì,như trong bài đã nói, Các cộng sự viên nước ngoài là những người có trình độ chuyên môn rất cao, có thẻ sánh với các Viện sĩ, nhưng vì họ không phải là người Pháp nên không thể gọi là viện sĩ. Bởi vậy, Hồ sơ cá nhân của một viện sĩ nhất định phải phong phú hơn Hồ sơ của mọt cộng sự viên.
Ngoài ra, chúng tôi cũng xin giới thiệu trang website chính thức nói về Các thành viên và các thông tín viên của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, cũng như các bản tin từ Báo điện tử của Dảng cộng sản Việt Nam và của Nhà xuát bản Tri thức nói về việc GS Phan HUy Lê trỏe thành Viện sĩ viện hàn lâm Pháp.
Lê Mạnh Chiến

Hồ sơ của GS Phan Huy Lê, (Correspondant) tại website chính thức của Académie des Inscriptions et Belles-Lettres
Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/liste-des-correspondants-etrangers/article/phan-huy-le?lang=fr

Correspondant étranger PHAN HUY Lê
Chevalier des Palmes académiques.
Né à Thach-Châu (Vietnam), le 23 février 1934.

Orientaliste, spécialiste de l’histoire rurale, culturelle et militaire du Vietnam. Président de l’Association des historiens du Vietnam.

Nommé le 27 mai 2011 correspondant étranger à la place de Francisco Rico.

Thông tín viên nước ngoài PHAN HUY LÊ

Sinh tại Thạch Châu (Việt Mam), ngày 23 /02/1934
Nhà đông phương học, chuyên gia về lịch sử nông thôn,
lịch sử văn hóa và lịch sử quân sự Việt Nam
Được chỉ định ngày 27 tháng 5 năm 2011 làm thông tín viên
nước ngoài ở vị trí của Francisco Rico

********************

Để đối chứng tư cách của một thông tín viên (correspondant) với một cộng sự viên (associé), chúng tôi xin giới thệu hồ sơ của ông Louis Godart , được bầuchọn (Élu, chứ không phải Nommé = Được chỉ định, như GS Phan Huy Lê) ngày 12/4/2002 làm Associé étranger
Hồ sơ của ông GODART Louis (sinh năm 1945, quốc tịch Italia), Cộng sự viên nước ngoài (Associé étranger), tại website chính thức của Académie des Inscriptions et Belles-Lettres
Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/academiciens-depuis-1663/article/godart-louis?lang=fr

GODART Louis
(Bourseigne-Vieille, Belgique, le 12 août 1945 ; naturalisé italien)
Élu, le 12 avril 2002, associé étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, au fauteuil de Cinzio VIOLANTE
GODART Louis
Sinh tại Bourseigne-Vieille,, Bỉ, ngày 12tháng 8 năm 1945. quốc tịch Ý.
Được bầu ngày 12 tháng tư năm 2002 làm cộng sự v iên nước ngoài của Viện hàn lâm
Bi ký và Mỹ văn, ở ghế bành của Cinzio VIOLANTE

Spécialisation : HELLÉNISTE [mycénologue, spécialiste du monde égéen, proto et pré-grec]
Carrière : – 1967-1971. Boursier du Consiglio nazionale delle Ricerche (Rome). – 1971. Docteur en philosophie et Lettres de l’Université libre de Bruxelles. – 1971-1973. Membre de l’École française d’Athènes. – Depuis 1973. Professeur chargé de cours, puis extraordinaire (1980) et ordinaire (1983) de philologie mycénienne près la Faculté de lettres et philosophie de l’Université de Naples « Federico II » – 1977. Docteur ès lettres. – 1983-1988. Directeur de l’Academia Belgica (Rome). – 1998. Correspondant étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres. – 2001. Segretario de la classe di scienze morali, storichi e filologiche dell’Accademia nazionale dei Lincei. – 2002. Conseiller du président de la République italienne pour les affaires culturelles.
• Directeur de la mission archéologique de l’Université de Naples « Federico II » en Crète (depuis 1982).
• Membre du Comitato di Indirizzo per la Valutazione della Ricercha scientifica du ministère de l’Université et de la Recherche scientifique (Italie).
• Membre de l’Accademia nazionale dei Lincei (Rome), de l’Accademia Pontaniana (Naples), de l’Accademia di Lettere e Belle Arti di Napoli et membre correspondant de l’Académie d’Athènes.
• Grand-Officier de l’Ordre de Léopold II (Belgique).
Principales publications : – 1973. Index généraux du linéaire B (en coll. avec J.-P. Olivier, C. Seydel et C. Sourvinou). – 1976-1985. Recueil des Inscriptions en linéaire A, 5 t. (en coll. avec J.-P. Olivier). – 1976. TO MINOIKO APXEIO TON XANION (en coll. avec I. A. Papapostoulou et J.-P. Olivier). – 1978. Fouilles exécutées à Mallia. Le quartier Mu (Introduction générale par J.-C. Poursat ; L’écriture hiéroglyphique crétoise par L. Godart et J.-P. Olivier). – 1978. Les tablettes en linéaire B de Thèbes (en coll. avec A. Sacconi). – 1986-1998. Corpus of Mycenaean Inscriptions from Knossos, 4 vol. (en coll. avec J. Chadwick, J. T. Killen, J.-P. Olivier et A. Sacconi ; ainsi que I. A. Sakellarakis pour les t. 1 et 2). – 1990. Le pouvoir de l’écrit. Aux pays des premières écritures. – 1990. Appunti di Filologia micenea (en collaboration avec A. Franceschetti). – 1992, 2001 (2ème ed.). L’invenzione della scrittura. Dal Nilo alla Grecia. – 1992. Témoignages archéologiques et épigraphiques en Crète occidentale du Néolithique au Minoen Récent III B (en coll. avec Y. Tzedakis). – 1995. Le disque de Phaistos. L’énigme d’une vieille écriture de l’Égée (également en italien, anglais, allemand et grec). – 1996. L’oro di Troia. La vera storia del tesoro scoperto da Schliemann (en coll. avec G. Cervetti). – 1996. Corpus Hieroglyphicarum Inscriptionum Cretae (en coll. avec J.-P. Olivier). – 1997. Le isole degli Dei. Creta a l’arcipelago greco. – 1998. Grecia. Terra di dei e di Eroi (en coll. avec J. Lange). – 2001. Fouilles de La Cadmée I. Les tablettes en linéaire B de la Odos Pelopidou, Biblioteca di Pasiphae I (en coll. avec V. L. Aravantinos et A. Sacconi). – 2006. Il Palazzo del Quirinale.
• Membre des comités scientifiques des revues Archeo, Archeologia Viva, Archéologie nouvelle, Gaia et Respublica Litterarum.
En ligne sur Persée :

Godart, Louis. « La Crète occidentale au Minoen Récent III B (XIIIe s. av. n. è.) ». In : Comptes rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, 136e année, N. 1, 1992. pp. 157-172. (Consulté le 04 novembre 2011)

Godart, Louis. « Les écritures crétoises et le bassin méditerranéen ». In : Comptes rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, 138e année, N. 3, 1994. pp. 707-731. (Consulté le 04 novembre 2011)

Godart, Louis. « Littérature mycénienne et épopée homérique ». In : Comptes rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, 145e année, N. 4, 2001. pp. 1561-1579. (Consulté le 04 novembre 2011)

Godart, Louis. « Le nouveau visage du Quirinal ». In : Comptes rendus des séances de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, 150e année, N. 2, 2006. pp. 887-890. (Consulté le 04 novembre 2011).

Một số bản tin về việc GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ hàn lâm Pháp

Nguồn: http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30129&cn_id=468867
Nguồn: http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Giao-su-Phan-Huy-Le-tro-thanh-Vien-si-han-lam-Phap/20117/91210.vgp

Nguồn: http://nxbtrithuc.com.vn/viet-nam/145-gs-phan-huy-le-tro-thanh-vien-si-vien-han-lam-phap
Nguồn: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4190&CategoryID=4
Bài đã đăng trên tạp chí NGHIÊN CỨU VÀ PHÁT TRIỂN .
Bản tác giả gửi Phongdiep.net
———

Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp
2:58 PM, 08/07/2011
(Chinhphu.vn) – Giáo sư Sử học Phan Huy Lê đã được bầu là Viện sĩ Thông tấn tại Viện Hàn lâm thuộc Học viện Pháp quốc.

Giáo sư Phan Huy Lê
Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn Pháp (Académie des Inscriptions et Belles-Letres) – Cơ quan chuyên nghiên cứu về khoa học nhân văn, khảo cổ học, lịch sử và ngữ văn thời cổ đại, trung đại từ Tây Âu đến Viễn Đông- vừa thông báo Giáo sư Sử học Phan Huy Lê đã được bầu làm Viện sỹ Thông tấn nước ngoài của Viện.
Chức Viện sỹ này trước đây là của Viện sĩ Francisco Rico người Tây Ban Nha.
Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê sinh ngày 23/2/1934 tại xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh.
Giáo sư Phan Huy Lê là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam và nhận được nhiều giải thưởng do Nhà nước trao tặng. Ông cũng là người Việt Nam đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng quốc tế Văn hóa châu Á Fukuoka năm 1996. Năm 2002, ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm.
Với việc được bầu làm Viện sỹ Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn của Pháp, Giáo sư Phan Huy Lê cũng là người đầu tiên của ngành Khoa học xã hội Việt Nam có được vinh dự này.
Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn của Pháp được thành lập từ năm 1663, là 1 trong 5 Viện Hàn lâm lâu đời và danh tiếng của Học viện Pháp quốc (Institut de France). Cuộc bầu chọn chức Viện sỹ nói trên được tổ chức từ ngày 27/5 – 5/7.
Nguyễn Chiến
———-
DANH HIỆU VIỆN SĨ VIỆN HÀN LÂM PHÁP CỦA GS PHAN HUY LÊ: MỘT SỰ MẠO XƯNG LIỀU LĨNH ?

Nguyễn Hưng

Từ giữa thàng 10/2012, sau khi bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại của tác giả Lê Mạnh Chiến xuất hiện trên tạp chíNghiên cứu & Phát triển rồi được một số website đưa lên mạng Internet, bài báo ấy đã được phổ biến một cách nhanh chóng.. Rất nhiều độc giả cảm thấy sửng sốt khi biết rằng, lâu nay, các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” đã được hiểu một cách mơ hồ dựa trên sự suy luận theo cảm tính, dẫn đến những “nhầm lẫn tai hại”. Tiếc thay, những “nhầm lẫn tai hại” ấy lại rơi vào những “trí thức tinh hoa” vốn được coi là những “bậc thầy” trong lĩnh vực văn hóa – giáo dục.
Tuy nhiên, tác giả bài đó chưa (hoặc chưa có điều kiện) chỉ rõ, ngoài những “nhầm lẫn tai hại” còn có sự mạo xưng có tính toán, có đạo diễn kỹ càng. Nay chúng tôi đã có bằng chứng đầy đủ về vụ mạo xưng liều lĩnh của GS Phan Huy Lê.. Trước khi nói về vụ này, chúng tôi thấy cần đúc kết sự phân tích về những “nhầm lẫn tai hại” trong bài Lược khảo…. và xin phép bổ sung một số ý nhỏ để làm rõ nét hơn về hiện tượng phản văn hóa khá phổ biến này.

I. Những nhầm lẫn tai hại về viện hàn lâm và viện sĩ

Danh tiếng của Viện hàn lâm Pháp (Académie franÕaise) trong giới trí thức tân học ở nước ta hồi nửa đầu thế kỷ 20 đã khiến cho tên gọi “viện hàn lâm” (tương ứng với Académie, Academy và Akademiya trong các thứ tiếng Pháp, Anh và Nga) thu hút sự sùng kính và ngưỡng mộ. Tiếp theo đó, tên tuổi lẫy lừng của một số viện sĩ thuộc Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trong vài chục năm giữa thế kỷ 20 lại càng làm cho các tên gọi Viện hàn lâm và viện sĩ trở nên cao quý lạ thường. Mặt khác, các khái niệm về viện hàn lâm và viện sĩ thoạt nhìn có vẻ rất đơn giản nên không mấy ai tìm hiểu kỹ càng. Từ đó, dẫn tới những nhầm lẫn lâu dài. Có thể kể ra một số nhầm lẫn phổ biến nhất như sau:

1. Tên gọi “Viện hàn lâm” trong tiếng Việt tương ứng với chữ Academy trong tiếng Anh (hoặc Académie, Akademya trong tiếng Pháp và tiếng Nga). Tuy nhiên, các chữ Academy, Académie, Akademiya …lại còn có những nghĩa khác như học viện, trường học (trung học, đại học), hiệp hội học thuật, v.v. Ở nước ta, nhiều người khi gặp các chữ này đều dịch là “viện hàn lâm” ngay cả khi nó có nghĩa là trường học hoặc là hội học thuật. Bởi vậy, có vị giáo sư từng học tại trường đảng của Liên Xô mang tên là Akademiya obshhestvennykh nauk (Học viện khoa học xã hội) thì xưng là đã nghiên cứu tại Viện hàn lâm khoa học xã hội Liên Xô. Phần lớn các trường đại học quân sự ở Nga (và Liên Xô trước đây) thường được gọi là Akademiya, nhưng các sĩ quan Việt Nam theo học ở đấy lại gọi trường học của mình là Viện hàn lâm quân.sự. Lỗi này có lẽ là do hiểu biết về tiếng Nga quá hẹp.

2. Nhiều người tưởng lầm rằng, hễ mang danh Viện hàn lâm thì mặc nhiên có giá trị rất cao về học thuật, mà không biết rằng, trên thế giới có vô số viện hàn lâm, và ngay ở một nước cũng thường có nhiều viện hàn lâm nên giá trị của các viện không như nhau, nhiều khi khác xa nhau “một trời một vực”. Có viện hàn lâm đã có uy tín trên toàn thế giới từ hàng trăm năm. Nhưng cũng có những viện mới mọc ra gần đây ở các nước mới phát triển. nên có giá trị thấp, không mấy ai để ý đến. Ngoài ra, còn có những hội đoàn của tư nhân, đặt tên cho hội của mình bằng chữ Academy cộng thêm một phụ tố nào đó cho có vẻ khoa học và sang trọng để kiếm nhiều tiền bằng cách kết nạp tất cả những người đồng ý nộp lệ phí để được cấp thẻ hội viên. Không ít kẻ hiếu danh đã tự biến mình thành “viện sĩ hàn lâm” bằng cách đó. Đa số dân ta thường nghĩ rằng viện sĩ là “to chuyện” lắm, vẻ vang lắm, ai biết đâu rằng “tấm bằng viện sĩ” ấy chỉ là cái thẻ hội viên với giá trên –dưới 100 USD, tùy từng “viện hàn lâm”loại này.

3. Hầu hết mọi người ở nước ta, kể cả những người biên soạn từ điển tiếng Việt đều nghĩ rằng, thành viên của viện hàn lâm tức là viện sĩ. Nhưng theo quy chế của các viện hàn lâm thì hoàn toàn không phải như vậy. Trong một viện hàn lâm ở nước ngoài thường có từ hai ngạch thành viên trở lên nhưng chỉ có ngạch thành viên chủ chốt (gọi là thành viên chính thức, thành viên thực nhiệm) mới được gọi là viện sĩ. Danh hiệu член-корреспондент ở Nga đáng lẽ phải dịch là thành viên thông tấn thì suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua vẫn bị dịch sai là viện sĩ thông tấn. Những người mà lâu nay ở nước ta gọi viện sĩ của các Viện hàn lâm khoa học ở Liên Xô hoặc ở các nước Đông Âu, thực ra, đều không phải là viện sĩ, mà chỉ là thành viên nước ngoài của các viện đó (một danh hiệu có ý nghĩa ngoại giao), vì viện sĩ của các nước ấy đều phải gắn liền với quốc tịch của từng nước. Ở Nga hiện nay có khá nhiều tổ chức được gọi là Akademiya (với nghĩa là “viện”, có thể dịch là “viện hàn lâm” chứ không phải là trường học) nhưng Chính phủ Liên bang Nga chỉ cho phép 6 viện như vậy được gọi các thành viên chính thức của mình làakademik (tức là viện sĩ), đó là Viện hàn lâm khoa học Nga và 5 viện hàn lâm chuyên ngânh, gồm có Viện hàn lâm Y học Nga, Viện hàn lâm Nông nghiệp Nga, vVện hàn lâm Giáo dục Nga, Viện hàn lâm Kiến trúc và Khoa học xây dựng Nga, Viện hàn lâm Nghệ thuật Nga (xem: mục từ Академик trên từ điển Wikipedia, tiếng).
Có một vị giáo sư từng giữ chức vụ rất to, vẫn tự xưng là viện sĩ Viện hàn lâm giao thông Nga.( Российская Академия транспорта, thành lập ngày 26/6/1991). Viện này có 966 thành viên thực nhiệm (966 действительных членов) và 42 đại biểu nước ngoài (xem tại http://www.academtrans.ru). Vì không có quốc tịch Nga nên ông giáo sư này chỉ có thể thuộc con số 42 đại biểu nước ngoài chứ không phải là thành viên thực nhiệm (tức là thành viên chính thức). Viện này lại không nằm trong 6 viện được phép gọi các thành viên chính thức của mình là viện sĩ. Vậy thì ông ta không thể là viện sĩ của Viện hàn lâm giao thông Nga.
Lại một giáo sư khác từng là quan to, cũng được gọi là viện sĩ. Có nơi nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học sư phạm Nga (tức Viện hàn lâm giáo dục Nga,Росси́йская акаде́мия образова́ния), nhưng ông lại không có tên trong danh sách 278 thành viên (gồm các viện sĩ và các thành viên thông tấn) của Viện này. Có nơi khác lại nói ông là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học chính trị Nga (Российская академия политической науки). Chẳng biết có phải như vậy hay không, vì trên website chính thức của nó không công bố danh sách thành viên, nhưng viện này không nằm trong 6 viện được phép gọi các thành viên chính thức của mình là viện sĩ, cho nên ông không thể là viện sĩ ở đây. Sự nhầm lẫn của hai giáo sư này là do thiếu hiểu biết hay cố ý.? Chỉ có các ông ấy mới biết, nhưng rõ ràng, đây là những sự nhầm lẫn khá tai hại.

4. Mọi người đều biết rằng, có vô số viện hàn lâm, mỗi viện đều có một tên riêng, rất cụ thể. Bởi vậy, danh hiệu viện sĩ phải gắn liền với tên của viện hàn lâm, nơi ông ta được bầu. Ở một nước có nhiều viện hàn lâm (ví dụ: nước Pháp), trong số đó có một viện quá nổi tiếng, mọi ngườì dân đều biết (ví dụ: ở Pháp có Viện hàn lâm Pháp –Académie franÕaise), chỉ cần nhắc đến Viện hàn lâm (L’Académie) là người ta nghĩ ngay đến nó và không cần gọi tên đầy đủ của nó. Cho nên, khi người Pháp chỉ viết Académicien hoặc Membre de l’Académie thì đã có nghĩa đó là viện sĩ của Viện hàn lâm Pháp. – Académie franÕaise. Tuy nhiên, các viện sĩ hàn lâm Pháp rất ít khi nêu danh hiệuAcadémicien hoặc Membre de l’Académie ngay trước họ và tên của mình, mà thường đặt ở phía sau. Ở Nga (hoặc Liên Xô trước đây), ngay trước tên của nhiều nhà bác học lớn, chúng ta thường thấy có ghi danh hiệu Akademik (tiếng Nga, nghĩa là viện sĩ), ví dụ:Akademik I.P. Pavlov, Akademik A.D. Sakharov . v.v. Chữ Akademik ở đây có nghĩa là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên Xô) – Viện hàn lâm nổi tiếng nhất trong số rất nhiều viện hàn lâm trên đất nước này. Nếu là viện sĩ của các viện khác thì không được ghi như thế, mà phải ghi rõ là Akademik của Viện hàn lâm nào. Điều này cũng tương tự như ở Việt Nam, từ “đảng viên” (mà không kèm theo tên đảng nào) thì chỉ có nghĩa là đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cũng cần nói thêm rằng, trong một nước đã có một viện hàn lâm quá nổi tiếng mà hế nói đến “viện sĩ” tức là nói đến thành viên thực nhiệm của viện ây, thì các ông viện sĩ của các viện đàn em hầu như không bao giờ đưa cái danh hiệu “viện sĩ của Viên hàn lâm X” để khoe hoặc tôn xưng, vì người ta chỉ khoe và tôn xưng những gì thuộc hạng nhất, chẳng ai khoe hoặc tôn xưng các thứ thuộc hạng hai hay hạng ba. Ví dụ, nếu ông Lê Văn M. là đại biểu quốc hội thì có thể kèm danh hiệu ấy trước họ và tên của ông ta và viết:: ĐBQH Lê Văn M.. Nhưng nếu chỉ là đại biểu Hội đông Nhân dân tỉnh, thì chẳng mấy ai nêu cái danh hiệu ấy trước họ và tên của mình.Hầu như các vị đại biểu HĐND tỉnh hoặc huyện chẳng có ai ghi danh hiệu ấy trước họ và tên của mình.
Có lẽ vì bắt chước theo người Nga nên ở Việt Nam đã có vài chục ông giáo sư ghi danh hiệu viện sĩ ngay trước họ và tên của mình, ví dụ: GS VS Nguyễn Văn X., GS VS Đặng Y., v.v, Nhưng, ở Việt Nam thì chẳng có viện hàn lâm nào cả, mà phải có một viện hàn lâm quá quen thuộc, tương tự như Đảng Cộng sản Việt Nam vậy, thì các ông viện sĩ của viện ấy mới có thể bắt chước cách xưng danh hiệu như người Nga. Huống chi, cái danh “viện sĩ” của các ông ấy lại có rất nhiều nguồn gốc, phần nhiều là ảo, do sự “nhầm lẫn tai hại” mà có, hoặc nếu không ảo thì lại là viện sĩ của những viện hàn lâm mà không mấy ai biết đến.
Tóm lại, ở Việt Nam ta, dù là ai, nếu ngay trước họ và tên của mình có chữ VS (nghĩa là “viện sĩ”), hoặc viết hẳn là Viện sĩ, thì cách viết như vậy là không ổn, chẳng khácgì ta gắn danh hiệu đảng viên cho ông Barack Obama. Đương nhiên, dù chỉ được bầu làm viện sĩ của những viện hàn lâm có tên tuổi rất mờ mịt thì cũng là một niềm vinh dự, và vẫn có thể khoe, nhưng phải viết đúng cách. Ví dụ, nếu viết: Trịnh Văn K., viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Thế giới thứ ba thì đúng là người có văn hóa, nhưng nếu viết: GS VS Trịnh Văn K. hay Viện sĩ Trịnh Văn K. thì không những chỉ sai đối với tiếng Việt, mà ở bất cứ ngôn ngữ nào cũng không ổn..

II. GS Phan Huy Lê cố ý mạo xưng Viện sĩ hàn lâm Pháp

1. Khởi đầu từ sự nhầm lẫn

Những nhầm lẫn về “viện hàn lâm” và “viện sĩ” đã được phân tích trong bài Lược khảo về các tên gọi viện hàn lâm và viện sĩ cùng những nhầm lẫn tai hại, như chúng tôi vừa đúc kết (và có viện dẫn thêm)thành 4 mục nhỏ trên đây đều rất phổ biến, từ các em học sinh cho đến các giáo sư hàng đầu các ngành khoa học xã hội và ngôn ngữ đều mắc phải. Điều đó đã dẫn đến những sai lầm rất buồn cười. Thế mà bản thân những người được gán danh hiệu ảo ấy vẫn cảm thấy phấn khởi, tự hào và không muốn rời bỏ nó. Trong số bọn họ, liệu có ai chủ động mạo xưng hay không? Thật khó khẳng định là không có. Nhưng khi chưa tìm thấy chứng cứ cụ thể về sự mạo xưng, tác giả bài báo ấy chỉ mới nói đến sự “nhầm lẫn tai hại”. Thân trọng như vậy là phải.

Riêng về GS Phan Huy Lê, chúng tôi mới phát hiện ra rằng, lúc đầu, quả là ông có những “nhầm lẫn tai hại”, nhưng khi đã có người vạch ra sự nhầm lẫn thì ông quyết không chấp nhận, và quyết chí mạo xưng. Sau đây là những chứng cứ cụ thể.
Trên tạp chí Xưa & Nay số 383 (phát hành đầu tháng 7/2011) có bài “Giáo sư Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên nước ngoài của Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp” chiếm trọn vẹn trang 8, khổ giấy A4 (xem hình ảnh thu nhỏ). Dưới bài này không có tên tác giả. Vậy, đó là bài của Ban biên tập Xưa & Nay. Trang báo này in hình bức Thư thông báo của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp báo tin về việc GS Phan Huy Lê được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger), phần còn lại gồm khoảng 700 chữ, phác họa những nét cơ bản về Viện này.

Người viết bản tin ấy hẳn là một biên tập viên thạo tiếng Pháp, đã tra cứu tư liệu từ website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn nên đã cung cấp được thông tin cần thiết và mới mẻ. Ông đã trình bày vắn tắt về lịch sử (thành lập năm 1663), quá trình phát triển, những nhiệm vụ và thành tựu của Viện này qua các thời kỳ. Bài báo cho biết, hiện tại, Viện này có 55 thành viên và 40 cộng tác viên ở nước ngoài.. Xin nói thêm, theo quy chế hiện nay, Viện có 55 thành viên chính thức, tức là 55 viện sĩ mang quốc tịch Pháp và 40 thành viên cộng sự người nước ngoài, tất cả đều tại vị trọn đời; ngoài ra, còn có 50 thông tín viên người Pháp (50 correspondants franÕais) và 50 thông tín viên nước ngoài (50 correspondants étranger) tại vị có thời hạn. Ông cũng cho biết “lý lịch trích ngang” (thiếu ngày sinh) của 7 thông tín viên nước ngoài được chỉ định ngày 27/5/2011, cùng một lần với GS Phan Huy Lê..
Như vậy, danh hiệu “thông tín viên” cho GS Phan Huy Lê đã được Ban biên tập của tạp chí Xưa & Nay tra cứu và dịc rát chính xác, vì Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã xác định rằng, correspondant đảm nhiệm vai trò “trạm thông tin khoa học bên cạnh Viên hàn lâm”. Vậy, correspondant chính là là thông tín viên. .

Cũng vẫn tạp chí Xưa & Nay, nhưng ở số 384 (phát hành cuối tháng 7/2011), tại trang 16 và nửa trên của trang 17 lại có bài Chúc mừng Giáo sư Phan Huy Lê, với câu mở đầu như sau:
“Nhân dịp GS NGND Phan Huy Lê được Viện Hàn lâm Văn khắc và Văn học nước Cộng hòa Pháp bầu là viện sĩ thông tấn nước ngoài* , Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp và sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.”
【Sau mấy chữ “Viện sĩ thông tấn nước ngoài* “ có một dấu sao (*) để ghi chú thích ở cuối bài:
(*) Membre correspondant étranger de l”Académie: Trên Xưa & Nay số 383, chúng tôi sử dụng cách dịch cũ từ những năm 1930 là “thông tín viên nước ngoài”, khi thuật ngữ “Viện sĩ thông tấn” chưa phổ biến trong tiếng Việt. Nay xin được sửa lại cho chính xác là: Viện sĩ thông tấn nước ngoài】..
Cuộc họp long trọng này diễn ra ngày 25/7/2011.

Độc giả tinh ý sẽ thấy ngay rằng, bài “Chúc mừng….” của Xưa & Nay số 384 nhăm mục đich gắn danh hiệu “viện sĩ hàn lâm” cho ông Phan Huy Lê.và xóa bỏ danh hiệu “thông tín viên”

Hai bài báo trên Xưa & Nay (số 383 và 384) cùng với các bản tin trên các báo khác đã giúp chúng ta hình dung động thái của ông Phan Huy Lê trong tháng 7 năm 2011 như sau.

Đầu tháng 7 năm 2011, GS Phan Huy Lê nhận được thư của ông Jean Leclant, thư ký trọn đời của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp thông báo về việc ông ta được chỉ định làm thông tín viên nước ngoài (Correspondant étranger) của Viện ấy. Tạp chí Xưa và Nay (của Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, mà ông Phan Huy Lê là chủ tịch) là cơ quan báo chí được báo tin này rất sớm.. Chữ “correspondant” trong tiếng Pháp (và correspondent trong tiếng Anh, корреспондент trong tiếng Nga) có nghĩa là thông tín viên. Trong Viện hàn lâm khoa học Nga (hoặc Liên xô trước đây) có hai ngạch thành viên: thứ nhất là thành viên thực nhiệm (действительный член) là thành viên chính thức, được gọi là akademik, tức là viện sĩ; thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент, chuyển sang tiếng Pháp là membre-correspondant), không được gọi là viện sĩ. Nhưng ở Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ vừa qua, từ член-корреспондент bị dịch sai thành viện sĩ thông tấn, vì thiếu thông tin về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô. Bởi vậy, khi được mời làm Correspondant, GS Phan Huy Lê đinh ninh rằng, hẳn đây cũng chính là membre-correspondant, tức là viện sĩ thông tấn.. Ông cũng tin rằng, ai cũng phải hiểu như mình, cho nên chỉ cần đưa bản sao chụp Thư thông báo của ông Jean Leclant cho một người biết tiếng Pháp trong Ban biên tập tạp chí Xưa & Nay, tự khắc người ấy sẽ giới thiệu ông Lê là viện sĩ thông tấn. Không ngờ, người này giỏi tiếng Pháp và cẩn thận hơn hẳn ông Lê nên đã tìm đọc website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp để tìm hiểu ngọn nguồn. Nhờ vậy, ông ta đã giới thiệu được những nét quan trọng của Viện này.và gọi đúng nghĩa của chữ correspondant là thông tín viên. Vì ông Lê cũng nhầm lẫn như một số người khác, nghĩ rằng, Correspondant cũng là Membre correspondant như ở Nga mà lâu nay người ta vẫn dịch là Viện sĩ thông tấn. Nếu không có sự nhầm lẫn như thế thì chắc hẳn ông đã căn dặn hoặc thương lượng với Ban biên tập ngay khi ông báo tin để không bị lộ bí mật như vậy.
Danh hiệu “thông tín viên” của GS Phan Huy Lê đã được giảng giải rất rành mạch trong bài Lược khảo về các tên gọi.”viện hàn lâm” và “viện sĩ” cùng nhứng nhầm lẫn tai hại, với những cứ liệu rút ra từ website chính thức của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn Pháp. Đó là sự thực không ai có thể chối cãi, là điều không thể đảo ngược.

2. Mạo xưng Viện sĩ hàn lâm Pháp, đánh lừa cả nước

Đến lúc đọc bài báo trên Xưa & Nay số 383, trang 8, ông Phan Huy Lê mới biết danh hiệu thực của mình chí là thông tín viên, không phải là viện sĩ như ông đã hiểu lầm. Sự thật đó khiến ông cụt hứng. Ông bèn quyết chí mạo xưng là viện sĩ. Danh hiệu thật của ông Phan Huy Lê bằng tiếng Pháp là Correspondant étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres, ông bèn thêm một chữ Membre ở đàng trước để trở thành Membre correspondant de l’Académie des Inscriptions et Belles Lettres rồi từ đó dịch sang tiếng Viêt là Viện sĩ thông tấn của Viện hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn. Khi đã lách được cái danh viện sĩ rồi, ông xưng luôn là Viện sĩ hàn lâm Pháp. ..
Việc tạp chí Xưa & Nay đưa tin GS Phan Huy Lê được bầu làm thông tín viên nước ngoài của Viện hàn lâm Văn khắc và Văn học Pháp là một điều hết sức bất ngờ khiên ông Phan Huy Lê chưng hửng, nhưng đó là sự thực. Nếu là người trung thực, ông Phan Huy Lê phải cảm ơn người đồng nghiệp đã “mở mắt” cho mình và tiếp nhận sự thực đó. Nhưng, ông ta đã không chọn cách ứng xử lương thiện như vậy. Thế là, ông lấy lại bình tĩnh, nén nỗi bực tức để bắt tay vào cuộc vận động ráo riết với ý chí sắt đá, quyết mạo xưng là“viện sĩ hàn lâm Pháp”, rồi bắn tin đến các cơ quan thông tin mạnh nhất để phổ biến đến khắp mọi ngành, mọi địa phương, mọi người, Từ ngày 07/7/2011 trở đi, hàng ngàn trang thông tin điện tử dồn dập đưa tin về việc GS Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Sau đây, xin nêu một số ví dụ:

Ngày 07/7/2011, báo điện tử VietNamNet đăng bài Pháp bầu nhà sử học hàng đầu VN là viện sĩ (http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/29303/phap-bau-nha-su-hoc-hang-dau-viet-nam-la-vien-si.html)

Ngày 07/7/2011, báo điện tử Đất Việt, diễn đàn của Liên hiệp các hội khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đăng bài GS Phan Huy Lê chính thức trở thành viện sĩ danh dự Pháp
(http://baodatviet.vn/Home/congdongviet/ GS-Phan-Huy-Le-chinh-thuc-tro-thanh-vien-si-danh-du-Phap/20117/153916.datviet)

Ngày 08/7/2911,báo điện tử của Chính phủ đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://baodientu.chinhphu.vn/Home/Giao-su-Phan-Huy-Le-tro-thanh-Vien-si-han-lam-Phap/20117/91210.vgp)
Ngày 08/7/2011, trang điện tử của tạp chí Tia sáng đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=62&News=4190&CategoryID=4)
Ngày 08/7/2011, báo điện tử vnExpress đăng bài GS Phan Huy Lê được vinh danh là viện sĩ Pháp (http://vnexpress.net/gl/khoa-hoc/2011/07/gs-phan-huy-le-duoc-vinh-danh-la-vien-si-phap/)
Ngày 11/7/2011, bản tin của Nhà xuất bản tri thức đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê trở thành Viện sĩ hàn lâm Pháp (http://nxbtrithuc.com.vn/viet-nam/145-gs-phan-huy-le-tro-thanh-vien-si-vien-han-lam-phap )
Ngày 16/7/2011, báo điện tử của Đảng cộng sản Việt Nam đăng bài Giáo sư Phan Huy Lê – Niềm tự hào của giới sử học nước nhà, với câu mở đầu là: Lần đầu tiên có một người của ngành Khoa học xã hội Việt Nam trở thành Viện sĩ Viện hàn lâm Pháp. (http://www.cpv.org.vn/cpv/Modules/News/NewsDetail.aspx?co_id=30129&cn_id=468867).

Nên nhớ rằng, ở Pháp, các Viện sĩ hàn lâm Pháp được coi là những “Người bất tử” (Immortels), là những vĩ nhân của nước Pháp và của thế giới.
Tuy tạp chí Xưa & Nay số 383 đã cho GS Phan Huy Lê một liều thuốc đắng vì nó đã tiết lộ chính xác danh hiệu thật ông ta, nhưng dẫu sao, vẫn còn có sự may mắn chô ông, bởi hai lẽ. Thứ nhất là, tạp chí này có số phát hành không lớn, số độc giả không nhiều nên “tin xấu” chỉ loang ra trong phạm vi hẹp. Thứ hai là, tạp chí này trực thuộc Hội Khoa học Lịch sử mà ông Lê là chủ tịch, nên khi đã lỡ in ra và phát hành một phần nhỏ, ông có thể hãm lại ngay. Sau khi ông Phan Huy Lê cùng những người thân tín tổ chức những cuộc họp trọng thể để chúc mừng ông trở thành viện sĩ hàn lâm Pháp, vị biên tập viên kia đành phải “đính chính” bản tin đúng của mình, đúng theo ý muốn của ông Phan Huy Lê.
Qua nhiều ngày nỗ lực thông báo khắp nơi, tin về việc GS Phan Huy Lê trở thành viện sĩ hàn lâm Pháp đã được đồng loạt đăng trên hàng trăm tờ báo và tạp chí cùng hàng ngàn bản tin điện tử.

Đến ngày 25 /11/2011, “Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển , Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam cùng phối hợp tổ chức buổi gặp mặt thân mật với sự tham gia đông đảo và nhiệt tình của các nhà khoa học, các bạn đồng nghiệp, sinh viên cũ và mới của GS Phan Huy Lê tại Hội trường Lê Văn Thiêm, 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội.” (Xưa & Nay, số 384, tr. 16)
Cuộc mạo xưng danh hiệu Viện sĩ hàn lâm Pháp của GS Phan Huy Lê, với sự cộng tác đắc lực của GS Đinh Xuân Lâm và của nhiều vị giáo sư đàn em khác tưởng như đã thành công mỹ mãn và đã đánh lừa được cả nước. Nhưng, sự gian dối không thể che mắt mọi người mãi mãi. Đầu tháng 10 năm 2012, bài Lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm “ và “viện sĩ” cúng những nhầm lẫn tai hại (đăng trên tạp chíNghiên cứu và Phát triển số 7 năm 2012 và xuất hiện trên mạng Internet), với lập luận chặt chẽ cùng những cứ liệu xác thực, đã chứng minh và khẳng định rằng GS Phan Huy Lê chỉ là thông tín viên nước ngoài của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Pháp, không phải là viện sĩ. Sau bài báo ấy, chúng tôi tiếp tục tìm kiếm các tài liệu liên quan và đã phát hiện thêm rằng, danh hiệu viện sĩ hàn lâm Pháp của ông Phan Huy Lê là một sự mạo xưng liều lĩnh. Đúng là lúc đầu, vì thiếu hiểu biết nên ông Phan Huy Lê đã dịch chữ correspondant (thông tín viên) thành “viện sĩ thông tấn”. Nhưng khi đã được ông bạn đồng nghiệp ở tạp chí Xưa & Nay giải mê và “mở mắt” cho mình, ông ta không vượt qua nổi căn bệnh hiếu danh nên đã dấn bước vào việc mạo xưng.

GS Phan Huy Lê và phu nhân cùng chụp ảnh lưu niệm với cán bộ, lãnh đạo Trường Đại học KHXH&NV, Viện Việt Nam học và Khoa học Phát triển, Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: (Ảnh NA/USSH)
III. Nhọ nhem lắm rồi, lầy gì lau cho sạch?
Danh hiệu Thông tín viên của ông Phan Huy Lê là hoàn toàn chính xác. Ông Phan Huy Lê chỉ là Thông tín viên nước ngoài của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn ở Paris. Bài Lược khảo về các tên gọi ‘viện hàn lâm “ và “viện sĩ” …đã chứng minh điều đó một cách rõ ràng. .Đến nay, chúng ta còn biết thêm rằng, ông Phan Huy Lê đã cố ý mạo xưng là viện sĩ thộng tấn của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, rồi nâng lên thành Viện sĩ hàn lâm Pháp. Đó là những tội lỗi rành rành, không thể chối cãi. hoặc tẩy rửa. Vậy mà vẫn có kẻ trơ trẽn tìm cách vu cáo người khác để lau mặt cho ông Phan Huy Lê.
Ngày 25/11/2012, trên bản tin điện tử của khoa Văn học và Ngôn ngữ của trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn t/p HCM , tại địa chỉ
http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn/home/index.php?option=com_content&view=article&id=3681%3Av-nhng-sai-lm-tai-hi-ca-ong-le-mnh-chin&catid=100%3Avn-hoa-lch-s-trit-hc&Itemid=161&lang=vi
đã đăng bài Về “những sai lầm tai hại” của ông Lê Mạnh Chiến của GS.TS Nguyễn Quang Ngọc (Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học quốc gia Hà Nội) để phản bác và lkết tội tác giả của bâì Lược khảo về các tên gọi ‘viện hàn lâm “ và “viện sĩ” …
Ông Nguyễn Quang Ngọc viết:
….. Trong bài viết của mình, ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”). Theo ông tất cả các danh hiệu “Viện sĩ nước ngoài” hay “Viện sĩ thông tấn nước ngoài” đều là “những nhầm lẫn không nhỏ trong việc sử dụng tên gọi Viện sĩ” và Việt Nam chưa hề có ai là Viện sĩ cả, tất cả đều là “gọi nhầm, hiểu nhầm”
Tôi không bàn luận về toàn bộ bài viết cùa ông Lê Mạnh Chiến mà chỉ đi vào một trường hợp mà tác giả cố tình lấy làm ví dụ cụ thể. Tôi cũng xin được gạt ra ngoài những lời lẽ không được văn hóa của tác giả, để công luận phán xét. Tôi viết về trường hợp GS Phan Huy Lê mà tôi có điều kiện biết khá cặn kẽ. Tuy nhiên, ngay trong trường hợp cụ thể này tôi cũng chỉ tập trung vào một số nội dung cốt lõi mà thôi.
Sau đó, ông Ngọc đã căn cứ theo một số cuốn từ điển như Pháp-Việt từ điển(1936) của GS Đào Duy Anh, Dictionnaire FranÇais-Vietnamien của Ủy ban Khoa học xã hội do Lê Khả Kế chủ biên (1981), Từ điển Việt-Pháp của Viện Khoa học xã hội do Lê Khả Kế, Nguyễn Lân chủ biên (1994) và Từ điển bách khoa Việt Nam của Hội đồng quốc gia chỉ đạo biên soạn từ điển bách khoa Việt Nam (tập IV, 2005).nhằm chứng minh rằngông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”).
Một điều rất đáng lưu ý là ông Nguyễn Quang Ngọc chỉ dựa vào các cuốn từ điển để phản bác, mà hoàn toàn né tránh mọi lý lẽ mà tác giả Lê Mạnh Chiến đã trình bày rất rõ ràng khi dịch các danh hiệu “Membre étranger” là thành viên nước ngoài và“Correspondant étranger” là thông tín viên nước ngoài. Trong khi đó, tác giả Lê Mạnh Chiến đã căn cứ vào quy chế và lời diễn giải về các ngạch thành viên ở các viện hàn lâm để dịch các danh hiệu ấy..
Về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (và Liên Xô trước đây, cũng như của các viện hàn lâm ở các nước Đông Âu sao chép theo khuôn mẫu Liên Xô), tác giả Lê Mạnh Chiến viết:
【【 Sau đây, tôi xin viện dẫn mục Члены РАН trong bài Росси́йскаяакаде́мия нау́к (Viện hàn lâm khoa học Nga)tại từ điển Wikipedia tiếng Nga (mà mọi người sử dụng Internet đều rất dễ tìm thấy) để diễn giải về các ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga.. Đó cũng là quy định của Viện hàn lâm khoa học Liên Xô trước kia.

. Члены РАН (Nguồn : http://ru.wikipedia.org/wiki/Российская_академия_наук)

Членами Российской академии наук являются действительные члены РАН(академики) и члены-корреспонденты РАН. Главная обязанность членов Российской академии наук состоит в том, чтобы обогащать науку новыми достижениями. Члены РАН избираются общим собранием академии. Членами Российской академии наук избираются учёные, являющиеся гражданами Российской Федерации. Члены Российской академии наук избираются пожизненно. Действительными членами РАНизбираются учёные, обогатившие науку трудами первостепенного научного значения. Членами-корреспондентами РАН избираются учёные, обогатившие науку выдающимися научными трудами.
По состоянию на 23 декабря 2011 года среди членов РАН были 531 академик и 769 членов-корреспондентов.
(Последнее изменение этой страницы: 15:35, 22 сентября 2012)

Xin đổi chữ РАН (Росси́йская акаде́мия нау́к) nghĩa là Viện hàn lâm khoa học Nga thành chữ RAS (Russian Academy of Siences) và chuyển đoạn văn trên đây sang tiếng Việt, như sau:

Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga

Các thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga (RAS) gồm có các thành viên chính thức (các viện sĩ – akademiki) và các thành viên thông tấn. Trách nhiệm chủ yếu của các thành viên RAS là phải đóng góp cho khoa học bằng những thành tựu mới. Hội nghị toàn thể của Viện hàn lâm bầu ra các thành viên của Viện. Các nhà bác học được bầu làm thành viên RAS phải là công dân của Liên bang Nga. Các thành viên RAS được bầu suốt đời. Các nhà bác học đã hoàn thành những công trình có ý nghĩa khoa học hàng đầu để cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên chính thức (trở thành viện sĩ). Các nhà bác học đã góp những công trình khoa học xuất sắc cống hiến cho khoa học thì được bầu làm thành viên thông tấn.
Theo tình trạng đến ngày 23/12/2011, trong số các thành viên của RAS đã có 531 viện sĩ và 679 thành viên thông tấn (LMC dịch)
(Sự thay đổi gần đây nhất của trang này là vào hổi 15h23’ ngày 22.0.2002)】】

Như vậy, theo từ điển Wikipedia tiếng Nga thì Viện hàn lâm khoa học Nga có hai ngạch thành viên. Thứ nhất là thành viên chính thức (действительные член, nếu dịch thật sát nghĩa thì gọi là thành viên thực nhiệm), là akademik, là viện sĩ. Thứ hai là thành viên thông tấn (член-корреспондент), có tư cách thành viên thấp hơn, chưa phải là thành viên chính thức, chưa phải là viện sĩ. Bởi vậy, nếu gọi họ là viện sĩ thông tấn. thì sai, danh hiệu “viện sĩ” (akademịk) phải dành cho thành viên chính thức.
Thực ra, còn có một ngạch thành viên nữa nhưng có lẽ ít quan trọng nên từ điển Wikipedia tiếng Nga đã vbỏ qua, đó là thành viên nước ngoài (tiếng Nga gọi là иностранные члены), nhưng trên Wikipedia tiếng Anh thì có nhắc đến
Theo quy chế của Viện hàn lâm khoa học Nga, có hai điều đáng chú ý:

1. Chỉ riêng các thành viên thực nhiệm mà tiếng Nga gọi là действительные члены mời được gọi là академики, là các viện sĩ; các thành viên thông tấn (члены-корреспонденты) không được gọi là академики nên không thể gọi là viện sĩ thông tấn.
2. Các viện sĩ và các thành viên thông tấn của Viện hàn Lâm khoa học Nga đều phải là những người mang quốc tịch Nga

Vậy thì người Việt Nam không thể là viện sĩ của Viện hàn lâm khoa học Nga , mà chỉ có thể là thành viên nước ngoài của Viện hàn lâm này mà thôi. Đối với các nước XHCN Đông Âu cũng vậy. .

Về danh hiệu “thông tín viên” của ông Phan Huy Lê, tác giả Lê Mạnh Chiến viết:

【【….tôi tìm đọc bài viết về Académie des Inscriptions et Belles-Letres trong Wikipedia tiếng Pháp. Văn bản này được chỉnh lý lần cuối cùng vào ngày 02/9/2012, trong đó không có một chữ nào nói đến membre-correspondant hoặc correspondant của Viện này. Tôi lại tìm đọc Liste des membres de l’Académie des inscriptions et belles-lettres de l’Institut de France.tức là Danh sách các thành viện của Viện Bi ký và Mỹ vănở Pháp, nơi mà các báo đưa tin là GS Phan Huy Lê được bầu làm viện sĩ thông tấn nước ngoài.
Theo danh sách này, từ khi thành lập (năm 1663) đến ngày 02/9/2012, cả thảy có 670 vị là thành viên người Pháp (viện sĩ), trong đó có ghi rõ chức vụ, nghề nghiệp, lĩnh vực nghiên cứu, năm sinh, năm mất, năm được bầu làm viện sĩ. Năm 2011, Viện đã bầu 3 viện sĩ là FranÕois Déroche (sinh năm 1954), Jean Guilaine (sinh năm 1936) vàVéroniquee Schiltz (sinh năm 1942). Năm 2012, Viện cũng bầu 3 viện sĩ là Pierre Gros (sinh năm 1939), Jehan Desanges (sinh năm 1929) và Jacques Verger (sinh năm 1943)..
Bên cạnh danh sách này, còn kèm theo danh sách Associés (chúng tôi tạm dịch là các cộng sự viên, hay thành viên cộng sự), Associés libres (cộng sự viên tự do) vàAssociés étrangers (cộng sự viên nước ngoài).Tất cả các danh sách này đều không có tên GS Phan Huy Lê. Trong danh sách Associés étrangers, chúng tôi thấy có tên ôngNorodom Sihamoni, đương kim Quốc vương Căm-pu-chia (sinh năm 1953, được bầu chọntừ năm 2008)
Cần nhớ rằng, từ năm 1663 đến nay, Viện này đã 4 lân thay đổi tên và 5 lần thay đổi quy chế về thành viên, trước đây có khi gồm vài ngạch viện sĩ và vài ngạch cộng sự viên. Hiện nay, có một ngạch viện sĩ người Pháp và một ngạch thành viên cộng sự, người nước ngoài.
Như vây, GS Phan Huy Lê không có tên trong danh sách các viện sĩvàcác cộng sự viên (associés) của Académie des Inscriptions et Belles –Lettres. Vì không có ngạch thành viên thông tấn nên không có gì bám víu để từ đó có thể cố ý dịch sai, biến ông thành viện sĩ thông tấn. rồi nhích dần lên viện sĩ.
Để tìm cho rõ danh vị của GS Phan Huy Lê trong Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, tôi phải tìm website chính thức (Official website) của viện này tại địa chí: http://www.aibl.fr/?lang=fr )
Tìm đến trang chủ của Website này, click vào mục MEMBRES (hoặc tìm trực tiếp tại địa chỉ:: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr thì sẽ thấy một trang nói rõ về các ngạch thành viên, như sau:

Membres L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres se compose de cinquante-cinq académiciens de nationalité française et de quarante associés étrangers. Elle comprend également cinquante correspondants français et cinquante correspondants étrangers.
L’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres réunit en son sein des personnalités de qualification exceptionnelle, hautement représentatives. Les académiciens sont des savants élus à vie par leurs pairs en raison de la qualité de leurs travaux dans les disciplines relevant de la compétence de l’Académie (archéologie, histoire, philologie et leurs multiples branches et spécialités), de leur puissance de travail ainsi que de leur renommée internationaleLorsqu’un fauteuil d’académicien est déclaré vacant par suite de décès, l’Académie décide, à la majorité des suffrages exprimés, de l’opportunité de pourvoir à son remplacement ; si tel est le cas, le Bureau propose une date pour
l’élection du nouveau membre, sinon, une nouvelle délibération a lieu sur la question après un délai de six mois. Contrairement à une règle généralement de mise dans le monde académique, il n’y a pas d’appel à candidature à l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, chaque académicien ayant la liberté de proposer un candidat dont il fait distribuer les titres et travaux. L’élection a lieu au scrutin secret et à la majorité absolue des académiciens présents.
Les associés étrangers, élus selon le même principe et souvent membres des Académies les plus prestigieuses de leur pays, sont choisis parmi les maîtres les plus éminents à travers le monde. Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux; choisis par les académiciens, ils constituent un vivier de personnalités de premier plan parmi lesquelles l’Académie a pris l’habitude de recruter souvent ses nouveaux membres. (Nguồn: http://www.aibl.fr/membres/?lang=fr)
Dịch sang tiếng Việt::

Các thành viên (của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn)

Viện HL Bi ký và Mỹ văn gồm có 55 viện sĩ (académiciens) có quốc tịch Pháp và 40 cộng sự viên nước ngoài. Nó còn bao gồm 50 thông tín viên (corresondants) người Pháp và 50 thông tín viên nước ngoài.
Viện HL Bi ký và Mỹ văn tập hợp các nhân vật đạt trình độ nghiệp vụ ngoại hạng có tính đại diên cao. Các viện sĩ là những nhà bác học được những người đồng đẳng bầu suốt đời do phẩm chất của những công trình của họ trong các bộ môn thuộc thẩm quyền của Viện (khảo cổ học, lịch sử, ngữ văn học, cùng nhiều ngành và nhiều chuyên khoa của chúng), do năng lực làm việc và thanh danh quốc tế của họ.
Khi một chiếc ghế bành (fauteuil) viện sĩ được tuyên bố là khuyết vì chủ nhân đã qua đời, Viện sẽ theo đa số những ý kiến được bày tỏ để quyết định cơ hội bổ nhiệm người thay thế; trong trường hợp đó, Văn phòng sẽ đề nghị một ngày để bầu thành viên mới, nếu không, thì phải có một cuộc thảo luận về vấn đề này sau thời hạn sáu tháng. Khác với quy tắc thường được áp dụng trong giời học thuật, không có việc kêu gọi ứng cử vào Viện Bi ký và Mỹ văn, mỗi viện sĩ được tự do đề cử một ứng cử viên, giới thiệu các chức vị và các công trình của người ấy. Việc bầu chọn được thực hiện bằng cách bỏ phiểu kín và theo đa số tuyệt đối của các viện sĩ có mặt.
Các cộng sự viên nước ngoài, được bầu theo đúng nguyên tắc như vậy, và thường là viện sĩ của các Viện có uy tín nhất ở nước họ, được chọn trong số những bậc thầy nổi tiếng nhất trên thế giới. Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện; họ được các viện sĩ bầu chọn, họ hợp thành một nhóm nhân vật quen thuộc hàng đầu để từ đó, Viện tuyển chọn các thành viên mới, theo thói quen thường có. (LMC dịch)

Qua đoạn văn trên đây, chúng ta biết rằng, các cộng sự viên nước ngoài (Associés étrangers) là những nhà bác học lớn có tầm cỡ ngang hàng với các viện sĩ người Pháp, nhưng họ không có danh hiệu viện sĩ vì họ không mang quốc tịch Pháp. Nếu gọi họ là “viện sĩ nước ngoài” thì chưa đúng về ngôn từ, vì người Pháp không gọi họ như vậy, nhưng đúng về thực chất. Còn các correspondant, phâỉ dịch chính xác là thông tín viên, hay người truyền tin vì họ được xác định là các trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn. So với viện sĩ, họ có cương vị thấp hơn rất nhiều, họ cũng không được bầu suốt đời (thông tín viên Francisco Rico, người Tây Ban Nha mà GS Phan đã thay thế, sinh năm 1942, vẫn đang sống). Họ cũng không phải là những ứng cử viên sẵn có để chờ khi có viện sĩ qua đời thì sẽ được chọn lựa. GS Phan Huy Lê được chọn làmngười truyền tin nước ngoài ngày 27/5/2011 cùng với 7 người khác. Trước đó một năm rưỡi, ngày 06/11/2009, Viện này cũng đã thay 8 người truyền tin nước ngoài và 8 người truyền tin trong nước.】】
Xin bổ sung một chút, Ông Francisco Rico đã được bầu làm associé étranger(cộng sự viên nước ngoài) ngày 04/6/2010, ở “ghế bành” của Dietrich von BOTHMER.
Ông Nguyễn Quang Ngọc nên chú ý đến câu này:trong Quy chế về thành viên của viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn:: Còn về các thông tín viên (correspondant), họ giữ vai trò trạm thông tin khoa học bên cạnh Viện HL Bi ký và Mỹ văn và tham gia sinh hoạt cùng các công việc của Viện (Nguyên văn bằng tiếng Pháp: Quant aux correspondants, ils assurent un rôle de relais de l’information scientifique auprès de l’Académie et participent à sa vie et à ses travaux).

Chỉ riêng việc xác định chức danh “thông tín viên” cho ông Phan Huy Lê, tác giả Lê Mạnh Chiến đã phải tra cứu từ Quy chế về các loại thành viên của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, vừa dịch vừa giải thích hết gần 1400 chữ, kể cả phần nói vềcác ngạch thành viên của Viện hàn lâm khoa học Nga, tác giả này đã viết hơn 2000 chữ. Thế mà ông Nguyễn Quang Ngọc viết là “ông Lê Mạnh Chiến đưa ra cách dịch của cá nhân để loại trừ tất cả những nhà khoa học Việt Nam được các Viện Hàn lâm nước ngoài bầu làm “Membre étranger” (cho chỉ là “Thành viên nước ngoài”) hay “Correspondant étranger” (cho chỉ là “Thông tín viên nước ngoài”)….” Còn ông Ngọc thì cặm cụi tra từ điển bằng tiếng Việt. để vạch rõ “sai lầm” của ông Lê Mạnh Chiền. Điều đó đủ thấy trình độ học lực và phương pháp nghiên cứu của ông GS TS Nguyễn Quang Ngọc.
Nên nhớ rằng, trong nghề dịch thuật, các từ điển (nhất là từ điển song ngữ) chỉ là tài liệu tham khảo, nhiều khi người ta phải tra cứu hàng chục bộ từ điển mới tìm được một nghĩa thỏa đáng. Đối với những từ khó, những thuật ngữ phức tạp, có khi người ta phải tra rất nhiều bộ từ điển bản ngữ kết hợp với văn cảnh cụ thể mà nhiều khi cong lúng túng.. Vậy mà ở đây không thấy ông Ngọc sử dụng một bộ từ điển nào bằng tiếng Nga hay tiếng Pháp. Trong các văn bản pháp quy, đối với những khái niệm hay những thuật ngữ quan trọng, người ta đều diễn giải rõ nghĩa của chúng, và nhất thiết phải căn cứ vào đó để hiểu hoặc để dịch sang ngôn ngữ khác. Cặm cụi tra cứu từ điển (nhất là từ điển song ngữ) để hiểu và để dịch là công việc của học sinh tiểu học. Học sinh tú tài thời Pháp thuộc chẳng có ai làm công tác “dịch thuật” kiểu như thế, chưa cần nói đến những người có học vấn cao hơn.
Ông Nguyễn Quang Ngọc đã chỉ trích phê phán tác giả Lê Mạnh Chiến một cách không đàng hoàng. Ông ta không bám theo lý lẽ của tác giả này để phê phán hay “phản biện” mà tự “luận tội” một cách vu vơ, lại còn dám xúc phạm tác giả này là có “những lời lẽ không được văn hóa” nhưng không nêu được bằng chứng gì cả. Bởi thế, bài Lược khảo… của tác giả Lê Mạnh Chiến vốn từng được đăng trên bản tin khoavanhoc-ngonngu.edu.vnđã bị gỡ xuống để thay bằng bài của ông Ngọc. Nếu tác giả Lê Mạnh Chiến đã phạm “những sai lầm tai hại” thì cứ để nguyên bài ấy cho độc giả đối chứng, sao lại phải xóa đi? Tuy chưa đến mức gọi là “ngậm máu phun người” nhưng những thứ mà ông Ngọc phun ra cũng chẳng sạch sẽ gì.
Điều tệ hại nhất của ông Ngọc ở đây là sự sai lầm nghiêm trọng về kiến thức và phương pháp kèm theo sự vu cáo tác giả Lê Mạnh Chiến một cách thiếu căn cứ, mờ ám..
Ông Nguyễn Quang Ngọc và cả ông Phan Huy Lê, nếu muốn bác bỏ lời phán xét của tác giả Lê Mạnh Chiến thì hãy đọc cho kỹ bài Lược khảo về các tên gọi “viện hàn lâm” và “viện sĩ” cùng những nhầm lẫn tai hại, sau đómới liệu sức liệu tài mà “phản biện” nhé.
Một chi tiét rất nhỏ nhưng cũng cần nhắc đến. Ông Ngọc thấy có chữ “fauteuil” (ghế bành) ở câu “Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn đã chỉ định tiên sinh làm Thông tín viên nước ngoài tại ghế bành mà trước đây thuộc về Francisco Rico”.trong Thư thông báo gửi tới ông Phan Huy Lê, rồi coi đó như là bằng chứng về địa vị “viện sĩ” của ông Phan Huy Lê. Xin thưa với ông Ngọc rằng, trong ngôn ngữ xã giao, về những điều vụn vặt, người ta sử dụng những từ ngữ cho đẹp thêm cũng không sao. Nhưng, trong “Giấy chứng nhận” chức danh thông tín viên của ông Phan Huy Lê, có câu
Nommé le 27 mai 2011 correspondant étranger à la place de Francisco Rico (Được chỉ định ngày 27 tháng 5năm 2011, làm thông tín viên nước ngoài tại vị trí của Francisco Rico). Trong klhi đó, “Giấy chứng nhận” của ông Francisco Rico thì ghi: Élu, le 4 juin 2010, associé étranger de l’Académie des Inscriptions et Belles-Lettres, au fauteuil de Dietrich von BOTHMER. (Được bầu ngày 04/5/2011, làm Cộng sự viên nước ngoài của Viện hàn lâm Bi ký và Mỹ văn, tại ghế bành của ông Dietrich von BOTHMER. Thế đấy, ông GS TS Nguyễn Quang Ngọc ạ.

GS Nguyễn Quang Ngọc đã hét sức cố gắng lau rửa mặt mũi cho GS Phan Huy Lê. Tuy nhiên, với phương pháp không sạch và vật liệu không sạch, làm sao mà lau rửa được.
Được đăng bởi Đào Phạm Viết vào lúc 09:26
—————

Phan Huy Lê

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
 
 
Phan Huy Le.jpg

Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Phan Huy Lê (sinh ngày 23 tháng 2 năm 1934) là một trong những chuyên gia hàng đầu về lịch sử Việt Nam[1], Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam: Khóa II (1990–1995), khóa III (1995–2000), khóa IV (2000–2005, khóa V (2005–2010) và khóa VI (2010-2015).

Ông sinh ngày 23 tháng 2 năm 1934 tại xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà, tỉnh Hà Tĩnh, Việt Nam. Ông là hậu duệ của Thượng thư, nhà ngoại giao Phan Huy Ích, nhà bác học Phan Huy Chú, Thượng thư – nhà văn hóa Phan Huy Vịnh. Thân sinh là Phan Huy Tùng (1878- ?) (đỗ Hội nguyên và Tam giáp đồng tiến sĩ khoa Quý Sửu – năm 1913), Lang trung Bộ Hình triều Nguyễn. Mẹ ông là người dòng họ Cao Xuân giàu truyền thống khoa bảng với các danh nhân: Cao Xuân Dục, Cao Xuân Tiếu, Cao Xuân Huy.

 

[sửa]Phong tặng

  • Ông được Nhà nước phong hàm giáo sư đợt đầu tiên (năm 1980); danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (năm 1994); giải thưởng nhà nước (năm 2000).
  • Ông là người Việt Nam đầu tiên được Nhật Bản trao tặng Giải thưởng quốc tế văn hóa châu Á Fukuoka (năm 1996).
  • Năm 2002, ông được Chính phủ Pháp trao tặng Huân chương Cành cọ Hàn lâm.
  • Tháng 5/2011, ông được bầu làm thông tín viên Viện Hàn lâm Văn khắc và Mỹ văn – Học viện Pháp quốc.

[sửa]Tác phẩm

  • Chế độ ruộng đất và kinh tế nông nghiệp thời Lê sơ
  • Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Sơn
  • “Khởi nghĩa Lam Sơn” (1977), (đồng tác giả với Phan Đại Doãn)
  • Truyền thống dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam
  • Một số trận quyết chiến chiến lược trong lịch sử dân tộc
  • Chiến thắng Bạch Đằng năm 938 và 1288.
  • Truyền thống và cách mạng
  • “Các giá trị truyền thống và con người Việt Nam hiện nay” (3 tập)
  • Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, truyền thống và hiện đại
  • Lịch sử Việt Nam từ 1406 đến 1858
  • “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” tập II (1960)
  • “Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam” tập III (1961)
  • “Lịch sử Việt Nam” tập I (đồng tác giả với Trần Quốc Vượng)
  • “Lịch sử Việt Nam” 4 tập (chủ biên, tác giả chính của 2 tập I và II)
  • Tìm về cội nguồn (2 tập)

Các nhà khoa học Việt Nam được phong danh hiệu viện sĩ.
(thống kê chưa đầy đủ)
Viện sĩ hàn lâm khoa học Nga:
1 – Trần Đại Nghĩa
2 – Nguyễn Khánh Toàn
3 – Nguyễn Văn Hiệu
4 – Nguyễn Duy Quý
5 – Đặng Vũ Minh
Viện sĩ các Viện hàn lâm khoa học chuyên ngành (Nga):
1 – Vũ Tuyên Hoàng (Nông nghiệp)
2 – Phạm Minh Hạc (Sư phạm)
3 – Đặng Vũ (Cầu đường)
Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học Tiệp Khắc:
Nguyễn Văn Đạo
Viện sĩ Viện hàn lâm khoa học thế giới thứ 3:
1- Nguyễn Văn Hiệu
2- Đào Vọng Đức
3- Nguyễn Văn Đạo….
(nguồn: Trung tâm KHTN &CNQG)
Theo Lao Động, số 247, ngày 12/12/2000

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s