NĂM TỴ NÓI CHUYỆN RẮN

RCHUYỆN RẮN CÕNG NHAU :
Chuyện xưa kế :Có hai con rắn muốn chuyển đi hang ổ mới, chúng định trườn qua bên kia đường  để làm cái ổ khác.Con rắn nhỏ nói với con rắn lớn thế này :” Tôi với anh mà cùng qua đường, người ta nhìn thấy sẽ đánh chúng ta chết để ngâm rượu.Chi bằng tôi cắn vào người anh,còn anh cõng tôi qua, như thế mọi người cho là Rắn Thần không ai dám làm gì cả”.

Quả đúng như thế, ai nhìn thấy rắn cõng nhau giữa đường cũng nói đó là “rắn thần” và đều tránh xa, thế là chúng qua đường trót lọt.

Chuyện này ngày nay ta cũng thấy quá nhiều trong xã hội. Muốn làm việc gì đó(không trong sáng) người ta hay “vẽ” ra điều này điều nọ, thoạt nghe “nhuộm mầu huyền bí” hoặc có vẻ “vô tư, trong sáng” nhưng thực chất  có “ý đồ” riêng . Tất cả đều học từ rắn mà ra.
—————————————————————————–

ÔNG RẮN Ở ĐỀN THỜ THÁI SƯ LÊ VĂN THỊNH

Fb: Tiến sỹ Nguyễn Hồng Kiên

Rắn TRƯỚC HẾT, NHÀ CHÁU MUỐN NHẮC LẠI VỀ NHÂN VẬT LỊCH SỬ NÀY.

Để đỡ bị MANG TIẾNG ‘tinh vi’, cậy nghề, chả dẫn sách nọ sử kia cho mất công, nhà cháu xin dẫn Wikipedia cho ló PHỔ THÔNG, ‘bình dân học vụ’  

(Nhà cháu có lần trong trao đổi trên mạng, khi bị MẮNG là “kẻ đặt lợi ích cá nhân lên lòng tự tôn dân tộc, tư tưởng, hành động đi ngược lại truyền thống, lịch sử vẻ vang của đất nước“, đành ‘lộ thân phận’: Được bố-mẹ, ông-bà, đảng-chính phủ… nuôi dạy, cũng lấy được cái bằng tiến sĩ Sử học. Tưởng HỌ ‘nể’ mà chịu nghe, ai dè ĐƯỢC MỘT CÔ CHÁU SINH NĂM 1982 bảo: “Đưa bằng chứng ra đi. Sao giờ nhiều thằng có học mà suy nghĩ nông nổi thế? Bằng giả hay bằng mua thì cũng cứ mang ra cho mọi người được biết coi”. Chuyện ấy nhà cháu có ghi lại ở đây:

https://www.facebook.com/photo.php?fbid=340678986039716&set=a.152503261523957.33616.100002928529778&type=1&theater)

Wikipedia viết như thế này:

Lê Văn Thịnh (chữ Hán: 黎文盛, ? – ?), là người đỗ đầu trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam, được bổ làm quan, dần trải đến chức Thái sư triều Lý. Năm 1084, ông thành công trong việc bàn nghị về việc cương giới với quan nhà Tống, khiến nước này phải trả lại 6 huyện 3 động [Theo “Đại Việt sử lược” (tr. 294) ] thuộc châu Quảng Nguyên, cho Đại Việt (nay là Việt Nam). Tuy nhiên đến năm 1096 thì ông bị đày rồi mất, sau khi xảy ra “Vụ án hồ Dâm Đàm” (1095).

Lê Văn Thịnh là người làng Đông Cửu, quê xã Chi Nhị, tổng Đại Lai, huyện Yên Định, lộ Bắc Giang; nay là thôn Bảo Tháp, huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh.

Tháng 2 năm Ất Mão (1075), vua Lý Nhân Tông cho mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học Tam Trường [Chép đúng “Đại Việt sử ký toàn thư ” (bản dịch, quyển I, tr. 290) ], Lê Văn Thịnh dự thi và đã đỗ đầu.

[Đời Lý chỉ mở khoa thi Minh kinh bác học và thi Nho học tam trường. Sang triều Trần, trước năm 1247, chỉ mở khoa thi Thái học sinh và phân định cao thấp (đệ nhất giáp, đệ nhị giáp, đệ tam giáp); đến năm này (1247), mới định lệ thi Tiến sĩ, cứ 7 năm (mở) 1 khoa, và đặt danh tam khôi…

Sách “Đại Việt sử ký toàn thư” (bản dịch, quyển 2, tr. 19) chép: “Tháng 2 năm Đinh Mùi (1247), mở khoa thi chọn kẻ sĩ. Ban cho Nguyễn Hiền đỗ Trạng Nguyên, Lê Văn Hưu đỗ Bảng nhãn, Đặng Ma La đỗ Thám hoa…Trước đây, hai khoa Nhâm Thìn (1232) và Kỷ Hợi (1239), chỉ chia làm giáp, ấp, chưa có chọn tam khôi. Đến khoa này mới đặt.

Theo đây, Nguyễn Hiền chính là người đầu tiên nhận danh hiệu Trạng nguyên, còn Lê Văn Thịnh chỉ là người “đỗ đầu” trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam mà thôi. Xem thêm “Những khoa thi trong thời nhà Lý” ].

Ban đầu, ông được vào hầu vua học [Theo “Đại Việt sử ký toàn thư” (bản dịch, quyển I, tr. 290) ], sau trải thăng chức Nội cấp sự, rồi Thị lang bộ binh vào năm Bính Thìn (1076) [ Theo “Đại Việt sử lược” (tr. 166). ].

THÁNG 6 NĂM GIÁP TÝ (1084), ÔNG ĐƯỢC CỬ ĐI ĐẾN TRẠI VĨNH BÌNH (thuộc Cao Bằng ngày nay) ĐỂ BÀN NGHỊ VỀ VIỆC CƯƠNG GIỚI VỚI CHÁNH SỨ NHÀ TỐNG LÀ THÀNH TRẠC.

SAU KHI ĐÃ “PHÂN GIẢI MỌI LẼ” [ Theo “Việt Nam sử lược” tr.109.], NHÀ TỐNG CHẤP THUẬN TRẢ LẠI CHO ĐẠI VIỆT (VIỆT NAM NGÀY NAY) 6 HUYỆN 3 ĐỘNG [Đại Việt sử lược- tr. 294.] THUỘC CHÂU QUẢNG NGUYÊN (nay phần đất ở phía Tây Bắc tỉnh Cao Bằng) MÀ HỌ ĐÃ CHIẾM TRƯỚC ĐÂY, VÀ CHO THÔNG SỨ NHƯ CŨ.

Tiếc của, vì nghe đâu nơi ấy có vàng, người Tống có thơ rằng:

Nhân tham Giao Chỉ tượng

Khướt thất Quảng Nguyên kim

Nghĩa là:Vì tham voi Giao Chỉ 

Bỏ mất vàng Quảng Nguyên [Theo Đại Việt sử lược -tr. 294].

Theo sử liệu, thì trong dịp này, Lê Văn Thịnh còn được vua Tống ban chức Long đồ đãi các chế [Theo Đại Việt sử lược, tr 169], và sau đó được vua Lý Nhân Tông cất lên làm Thái sư vào năm Ất Sửu (1085) [Đại Việt sử lược – tr. 294].

Cống hiến cho nhà Lý thêm 10 năm thì xảy ra “vụ án hồ Dâm Đàm” vào năm Ất Hợi (1095). Sau đó (1096), ông bị đày đi Thao Giang (thuộc Tam Nông, Vĩnh Phú ngày nay).

Lê Văn Thịnh mất năm nào không rõ.

Vụ án hồ Dâm Đàm

Sách Đại Việt sử lược ra đời vào thời Trần [Tính đến nay, Đại Việt sử lược là bộ sử biên niên thuộc hàng sớm nhất Việt Nam ], kể lại vụ án như sau:

“Mùa đông, tháng 11, năm Ất Hợi (1095), nhà vua (Lý Nhân Tông) xem đánh cá ở Diêu Đàm (hay Dâm Đàm, nay là Hồ Tây, Hà Nội). Lúc bấy giờ vua ngự trong một chiếc thuyền nhỏ, thị vệ theo hầu rất ít. Thái sư Lê Văn Thịnh vốn có mưu gian, nhân cơ hội ấy mới dùng ảo thuật làm khói sương nổi thoắt lên bao phủ cả mặt hồ, ban ngày mà tối tăm mù mịt. Một lát, nhà vua nghe tiếng mái chèo sắp đến gần, vua có ý sợ xảy ra tai biến mới lấy cái mác phóng ra. Khói sương theo cái mác mà tan biến đi thì thấy thuyền của Lê Văn Thịnh đã đến gần, với đồ hung khí. Vua sai người bắt giữ Lê Văn Thịnh lại rồi hạ chiếu đem an trí ở miệt Thao Giang. Trước kia, trong nhà Lê văn Thịnh có tên đầy tớ là người Đại lý (tức Vân Nam, Trung Quốc ngày nay), giỏi làm ảo thuật, Lê Văn Thịnh học được phép của nó. Và, đến đây thì làm phản” [Trích trong Đại Việt sử lược, tr. 174.].

Sau đó, sách Đại Việt sử ký toàn thư ra đời vào thời Hậu Lê, kể lại vụ án như sau:

“Mùa xuân, tháng 3, Lê Văn Thịnh mưu làm phản, tha tội chết, an trí ở Thao Giang. Bấy giờ vua (Lý Nhân Tông) ra hồ Dâm Đàm, ngự thuyền nhỏ xem đánh cá. Chợt có mây mù nổi lên, trong đám mù nghe có tiếng thuyền bơi đến, tiếng mái chèo rào rào, vua lấy giáo ném. Chốc lát mây mù tan, thấy trong thuyền có con hổ, mọi người sợ tái mặt, nói: “Việc nguy rồi!”. Người đánh cá là Mục Thận [ Mục Thận (? – ?) lúc bấy giờ làm nghề chài lưới. Sau Vụ án hồ Dâm Đàm, ông được phong hàm Đô úy và được ban đất ở vùng Dâm Đàm làm thực ấp. Khi ông mất được dân chúng lập đền thờ, và còn được truy tặng là Thái úy, thụy Trung Duệ, tước Võ Lượng công (theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 447).] quăng lưới trùm lên con hổ, thì ra là Thái sư Lê Văn Thịnh. Vua nghĩ Thịnh là đại thần có công giúp đỡ, không nỡ giết, đày lên trại đầu Thao Giang. Trước đấy Lê Văn Thịnh có gia nô người nước Đại Lý có phép thuật kỳ lạ, cho nên mượn thuật ấy toan làm chuyện thí nghịch [Trích trong Đại Việt sử ký toàn thư (quyển I), tr. 297].

So lại, nội dung vụ án khá giống nhau, tuy nhiên về sau rõ ràng có sự thêm thắt (rất hoang đường) khi cho rằng Lê Văn Thịnh đã “hóa hổ” để mưu sát.

Vụ án trên, lâu nay người ta đã bàn nhiều, có người nói vì ông bị nghị kỵ, nên bị hạ bệ [Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, tr. 395.]; có người nói ông là nạn nhân bởi “sự xung đột ý thức hệ giữa Phật giáo (Quốc giáo, mà người đứng đầu là Thái hậu Ỷ Lan và vua Lý Nhân Tông) và Nho giáo (mà đứng đầu là ông) v.v…

Tuy chưa thống nhất được nguyên nhân, nhưng có một điểm chung là Thái sư Lê Văn Thịnh đã bị hàm oan.

rắn 2

Đền thờ Lê Văn Thịnh ở làng Bảo Tháp, xã Đông Cứu, (Gia Bình, Bắc Ninh)

Hiện quê hương của Lê Văn Thịnh, có hai khu di tích lập ra để thờ ông (ở Thuận Thành và Gia Bình), và khu lăng mộ của ông cũng đã được trùng tu nhiều lần.

(http://vi.wikipedia.org/wiki/L%C3%AA_V%C4%83n_Th%E1%BB%8Bnh)

TƯỢNG RẮN “MIỆNG CẮN THÂN, CHÂN XÉ MÌNH”

Rắn 3rắn 4

rắn 5

Năm 1991, trong một lần dọn dẹp trước cửa đền thờ Thái sư Lê Văn Thịnh (thôn Bảo Tháp, Đông Cứu, Gia Bình, Bắc Ninh), ông thủ từ Phan Đình Phô tình cờ phát hiện được một bức tượng bằng đá nguyên khối, chôn sâu dưới đất.

Bố cục và hình dáng bức tượng cực kỳ đặc biệt: Một loài động vật bò sát giống rắn, nhưng có chân, miệng đầy răng, trong động thái “MIỆNG CẮN THÂN, CHÂN XÉ MÌNH” .

Chuyện làm xôn xao dư luận một thời. Bấy giờ internet chưa được phổ biến, nhưng chuyện về bức tượng cũng đã gây tốn kém khá nhiều giấy mực, bàn phím-màn hình.

Nhà cháu thì vưỡn coi đó là tượng Rắn, nhưng báo chí có môn bài thì vưỡn viết là “ÔNG RỒNG”:

Câu chuyện phá long mạch và phát hiện tượng rồng đã khiến dư luận ầm ĩ. Nhà ông Đam ở ngay dưới chân ngôi đền, cách nấm đất kỳ bí có 30m, nên ông chứng kiến từ đầu đến đuôi. Mỗi ngày, có hàng ngàn người hiếu kỳ, mê tín kéo đến ngó nghiêng, vái lạy pho tượng. Người ta ném tiền như mưa rơi, phủ kín cả “ông rồng”. Lực lượng công an, dân quân được phân công túc trực ngày đêm canh giữ pho tượng quý.

Các nhà khoa học, chính quyền và nhân dân thảo luận xong, thì quyết định nhấc “ông rồng” lên khỏi lòng đất. Lạ thay, mấy chục thanh niên trai tráng ghé vai, cùng với đòn bẩy, xà beng, mà pho tượng rồng không hề nhúc nhích.

Thấy sự lạ, cụ Phô vào đền nhang khói, kính xin Thái sư Lê Văn Thịnh linh thiêng cho phép người dân được rước “ông rồng” lên thờ phượng. Không ngờ, xin phép xong, các trai tráng ghé vai nâng pho tượng thấy nhẹ bẫng. 

Chẳng biết thật giả ra sao, nhưng những câu chuyện hư hư thực thực này đã khiến pho tượng ông rồng “miệng cắn thân, chân xé mình” thêm phần huyền bí.

(Những bí ẩn về “ông rồng” tự cắn xé thân mìnhhttp://vtc.vn/394-319142/phong-su-kham-pha/nhung-bi-an-ve-ong-rong-tu-can-xe-than-minh.htm)

Trước quá trình tôn tạo, một cuộc khai quật nhỏ đã diễn ra. Các nhà khảo cổ phát hiện thêm 2 bộ phận nữa của tượng rồng đá. Một bộ phận là bàn chân rồng nguyên vẹn với móng vuốt sắc nhọn. Các nhà khoa học xác định hai bộ phận này có chất liệu và phong cách tạo tác phù hợp với pho tượng rồng cắn thân trong miếu Xà Thần từ thời Lý. Tuy nhiên, hai bộ phận này chưa khớp với phần thân đứt hai bên pho tượng. 

Có một số luồng ý kiến phân tích ý tưởng nghệ thuật của pho tượng này. Có ý kiến cho rằng, pho tượng biểu thị sự hối hận của vua Lý Nhân tông. Tượng rồng có đôi tai, thì một bên lành, một bên bị bịt kín. Điều này biểu thị việc vua Lý nghe lời xiểm nịnh của gian thần.

Việc rồng tự cắn thân, xé mình thể hiện cho việc đau lòng khi gây ra nỗi oan trái của Lý Nhân tông với người thầy của mình là Lê Văn Thịnh. Rồng tượng trưng cho vua, nên lý giải này không phải không có lý.

Luồng ý kiến khác cho rằng pho tượng chỉ là một lá bùa để cầu mưa thuận gió hòa, giống như tượng rồng đặt dưới giếng ở chùa Phật Tích mà thôi.

Nhưng phần lớn ý kiến vẫn tin rằng, pho tượng đặc biệt, vừa giống rồng, lại vừa giống rắn này là biểu thị cho nỗi oan trái của Thái sư Lê Văn Thịnh, bị triều đình ghép tội “hóa hổ giết vua”…  

*

Gần 1.000 năm qua, vụ án kỳ lạ trên vẫn thách thức không biết bao nhiêu sử gia. Đã có vô số tác phẩm viết về nghi án này. Cho đến tận cuối thế kỷ 20, kịch gia Tào Mạt nổi tiếng nước nhà vẫn viết tác phẩm “Bài ca giữ nước” kể về chuyện Thái sư Lê Văn Thịnh “hóa hổ giết vua”. Vở kịch nổi tiếng trong Nam ngoài Bắc, nhưng nó như sự sỉ nhục với người làng Bảo Tháp cũng như 14 ngôi làng quanh vùng thờ ông như Thành Hoàng làng của mình.

Người dân ở đây không bao giờ tin Thái sư Lê Văn Thịnh, người con của làng quê, tài năng uyên bác, đức độ tuyệt vời, lại có thể là kẻ giết ông hề già và bán rẻ đất nước bằng cách lót đường đưa giặc vào.

Vậy nên, ngày đó, người dân Bảo Tháp đã cùng các làng thảo đơn gửi lên Sở VHTT Hà Bắc (cũ) để kiện, rồi Bộ VHTT (cũ), yêu cầu ngừng biểu diễn vở kịch này. Dù chính sử ghi chép tội đồ của Thái sư Lê Văn Thịnh, nhưng người dân trong vùng vẫn nhất nhất tin ông vô tội.

Ông đã bị sự ti tiện của đám gian tham hãm hại. Việc ai đó tạc một pho tượng thân rắn, nhưng tư thế và móng vuốt của rồng, tự cắn xé thân mình, rồi chôn xuống đất, nơi là nhà ông ở, rồi là đền thờ ông, đã thể hiện rõ niềm tin vô tội của ông.

Không biết do vô tình hay ý trời, nhưng vào đúng cái thời điểm người dân vác đơn đi kiện cho nỗi oan khiên của ông Thành Hoàng làng, thì pho tượng rồng kỳ lạ đã phát lộ sau 900 năm nằm dưới lòng đất.

Ngay thời điểm đó, Nhà nước đã mở các cuộc hội thảo ghi nhận công lao của Thái sư Lê Văn Thịnh, xóa bỏ hoàn toàn những xuyên tạc về ông trong lịch sử. Và cũng gần như ngay lập tức, đền thờ vị thái sư này được công nhận là Di tích văn hóa lịch sử cấp quốc gia.

Nhà cháu cũng không muốn KHOE NGHỀ ở đây về chuyện xác định niên đại, phong cách nghệ thuật của bức tượng.Thôi thì hãy cứ “bình dân học vụ”, theo people – popularity- popular science mà CÔNG NHẬN: Ông Rắn đó chính là Cụ Thái sư Lê Văn Thịnh; pho tượng đó kể về tâm trạng “đầy quằn quại, một sự đau đớn không biết chia sẻ với ai, chỉ có thể tự cào xé thân mình. Người dân trong vùng miêu tả nội dung bức tượng bằng một câu ngắn gọn: “Miệng cắn thân, chân xé mình.

(http://vtc.vn/394-319142/phong-su-kham-pha/nhung-bi-an-ve-ong-rong-tu-can-xe-than-minh.htm )

Điều đáng nói đến là cách bảo tồn bức tượng:

ĐẦU TIÊN, CÁC CỤ DỰNG MỘT TÒA NHÀ VUÔNG, XUNG QUANH TRỐNG, ĐỂ MỌI NGƯỜI ĐỀU CÓ THỂ QUAN CHIÊM BỨC TƯỢNG.

Cũng nên thôi, đá chôn dưới đất thì thiên niên vạn kỷ. Nhưng xuất lộ lên rồi thì mưa gió, thiên tai và cả nhân tai sẽ nhanh chóng làm hư hỏng.

rắn 6

Miếu Xà Thần, được dựng lên làm nơi thờ “ÔNG RẮN LÊ VĂN THỊNH”.

Thế rồi ngôi miếu đó được xây tường bao kín, cho THÂM NGHIÊM, Linh thiêng hóa. 

rắn 7

ÔNG RẮN mới đầu cũng chỉ ‘trần thân’

rắn 8

NHƯNG RỒI CHẢ BIẾT AI ĐÃ CHO PHỦ VẢI ĐỎ LÊN, LẠI CÒN TREO CỜ ĐỎ SAO VÀNG PHÍA ĐẰNG SAU

rắn 9rắn 10

HỒI MỚI BIẾT CHUYỆN, NHÀ CHÁU BỨC XÚC GHÊ LẮM. Ai lại làm thế chứ ? GIỜ NGHĨ LẠI MỚI ‘PHỤC’!

DẰN VẶT trong tâm thế “đầy quằn quại, một sự đau đớn không biết chia sẻ với ai, chỉ có thể tự cào xé thân mình”.

VÂNG, CẢ NƯỚC VIỆT NÀY ĐANG GIẰNG XÉ ĐÂU KHÁC THÁI SƯ LÊ VĂN THỊNH.

VẦNG “MIỆNG CẮN THÂN, CHÂN XÉ MÌNH”, biết đâu năm RẮN QUÝ 2013 này sẽ được chứng kiến MỘT CHUYỆN TƯƠNG TỰ. Nhưng trong ý nghĩa tích cực, CHỨ KHÔNG MÙ QUÁNG ‘TRUNG QUÂN’…

—-

Thôi, nhà cháu chả lạm bàn chính trị – chính iem.Càng không muốn link sang vụ Phê và Tự phê đang um xùm.

Chỉ ‘lăn tăn’ chả biết các “quân sư 2-way conditioning hot and cold” có ai lưu í các bác VIP về bức tượng có thể nói là ‘độc nhất vô nhị’ trên thế gian này ?

Hy vọng của nhà cháu khi nhắc lại chuyện này là biết đâu nó đến, và các bác ấy sẽ về đấy thắp vài nén hương.

Biết đâu Cụ Thái sư họ Lê sẽ bày cho vài ‘chiêu’ như Cụ đã “PHÂN GIẢI MỌI LẼ” để buộc NHÀ TỐNG CHẤP THUẬN TRẢ LẠI CHO ĐẠI VIỆT 6 HUYỆN 3 ĐỘNG MÀ HỌ ĐÃ CHIẾM TRƯỚC ĐÂY, để “Sang năm tới Hoàng Sa !”(Note: Ảnh trong bài nhà cháu lấy từ internet. Xin cám ơn !)

Vậy thôi ạ !

Nguyễn Hồng Kiên (Theo Hãy cùng tôi ghé thắm trái đất này)

—————————————————–

ẾCH RẮN GIAO TRANH

Đối với con người, Rắn có hại nhiều hơn có lợi nên thường tránh xa. Tuy cũng có nơi thân thiện nhưng nhìn chung thì con người sợ Rắn. Bệnh sợ rắn (Ophidiophobia) có vẻ là một bệnh bẩm sinh của con người, hình thành từ trong lịch sử đấu tranh sinh tồn, hơn là bệnh do tâm lý hay kinh nghiệm cá nhân, vì nhiều người tự nhiên có ám ảnh sợ Rắn mặc dù chưa nhìn thấy Rắn bao giờ.

Ngay cả tục thờ Rắn (ophiolatry)
 chủ yếu cũng do sợ mà ra. Thói đời, khi ghê sợ nhưng đành chịu không tìm được cách đối phó thì liền coi đó là vật thiêng phải tôn thờ, mà thờ lâu quá có khi lại sinh ra yêu mới khổ! Ôi chao, “tình yêu” là thứ mà các nhà văn nhà thơ coi là linh thiêng bậc nhất nhưng đôi khi (đôi khi thôi nhé) lại chỉ do bất lực, do bị áp đặt, do bất khả kháng mà ra. Mà khi đã buộc phải yêu thì thường nghĩ ra những thứ lý luận để tự biện minh, che giấu sự thua kém của mình. Tội nghiệp cho con người, hội chứng Stochkholm yêu kẻ nguy hiểm hại mình cũng do một bản chất như vậy.
Động vật thượng đẳng như người mà còn sợ Rắn thì những loại ếch ộp, cóc nhái ễnh ương sợ Rắn đến mất hồn là chuyện đương nhiên. Những ai có nhà vườn, ban đêm từng được nghe tiếng kêu thảm thiết của một chú ếch nhái, đang tuyệt vọng trước hàm một con Rắn thì ắt hiểu thấu cái thành ngữ thế nào là “kêu oai oái như rắn bắt ngóe”.
Nhưng quy luật dẫu đương nhiên đến đâu cũng vẫn có ngoại lệ. Nếu bảo Tạo hóa sinh loài Rắn để “đính chính” cho bọn Ếch nhái sinh sản tùm lum, như loài mèo để đính chính loài chuột, thì Tạo hóa cũng cho Ếch nhái một cơ hội “phản biện”, ấy là sinh ra loài Ếch xanh Australia thích ăn thịt Rắn như ta ăn gỏi.(hình bên).

Câu chuyện ngược đời Ếch ăn thịt Rắn, kể ra cũng chẳng phải chuyện gì ghê gớm, nhưng trong bối cảnh Việt Nam đang có một “cuộc chiến sôi động” liên quan đến Ếch, vào thời khắc “Long vĩ xà đầu khởi chiến tranh” của Sấm Trạng Trình này, dường như đang có sự ứng nghiệm rất kỳ lạ!

Sự kiện nóng hổi nhất là hội nghị TW6 cuối năm con Rồng vừa rồi đã “đẻ” ra một chú ẾCH khổng lồ, mà tên bị gọi chệch đi là “đồng chí X”! Ngay khi ra đời, đồng chí Ếch đã lập một chiến công vĩ đại chưa từng có là vô hiệu hóa được trung tâm quyền lực tuyệt đối của xứ sở, nơi các “vua tập thể” bấy lâu vẫn được coi là người nắm giữ toàn bộ ấn tín và khuôn vàng thước ngọc truyền lại từ các tiên đế gồm “mấy ông có râu” vĩ đại! Quyền lực tối cao ấy giáng xuống đâu là chỗ ấy chết cứng, cúi đầu, không nhúc nhích. Nay không biết chú Ếch khổng lồ có quái chiêu gì mà khiến cho các Vua tập thể mặt mũi đăm chiêu, đức Vua tối cao đã phải ngậm ngùi rơm rớm mấy giọtnước mắt cá… nhân và xin “tạm rút lui” một cách rất có trật tự, hẹn đến hồi sau sẽ tiếp?
Nhưng ở đời, cao nhân tất hữu cao nhân trị thì “cao vật” cũng có “cao vật” trị! “Cao vật” cứu nguy lúc này không ai khác, chính là Rắn! Đồng chí Rắn sinh đúng năm con Rắn 1953, oai phong xưng “” một vùng, tuy không phải Hùm nhưng “mắt thần khi đã quắc” trong rừng núiNgũ Hoành thì cũng khiến cho“mọi vật đều im hơi” chứ đâu có xoàng?
Cuộc chiến giữa Rắn và Ếch tất nhiên nổ ra, hứa hẹn nhiều pha cụp lạc. Ai gian hơn ai, ai hùng hơn ai, chưa biết.
Không biết tự bao giờ, ông cha ta lại hình dung ra cái cảnh ngược đời:
Bao giờ cho đến tháng ba,
ẾCH cắn cổ RẮN tha ra ngoài đồng
Ếch cắn cổ Rắn? Rắn vẫn bắt ngóe chứ đồng chí Ếch lại xơi tái được đồng chí Rắn ư? Biết đâu đấy, xứ này đã quen với quá nhiều nghịch lý và phản nghịch lý, mọi sự đều có thể. Ăn thua là ở thời cơ và “công lực”. Thời cơ thì biến chuyển khôn lường, còn “công lực, chưởng lực” thì quy luật xưa nay vẫn tỷ lệ nghịch với sự giáo dục và chữ nghĩa, càng ít chữ nghĩa thì công lực càng phi thường.

Có người coi câu ca dao trên đây là lời Sấm, ứng cho năm nay. Mà đã là Sấm thì chữ nghĩa rất bí hiểm, phải “luận” mãi mới ra. Nên họ xì xào rằng sự rắc rối ở đây còn ở chữ “tha”, tha là lôi ra đồng để xơi tái, hay tha đồng nghĩa với thả, là buông tha nhau ra? Có khi hai bậc hảo hớn ấy chỉ dọa nhau chơi rồi cọp nào lại về rừng ấy, chứ chẳng anh nào nuốt được anh nào chăng? Phải để hạ hồi phân giải.
Mặc, người làm câu đối thì cứ biết làm câu đối mừng Xuân (chứ chẳng mừng đồng chí Rắn đồng chí Ếch nào hết).
Nhân câu ca dao (hay lời Sấm) nói trên, với chữ “tha” hóc hiểm, hủ nho tôi xin xuất một vế đối vui, mời các “đối sĩ” cao thủ thử tài:
Ếch “tha” cổ Rắn ra đồng, Ếch “tha” Rắn, Rắn không “tha” Ếch?


Hà Sĩ Phu

———————————————–

Tú Anh:

Nhân dịp Tết Quý Tỵ, giới chiêm tinh Trung Hoa dự báo một năm con rắn nhiều xáo trộn: xung đột Nhật Bản – Trung Quốc trên biển, thị trường tài chính thế giới chao đảo như rắn uốn mình. Tuy nhiên cũng như rắn lột da, Quý Tỵ cũng hứa hẹn nhiều thay đổi sâu rộng. Năm Rắn bắt đầu kể từ 10/02/2013 tốt hay xấu ?

Để “trả lời” câu hỏi này, trong bài tường thuật 07/02/2013 từ Hồng Kông nhân dịp năm rồng sắp qua, năm rắn sắp đến, AFP tóm lược dự báo của một số chiêm tinh gia Trung hoa về tương lai trong năm Quý Tỵ. Theo hãng tin có tiếng nghiêm túc này thì “giới chiêm tinh Á châu tiên đoán con rắn năm nay là con rắn độc, hành thủy, sẽ mang lại những tai họa lớn và chuyển đổi quan trọng.

Trong quá khứ, năm Tỵ 2001 nổ ra vụ Al Qaida khủng bố tòa tháp đôi New York, năm Tỵ 1989 xảy ra phong trào Dân chủ Thiên An Môn và cuộc đàn áo đẫm máu đêm mùng 3 rạng mùng 4 tháng 6, năm rắn 1941 không quân Nhật Bản bất ngờ tấn công Trân Châu Cảng. Một chiêm tinh gia họ Châu dự báo vào tháng 5, xác xuất Nhật Trung đụng độ tại biển Hoa Đông rất cao.

Trên các mạng xã hội tại Việt Nam cũng có nhiều dự báo và ước vọng trong năm Quý Tỵ. Tại Pháp, nhà nghiên cứu văn hóa lịch sử Nguyễn Dư không tin vào bình luận của giới chiêm tinh nhưng quan tâm nhiều hơn về giai thoại “rắn” trong dân gian, trong thi ca.

RỒNG RẮN LÊN MÂY (GS Nguyễn Dư)

Nước ta nhiều núi rừng, sông lạch. Lắm thuồng luồng, rắn rết. Rắn bò vào điện thờ, chui vào sách vở, nấp trong quán ăn. Trẻ con mới tập tễnh cắp sách đến trường đã phải rùng mình làm quen với họ hàng nhà rắn :

Chẳng phải liu điu, vẫn giống nhà,
Rắn đầu biếng học lẽ không tha.
Thẹn đèn, hổ lửa, đau lòng mẹ,
Nay thét, mai gầm, rát cổ cha,
Ráo mép chỉ quen lời lếu láo,
Lằn lưng chẳng khỏi vệt năm ba.
Từ nay Châu, Lỗ, xin siêng học,
Kẻo hổ mang danh tiếng thế gia.
(Rắn đầu biếng học, Quốc văn giáo khoa thư)

Rắn đầu biếng học, có bản chép là Trách mình biếng học, tục truyền là của Lê Quý Đôn. Bài thơ ghép được nhiều tên rắn như vậy thì ngoài thần đồng Lê Quý Đôn ra ai mà làm được, phải vậy không thưa các cụ? Lãng Nhân (Giai thoại làng Nho), Bùi Hạnh Cẩn (Lê Quý Đôn), Tạ Quang Phát (Vân đài loại ngữ) và nhiều học giả khác kể rằng :

Năm lên tám, một hôm Lê Quý Đôn bị bố mắng là đồ rắn đầu rắn cổ (hay rắn đầu biếng học), bèn xuất khẩu « phun » ra bài thơ!

Rằng hay thì thật là hay, nhưng nghe không ổn, hôm nay xin bàn! Bàn về Rắn và Rắn. Rắn luồn lách và rắn cứng đờ. Rắn (con rắn) thì cả nước ta ai cũng biết. Tất cả các tự điển tiếng Việt từ xưa đến nay đều có từ Rắn này. Khỏi cần bàn thêm.

Rắn (cứng) mới… có vấn đề. Từ điển Alexandre de Rhodes (1651) có từ Rắn (cứng). Có cả Rắn gan và Rắn mày rắn mặt. Đại Nam quốc âm tự vị (1895) của Huỳnh Tịnh Của không có Rắn (cứng). Chỉ có Cứng (cứng lòng, cứng cổ, cứng đầu). Tự điển Génibrel (1898) có Rắn (raide), Rắn mắt (têtu) và Rắn gan, rắn dạ (audacieux).

Việt Nam tự điển (1931) của hội Khai Trí Tiến Đức không có Rắn (cứng) nhưng lại có Dắn (cứng, trái với nát). Ngược lại, Cứng nghĩa là Dắn (không bẻ được, trái với mềm). Tìm trong tất cả các tự điển xưa không đâu có rắn đầu và rắn đầu rắn cổ.

Thực tế thì người miền Bắc thường mắng con là đồ Cứng đầu cứng cổ hay Rắn mày rắn mặt. Người đàng ngoài không nói rắn đầu hay rắn đầu rắn cổ. Khuyên con chăm học chứ không khuyên siêng học. Đọc truyện Đông Chu liệt quốc, kính phục cụ Phan Chu Trinh. Châu, Lỗ hơi xa lạ với họ.

Lê Quý Đôn sinh năm 1726 tại Diên Hà (Thái Bình). Mười bốn tuổi mới rời quê, theo cha lên kinh đô Thăng Long… Rắn đầu biếng học và Châu, Lỗ xin siêng học, chắc chắn không phải là khẩu khí của cậu bé Lê Quý Đôn.

Bố Lê Quý Đôn mắng con rắn đầu rắn cổ (Lãng Nhân, Bùi Hạnh Cẩn) là… mắng bậy!
Rắn của Quốc văn giáo khoa thư bò lung tung như vậy nhưng vẫn còn kỉ luật hơn rắn của nhà nho rất nhiều.

Sách Công dư tiệp ký của Vũ Phương Đề (thế kỉ 18) có truyện Quan Phục Hầu Nguyễn Trãi :
« Quốc triều Quan Phục hầu Ức Trai tiên sinh người xã Nhị Khê, huyện Thượng Phúc. Trong khi Thái Tổ Cao Hoàng Đế bình định thiên hạ, các hiệu lệnh văn thư đều do tay ông thảo cả. Trong bài Bình Ngô đại cáo của ông có câu rằng :

Toại linh Tuyên Đức chi giảo đồng, độc binh vô yếm.
Nghĩa là : Đến nỗi đứa trẻ con giảo quyệt như Tuyên Đức nhàm võ không chán.

Ông làm câu ấy, là vì ông oán ghét người Minh nhiễu hại nước ta, nên xỉ vả thẳng đến vua của họ. Người Trung Quốc xem bài Bình Ngô đại cáo phê rằng : « Người nào làm bài này, con cháu sẽ không được toàn vẹn ». Về sau vì việc Thị Lộ ông bị giết chết. Người ta cho lời phê của người Trung Quốc là linh nghiệm.

Ông lấy Nguyễn Thị Lộ làm vợ lẽ. Tục truyền Thị Lộ là yêu tinh rắn hoá thành (…). Sau ông vì nàng mà bị tội » (1).

Vũ Phương Đề là người đầu tiên đem « sấm » Tàu và « yêu tinh rắn » vào thêu dệt cái chết của Nguyễn Trãi. Vũ Phương Đề đã mở đường cho phong trào viết… « lẫn lộn thực hư ». Cái chết bi đát của Nguyễn Trãi, một sự kiện lịch sử có thật, bắt đầu được tô vẽ, thêm bớt.

Đầu thế kỷ 19, Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án soạn sách Tang thương ngẫu lục, chép truyện Ông Lê Trãi. Thực thực hư hư. Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Trãi được thần báo mộng, được Tiên Dung mách bảo vào Lam Sơn phò Lê Lợi …

Trước khi hiển đạt, Nguyễn Trãi mở trường dạy học ở làng Nhị Khê. Một hôm ông sai học trò dọn sạch một cái gò để dựng nhà học. Đêm hôm ấy ông nằm mộng thấy một người đàn bà đến xin ông cho ngừng chặt phá, làm cỏ trong 3 ngày để mẹ con bà kịp rời đi nơi khác. Tỉnh dậy, ông ra thăm thì thấy học trò đã làm cỏ xong cái gò. Chúng khoe có đánh cụt đuôi một con rắn và bắt được hai quả trứng.

« Ông cầm hai quả trứng về nuôi giữ. Đêm hôm ấy giong đèn đọc sách, ông thấy một con rắn trắng leo trên xà nhà, rỏ giọt máu xuống sách, ướt chữ « đại » (là đời), vết máu thấm xuống ba tờ giấy. Ông tự hiểu mà rằng :
– Nó sẽ báo oán ta đến ba đời sau.
Trứng rắn nở ra được hai con, một dài một ngắn, ông sai đem thả xuống sông Tô Lịch ở làng bên, nay những rắn ấy làm thần sông.

Khi ông hiển đạt, thường mỗi ngày ở triều đình về, qua phố hàng Chiếu, gặp một người con gái nhan sắc rất đẹp. Hai bên dùng thơ đùa cợt, rồi ông yêu mến, lấy về làm thiếp. Trong năm Thiệu Bình, người ấy thường đi lại vào trong cung cấm, vua Thái Tông cho làm chức Nữ học sĩ. Đến khi vua thăng hà, Triều đình đem nàng ra tra hỏi. Nàng nói là do ông xúi. Vì thế nên ông phải tội. Khi bị hành hình người con gái ấy hoá làm con rắn, bò xuống mặt nước mất.

Ông có một người thiếp chạy trốn xuống vùng Sơn Nam, ẩn ở nhà người, rồi sinh ra được một người con trai là Anh Võ (…). Nhớn lên, Anh Võ làm quan ở Đài sảnh, rồi phụng mệnh đi sứ Tàu. Khi qua hồ Động Đình, thấy trên mặt nước xuất hiện một con rắn, rồi sóng gió nổi lên dữ dội, ông khấn xin cho đi xong việc nước, sóng gió mới im. Sau khi đi chầu vua Tàu về, đến hồ Động Đình, thuyền bị úp sấp mà chết đuối, được truy tặng Thái Sư Sùng Quốc Công » (2).

Truyện Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được dàn dựng công phu, có nhiều tình tiết hấp dẫn. Truyện được nhiều tác giả đời sau, trong đó có cả người Pháp, tiếp tục thêm mắm thêm muối, « xào xáo » lại.

Năm 1886, Landes kể truyện Ông Nguyễn Trại (Nguyễn Trãi được Tây gọi là Nguyễn Trại). Xin tạm dịch : « Nguyễn Trại là ông tổ thứ nhất của Gia Long. Ông làm quan kiểm lâm thời Lê. Một hôm ông dẫn lính vào rừng đốn cây, gặp một tổ rắn, đến đêm nằm mộng thấy một người đàn bà (…).

Sau khi bọn lính giết con rắn cái, trên đường về ông gặp một cô bé rất xinh đang đứng khóc. Cô bé lúc này đã bị hồn con rắn cái yêu tinh kia nhập vào. Nguyễn Trại động lòng mang cô bé về nuôi. Lớn lên cô được tuyển vào cung vua.

Có lần Hoàng thái hậu bị đau mắt, không lang y nào chữa nổi. Cô gái xin chữa. Cô chỉ liếm nhẹ vào mí mắt, Hoàng thái hậu bèn khỏi.

Một hôm nhà vua bị đau lưỡi, cho vời cô gái vào chữa. Cô gái xin nhà vua lè lưỡi cho cô xem. Vua lè lưỡi. Cô gái bỗng nhe răng cắn lưỡi vua. Vua chết tức khắc. Đình thần ra lệnh giết cô gái. Nguyễn Trại và người lính hầu của ông bị xử tội phải chôn sống.

Vợ người lính biết tin, lên đường đi thăm chồng. Nhưng, lúc bà đến được cửa ngục thì chồng đã bị hành quyết. Nguyễn Trại nói với vợ người lính : « Chồng nàng chết vì ta. Ta bị oan, cũng sẽ chết. Chuyện đã rồi ! Nàng hãy chìa tay ra để ta lưu dấu tích lại cho hậu thế ». Người đàn bà chìa tay ra, Nguyễn Trại liền nhổ nước bọt vào lòng bàn tay.

Trở về nhà, người đàn bà mang thai. Bà sinh được một đứa con trai nối dõi dòng họ Nguyễn Trại ». Landes chú thích : Có người kể rằng Nguyễn Trại từ chối những lời dụ dỗ của con yêu tinh nhập vào cô bé. Thậm chí ông còn đánh cô bé. Con yêu tinh trả thù bằng cách nhập vào con gái của ông. Lớn lên, con gái của Nguyễn Trại được tuyển vào cung vua, trở thành hoàng hậu. Về sau, hoàng hậu phạm tội giết vua. Dòng họ Nguyễn Trại bị giết hết. Lúc sắp chết Nguyễn Trại được vợ một người lính xin được tiếp tục lưu truyền dòng dõi của ông » (3).
Năm 1898, Nordemann kể Sự tích ông Nguyễn Trãi bằng chữ quốc ngữ. Nordemann cũng nói tên Trại bị trại thành Trãi !

« Đời vua Thái Tổ, nhà Hậu Lê, ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, tỉnh Hà Nội, có một người tên là Nguyễn Trại (tục gọi là Nguyễn Trãi)… Nguyễn Trại nằm mộng thấy một người đàn bà xin cứu cho « mười ba mẹ con tôi ». Sau đó, người nhà dọn vườn chém con rắn chửa mười hai trứng v.v.

Truyện của Nordemann đại khái cũng giống truyện của Landes. Nhưng Nordemann đưa ra một chi tiết cần được kiểm chứng : « Nghe có người nói rằng ông Nguyễn Hữu Độ, làm kinh lược Bắc Kỳ, tước là Vĩnh Lại Quận Công, mới mất năm Đồng Khánh thứ ba, cũng là dòng dõi ông (Nguyễn Trại) ấy » (4).

Năm 1908, Dumoutier lại đưa thêm vài điều mới vào truyện Vua Lê Lợi và con rắn hồ Động Đình. Xin dịch tóm tắt :
« Ông Phi Khanh dọn vườn sửa soạn đất làm nhà. Ông nằm mộng thấy một người đàn bà xin ông tha chết cho ba mẹ con v.v. Phi Khanh đọc sách, bị con rắn trên xà ngang nhỏ một giọt máu xuống sách, thấm ướt 3 tờ giấy…
Con trai Nguyễn Trãi tên là Nguyen Dam được vua Lê Thánh Tôn cử đi sứ sang Tàu. Thuyền đang đi trong hồ Động Đình thì một con rắn rất lớn nổi lên vùng vẫy gây sóng gió. Nguyen Dam xin được đi bình yên, lúc trở về sẽ nộp mình.

Đi sứ xong, lúc trở về Nguyen Dam lại gặp rắn. Ông viết 2 bức thư gửi vua Tàu và vua ta để giãi bày hoàn cảnh, rồi nhảy xuống sông. Con rắn cắn ông, lôi xuống đáy hồ. Vua Tàu được tin, bèn sai phù thuỷ dùng bùa bắt con rắn. Mổ bụng moi xác Nguyen Dam, đem chôn cất. Thân rắn bị chặt làm 3 đoạn, vứt xuống hồ. Trong hồ bèn nổi lên 3 hòn đảo. Vua Tàu phong Nguyen Dam làm thần hồ Động Đình » (5).

Dumoutier mời Bố của Nguyễn Trãi nhập cuộc. Nguyen Dam (không biết tên Việt là gì) có liên hệ gì với Anh Võ (hay Anh Vũ) không ?

Ba tác giả Pháp đưa ra nhiều tên mới lạ, không hiểu nhằm mục đích gì ?
Tại sao Nguyễn Trãi bị đổi thành Nguyễn Trại ?
Trường hợp dấu ngã đổi thành dấu nặng chúng ta còn thấy trong một văn bản khác. Địa danh Vỹ Dã, Tổng Dã Lê, xã Dã Lê thượng, Dã Lê hạ của thời Lê Quý Đôn (6) đã trở thành thôn Vỹ Dạ, làng Dạ Lê không biết từ lúc nào.

Rất có thể mấy ông Tây đã được mấy ông thông ngôn trọ trẹ chữ quốc ngữ « gà » cho chăng ?
Truyện Ông Lê Trãi của Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án được Phan Kế Bính đổi tên thành Nguyễn Trãi, đưa vào sách Nam Hải dị nhân.

Phan Kế Bính cho biết « vua Thái Tôn nhân đi chơi qua tỉnh Bắc, vào chơi trại Tiêu viên, Nguyễn Trãi đi vắng, có nàng hầu là Thị Lộ, ở nhà pha chè hầu vua, chiều hôm ấy vua mất… » (7).

Ngô Sĩ Liên chép là vua về đến Lệ chi viên (vườn Vải). Phan Kế Bính chép là trại Tiêu viên (vườn Chuối). Bao giờ thì đến lượt vườn Chà Là, vườn Sa Bô Chê ?

Nguyễn Đổng Chi đổi hẳn tên truyện thành Rắn báo oán. Ông ngờ rằng Rắn báo oán của ta chịu ảnh hưởng truyện Phương Chính Học và truyện Ngô Trân của Tàu.

« (Rắn báo oán) là câu chuyện do tầng lớp nho sĩ gần gũi giai cấp thống trị bịa đặt ra nhằm huyền thoại hoá tấn thảm kịch của người anh hùng Nguyễn Trãi, xoá mờ sự thật về tấn thảm kịch ấy, hòng gỡ tội cho những kẻ đã gây ra cái chết oan khốc của ông và cả họ ông » (8).

Thưa cụ Nguyễn Trãi, vàng thau lẫn lộn của thời xưa chưa phiền bằng « vàng ta pha vàng tây » của đời sau đâu ạ! Cụ sống khôn thác thiêng, xin cụ… xí xoá cho !
Thuở bé tôi thích nghe chuyện thần thánh, ma quỷ. Cho đến ngày bị thầy mắng Nói có sách, mách có chứng, bị cụ Mạnh bắt gặm cục xương Tận tín thư bất như vô thư mới tỉnh người. Từ đó hết thích truyện « vớ vẩn ».

Dân ta có truyền thống kính trọng các vị anh hùng dân tộc. Thần thánh, ma quỷ chỉ nên kính nhi viễn chi, xin các sử gia đừng nhập nhằng đưa vào sử.

Vẽ rắn thêm chân nên giao cho nghệ nhân dân gian, những người như Thạch Sanh.
Thạch Sanh mồ côi cha mẹ, kết nghĩa với Lý Thông. Trong vùng có con yêu tinh :
Nó là rắn lớn hiện hình,
Nhờ hơi nhật nguyệt thành tinh hại người

Nhà vua treo giải thưởng tìm người giết con Xà tinh. Thạch Sanh vác búa đi giết được Xà tinh. Nhưng bị Lý Thông lập mưu cướp công. Một hôm, công chúa bị Mãng Xà Vương « tam đầu cửu vĩ (ba đầu chín đuôi) ai nào chẳng ghê » hoá thành Đại Bàng bắt mang về hang. Thạch Sanh giết Mãng Xà vương, cứu được công chúa. Nhưng lại bị Lý Thông cướp công, lấp cửa nhốt dưới hang (…). Thạch Sanh còn gặp nhiều lận đận. Còn phải giết Trăn Tinh, đánh hồ tinh. Cuối cùng, Lý Thông cũng bị trừng trị. Thạch Sanh dẹp được giặc, được vua gả công chúa, truyền ngôi.

Xà của Tàu là rắn của ta. Mãng là con trăn, một giống rắn lớn. Trăn tinh không biết có họ hàng gì với Chằn tinh không ? Chằn cũng là yêu quái (Huỳnh Tịnh Của). Bên cạnh mấy con rắn có chân làm trò mua vui, vô thưởng vô phạt, ta còn có mấy con rắn giúp các ông đồng bà cốt, pháp sư phù thuỷ kiếm ra tiền.

« Phụ thần Bạch Xà thì dùng một con rắn bằng rơm rồi phù phép vào con rắn để con rắn bò quanh nhà diệt tà ma. Con rắn thường bò được là nhờ trong ruột có bộ phận cử động bằng máy, nhưng những người quá tin cho là thầy phù thuỷ cao tay có phép lạ » (9)

« Tại các điện thờ chư vị, nhất là điện thờ các ông Hoàng, bà Chúa Thượng Ngàn, ta thường thấy ở hai bên hàng sà kèo có cặp rắn trắng rất lớn mào đỏ, mà các đệ tử gọi là ngựa ngài, tức là cặp rắn là cặp ngựa để ngài cưỡi.

Các đệ tử con hương thường thuật lại tại các đền thờ ông Hoàng bà Chúa ở đường rừng, hay có những cặp rắn có mào thật bò ra quấn lấy kèo lấy cột ở trong đền, khác hẳn với các đền, điện miền xuôi, cặp rắn chỉ là đồ mã ».

« Nói về rắn, phải kể tới loại rắn biển, tức là con đẻn cũng được dân ta ở ven miền duyên hải kính sợ tôn thờ và gọi bằng Ông (…). Cũng là đẻn, phải kể đến bà Lạch tức là bà Chằng lạch và bà Mộc, được gọi là Mộc trụ thần xà » (10).
« Đẻn là loại rắn biển có nhiều sắc, nó cắn nhằm ai thì bắt ngủ mê mà chết. Đẻn cườm là đẻn có hoa lúm đúm, chính là đẻn độc hơn.
Thành ngữ Xông khói đẻn nghĩa là đốt đẻn khô làm cho chủ nhà mắc khói nó mà ngủ mê, ấy là nghề kẻ trộm ». (Huỳnh Tịnh Của).

Có âm thì phải có dương. Có bà thì phải có ông.

« Cấu trúc không gian trong các điện thờ Mẫu, vị trí chư vị thần thánh được bài trí sắp xếp theo ba tầng : tầng trên không, tầng ngang trên ban, bệ thờ và tầng trệt. Đây là một điều rất riêng vì không có tôn giáo tín ngưỡng nào bài trí như vậy. Ở tầng không là sự hiện diện của đôi mãng xà (còn gọi là Ông Lốt) tượng trưng cho quan lớn Tuần Tranh. Một con màu trắng, một con màu sẫm quấn trên xà ngang phía trái, bên trên ban thờ » (11).

Quan lớn tuần Tranh là ai ?

« Ở huyện Vĩnh Lại (Hải Dương), về đời Trần có hai vợ chồng nghèo, không con cái. Một hôm người chồng làm vườn bắt được hai quả trứng. Trứng nở ra hai con rắn. Người vợ muốn giết. Người chồng bảo để nuôi. Rắn một ngày một lớn. Vợ chồng phải đem ném xuống sông. Nước sông bỗng xoáy lại thành vực.

Một hôm có nàng công chúa qua sông, bị nước xoáy không đi được. Người vợ ném cơm xuống sông, khấn vái. Sông lặng sóng ngay. Dân sở tại lập miếu thờ thần Thuồng Luồng của sông. Đến đời Trần Minh Tôn, có vợ quan phủ Ninh Giang Trịnh Thường Quân là Dương Thị bị mất tích. Thường Quân phải nhờ Bạch Long Hầu dắt xuống Thuỷ Cung tìm vợ. Vợ chồng gặp lại nhau. Dương Thị kể cho chồng nghe chuyện bị hoàng tử thứ năm của Thuỷ Thần Long Vương bắt về làm vợ. Thường Quân đem chuyện khiếu nại với Thuỷ Thần. Thuỷ Thần xử cho vợ chồng Trịnh Thường Quân được đoàn tụ. Phạt hoàng tử thứ năm, đày ra sông Tranh cho được đới công chuộc tội.

Thuỷ thần vừa tuyên án xong thì trên trần gian miếu thần Thuồng Luồng bị đổ nát. Người ta thấy một con rắn dài hơn mười trượng, vảy biếc mào đỏ nổi trên mặt nước đi về phía sông Tranh, hơn trăm rắn nhỏ theo sau. Hoàng tử thứ năm hiển linh tại sông Tranh. Dân gian lập đền thờ, gọi là đền thờ Quan lớn tuần Tranh. Hàng năm mở hội. Các bà các cô lên đồng, hầu bóng rất đông » (12).

Ông Lốt là… cái gì ?

Lốt nghĩa rộng là vị thần đội lốt rắn thường gọi là ông Lốt. Nghĩa bóng là mượn bóng mượn tiếng đi doạ nạt lừa đảo. Thí dụ : đội lốt sư đi khuyến giáo. (Từ điển Khai Trí Tiến Đức).
Lốt là con rắn huyền thoại, một loài rắn nước mà người ta thường mô tả là có 3 cái đầu người và 9 tấm vẩy ở cuối đuôi. Nó dùng để cho thuỷ thần cưỡi, theo đạo đồng cốt (Nordemann).
Ông Lốt là « ngựa » của ông Hoàng ba, hoàng tử thứ năm, quan lớn tuần Tranh. Lốt sống dưới Thuỷ phủ. Lốt cũng có ba đầu chín đuôi, giống Mãng Xà Vương của truyện Thạch Sanh.
Nhìn sang vườn nhà hàng xóm cũng thấy rắn. Rắn thật !

Liễu Tôn Nguyên kể truyện người bắt rắn :
« Ở Vĩnh Châu có giống rắn lạ, thân đen, vằn trắng chạm vào cây cỏ, thì cây cỏ chết, cắn phải người, thì không thuốc gì chữa nổi. Song mà bắt được giống rắn ấy dùng làm thuốc để chữa những bệnh như bệnh trúng phong, bệnh co quắp chân tay, lại sát được cả trùng.
Cho nên nhà vua có lệ bắt dân gian mỗi năm phải hiến hai con rắn ấy để dành. Ai bắt được rắn thì được trừ thuế ruộng.

Người châu Vĩnh tranh nhau mà làm nghề bắt rắn. Có nhà họ Tương cũng làm nghề ấy đã được ba đời. Hỏi ra thì nhà họ Tương nói :
– Ông tôi chết về nghề bắt rắn, cha tôi cũng chết về nghề bắt rắn. Tôi nối nghề ông cha tôi mới có mười hai năm, cũng đã mấy lần suýt chết.
Người ấy nói, vẻ mặt rất buồn rầu.
Ta thương và hỏi rằng :
– Nhà ngươi có thật cho nghề bắt rắn là khổ không ? Ta sẽ nói với quan trên cho nhà ngươi bỏ nghề ấy mà cứ nộp thuế ruộng như thường. Nhà ngươi tính thế nào ?
Người họ Tương vừa khóc, vừa nói :
– Ông thương tôi, muốn cho tôi sống, thì ông để cho tôi làm nghề bắt rắn còn hơn. Nếu tôi không làm nghề này thì tôi khốn khổ đã lâu rồi. Nhà tôi ba đời ở làng kể đã hơn sáu mươi năm, cách sinh nhai trong làng mỗi ngày một quẫn bách. Người làng phải rút hết cả lợi hoa màu, vét hết cả của cải trong nhà để mà nộp thuế hết, thậm chí bỏ làng, bỏ xóm, đói khát, trôi giạt, chết đường, chết chợ kể bao nhiêu người. Những người vào chạc tuổi ông tôi mười nhà không còn một. Những người vào chạc tuổi cha tôi, mười nhà còn độ hai, ba. Những người vào chạc tuổi tôi mười nhà còn độ bốn, năm. Không chết chóc thì lưu lạc cả…

Tôi nhờ nghề bắt rắn mà còn đến bây giờ. Những quan lại tàn ác về làm thuế làng tôi, xúc hết đầu làng, cuối xóm vơ vét đến cả con gà, con chó, dân gian phải hãi hùng kinh sợ. Những lúc ấy, về phần tôi, tôi được yên lặng, trông trong giỏ con rắn vẫn còn là tôi được ăn no, ngủ yên. Tôi làm nghề bắt rắn một năm sợ chết chỉ có hai lần, ngoài ra là vui vẻ, không phải lo thuế má, không đến nỗi như người làng xóm tôi hết ngày này, sang tháng khác khốn khổ về quan lại tàn ác. Giá tôi có chết về nghề bắt rắn, ví với người làng xóm tôi cũng đã là chậm, đâu dám cho là rắn độc mà xin thôi.

Ta nghe câu chuyện, lại càng thương lắm. Xưa Đức Khổng nói : « Chính sách hà khắc độc hơn hổ dữ » ta vẫn ngờ, bây giờ xem chuyện họ Tương mới cho là thật. Than ôi ! cái độc quan lại tàn ác làm thuế ở dân gian dữ hơn con rắn độc, cho nên nói ra đây để người xem xét phong tục thấu được tình cảnh đau khổ của dân ! » (13).
Kinh Thi có câu : « Duy huỷ duy xà nữ tử chi tường ; duy hùng duy bi nam tử chi tường » (Mộng thấy rắn là điềm sinh con gái, mộng thấy gấu là điềm sinh con trai).
Điềm lành hùng huỷ hiện thân
Kể đã ba đời sinh được phu nhân (Thiên Nam ngữ lục) (14).
Tục truyền là bà ngoại Khổng Tử một hôm nằm mộng thấy một con rắn be bé xinh xinh bò vào giường, chui xuống dưới chăn. Mẹ Khổng Tử nằm mộng thấy một con gấu trúc to tướng vén màn leo vào giường. Người Tàu cho rằng đó là điềm thánh nhân sắp ra đời !
Nói chung, loài người không thích rắn. Thậm chí sợ rắn.
Sợ từ ngày bà E-Và bị Rắn dụ dỗ ăn trái cấm. Bà mời ông A-Dong cùng ăn. Thượng đế hay tin bèn nổi giận, đuổi ông bà ra khỏi vườn Địa Đàng. Phạt ông bà và con cháu đời sau phải sống… như chúng ta bây giờ !

Rắn trở thành kẻ thù của loài người từ ngày đó.

Người phương Tây gọi những kẻ hay nói xấu, chụp mũ người khác là bọn rắn độc (langue de serpent, langue de vipère). Cứu giúp kẻ vô ơn, sẵn sàng quay lại hại chính mình là ấp rắn trong ngực (Réchauffer un serpent dans son sein). Ta gọi bọn khua môi múa mép là nói rắn trong lỗ bò ra. Dân ta căm thù, nguyền rủa bọn cõng rắn về cắn gà nhà. Nói đúng hơn là bọn bắt rắn về cắn gà nhà (Léopold Cadière).

Tuy nhiên, rắn phương Tây cũng có khi được cưng. Ngày nay chúng ta thấy nhan nhản rắn trên bảng hiệu của bác sĩ, tiệm thuốc tây. Ồ, lạ nhỉ ? Vì sao vậy ?
Thần thoại Hi Lạp suy tôn Asclépios là ông thần đứng đầu ngành y. Ông có tài chữa lành cho người mù, người tàn tật. Ông cải tử hoàn sinh cho Glaucos, Tyndare, Hippolyte. Tâm nguyện của Asclépios là cứu nhân độ thế… hoàn toàn miễn phí.

Không ngờ, việc làm của Asclépios đã gây bất mãn cho vị thần cai quản Địa ngục Hadès. Hadès lo ngại… thiếu dân để hành hạ. Hadès khiếu nại với Zeus. Zeus mủi lòng trước cảnh đất rộng người thưa của Địa ngục, bèn tung sét đánh chết Asclépios.
Sinh thời, Asclépios rất thích rắn vì rắn là con vật biết thay da đổi thịt, biết đổi mới hàng năm. Rắn lột xác giống như bệnh tật được chữa khỏi, sức khoẻ được phục hồi.
Lúc đi hành nghề, Asclépios bao giờ cũng mang theo chiếc gậy có chạm trổ một con rắn. Vì vậy mà các bác sĩ, dược sĩ đã chọn Rắn quấn gậy làm biểu tượng của ngành nghề và mời rắn bò lên bảng hiệu.

Rắn của người lớn rắc rối quá.

Rốt cuộc chỉ có Rồng rắn của trẻ con là dễ thương nhất !
Lũ trẻ thật là… rắn gan (de Rhodes, Génibrel). Dám để cho rắn chơi trèo với rồng. Chúng mày cho dân đen được dòm mặt vua à? Không coi tôn ti trật tự ra cái quái gì.
Trò chơi Rồng rắn chia làm hai phe. Ít đứa chơi (chuyện khó tin!) thì chọn một đứa làm thầy thuốc, đám còn lại ôm nhau làm rồng rắn. Thầy thuốc phải đuổi bắt cái đuôi rồng rắn. Nếu có nhiều đứa chơi thì chia làm hai phe, mỗi phe là một rồng rắn. Đứa đứng đầu vừa phải bảo vệ, che chắn cho cái đuôi khỏi bị đối phương bắt, vừa phải tìm cách bắt cái đuôi của đối phương. Vào trò, rồng rắn uốn éo hát :
Rồng rắn lên mây
Có cây núc nác
Có nhà điểm binh
– Thầy thuốc có nhà không?
– Thầy thuốc không có nhà
(…)
– Xin khúc đuôi
– Tha hồ mà đuổi.

Thế là tha hồ đuổi bắt nhau. Vui nhộn, ồn ào. Người lớn bực mình thì mặc kệ người lớn !
Gần đây bên Âu Tây nảy sinh mốt chơi rắn cảnh. Đẹp… dễ sợ ! Nhưng chưa đáng sợ bằng mốt ẩm thực đầy « tâm huyết » của đại gia nước ta. Hôm nay mời ông món lạ. Ít hiệu có.
Khách chuyện trò mới hết nửa đĩa lạc rang thì từ nhà bếp một « thích khách » mặt lạnh như tiền bước ra. Tay cầm dao, nách kẹp chiếc gậy nhỏ. Một thằng tiểu đồng xách giỏ rắn theo sau. Thầy trò đến trước mặt khách ẩm thực chờ lệnh. Ông khách quen của hiệu liếc nhìn giỏ rắn rồi hất hàm, chỉ tay. « Thích khách » liền thò chiếc gậy gắn móc sắt vào giỏ, khoắng một vòng, lôi con rắn được chọn ra ngoài. Tay còn lại múa một đường, cổ rắn bị kẹp chặt. Dao loè sáng. Tiết rắn phọt ra. Tiểu đồng nhanh tay giơ tách hứng. Không một giọt rơi xuống mặt bàn. Thêm một đường dao. Tim rắn bị móc ra, thả vào tách. Tiểu đồng mở chai Quốc Lủi, rót đầy tách, đặt trước mặt khách.

Khách mỉm cười, gật đầu ra hiệu cho « thích khách » biểu diễn thêm một lần nữa…
Tâm, huyết đã sẵn sàng. Hồ trường ! Hồ trường ! Ta biết rót về đâu ?(Nguyễn Bá Trác). Rót vào họng chứ còn rót vào đâu nữa? Định rót vào túi à? Lộc trời cho, ta cứ nốc. Làng Lệ Mật « có hàng trăm hộ nuôi rắn, hàng chục nhà hàng đặc sản rắn và có nhiều hoạt động văn hoá nghệ thuật về rắn được tổ chức rầm rộ hàng năm. Lệ Mật được đánh giá là trung tâm giao dịch về rắn của toàn miền Bắc, đồng thời là làng rắn nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới » (15). Lại thêm một thành tích nổi… da gà!

Rắn được giới ẩm thực khen là loài có tâm, huyết. Bổ thận, cường dương. Bảy món khề khà. Ngộ độc, chết có người chôn, lo gì !
Nguyễn Dư
(Lyon, Tết Con Rắn 2013)

1- Vũ Phương Đề, Công dư tiệp ký, bản dịch của Đoàn Thăng, Văn Học, 2001, tr. 275.
2- Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án, Tang thương ngẫu lục, bản dịch của Đạm Nguyên, 1962, Đại Nam tái bản, tr. 112-128.
3- A. Landes, Contes et Légendes annamites, Imprimerie Coloniale, 1886, tr. 63.
4- Edmond Nordemann, Quảng tập viêm văn (1898), Nguyễn Bá Mão biên dịch và chú thích bổ sung, Hội Nhà Văn, 2006, tr. 26-28.
5- Gustave Dumoutier, Essais sur les Tonkinois, IDEO, 1908, tr. 300-304.
6- Lê Quý Đôn, Phủ biên tạp lục, bản dịch của nhóm Đỗ Mộng Khương, Đào Duy Anh
hiệu đính, Khoa Học Xã Hội, 1977, tr. 79.
7- Phan Kế Bính, Nam Hải dị nhân liệt truyện (1912), Mặc Lâm tái bản, 1969, tr.33-39.
8- Nguyễn Đổng Chi, Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam, tập 4, Khoa Học Xã Hội, 1975,
tr. 451-461.
9- Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển thượng, Nam Chi tùng thư, 1965, Xuân Thu
tái bản, tr. 211.
10- Toan Ánh, Tín ngưỡng Việt Nam, quyển hạ, tr. 260 -261.
11- Bùi Xuân Mỹ, Tục thờ cúng của người Việt, Văn Hoá Thông Tin, 2001, tr. 181.
12- Nguyên Tử Năng, Thần thoại Việt Nam, 1966, Zieleks tái bản 1980, tr. 96-104.
13- Nguyễn Văn Ngọc, Trần Lê Nhân, Cổ học tinh hoa, quyển 2, Thọ Xuân, 1962,
tr. 133-135.
14- Đinh Gia Khánh chủ biên, Điển cố văn học, Khoa Học Xã Hội, 1977, tr. 193.
15- Quốc Văn, Làng nghề Hà Nội, Thanh Niên, 2010, tr. 127.

 GS Nguyễn Dư

—————————————————————–

XỬ LÝ KHI RẮN CẮN

VnMedia) – Theo y học cổ truyền, rắn được biết đến như một loài dược liệu quý, rắn còn được coi là một món ăn có hàm lượng dinh dưỡng cao. Tuy nhiên, rắn độc cắn là một tình trạng bệnh lý nguy hiểm tới tính mạng.

Theo BS. Lê Quang Thuận và TS. Phạm Duệ, Trung tâm Chống độc, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, hàng năm tại Trung tâm số lượng bệnh nhân tới khám và điều trị vì nguyên nhân rắn cắn ngày càng đông, có ngày tới hàng chục bệnh nhân.

Biểu hiện của rắn cắn rất đa dạng, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, tuy vậy yếu tố quan trọng nhất là do rắn độc hay rắn thường (rắn lành – không độc), triệu chứng có thể nhẹ như sưng nề, ngứa chỗ bị cắn tới đau, buốt, sưng nề, hoại tử, nặng hơn có biểu hiện liệt cơ toàn thân, sốc nhiễm độc nhiễm trùng, thậm chí tử vong nếu không được chẩn đoán và xử trí đúng cách.

Ước tính tại Việt Nam có khoảng 53 loài thuộc 2 họ chủ yếu là họ rắn hổ (có tên khoa học là Elapidae) và họ rắn lục (Viperidae). Họ rắn hổ thường gặp là cạp nia (khúc đen khúc trắng – Bungarus candidus và Bungarus multicinctus), cạp nong (khúc đen khúc vàng – Bungarus fasciatus), cạp nong đầu đỏ (Bungarus flaviceps), hổ mang bành (còn gọi là hổ đất, hổ phì – Naja kaouthia, Naja Atra), hổ mang chúa (Ophiophagus hannah)…

Họ rắn lục thường gặp là rắn lục tre (Cryptelytrops albolabris, tên gọi cũ Trimeresurus albolaris), rắn lục xanh (Viridovipera stejnegeri, tên gọi cũ Trimeresurus stejnegeri), rắn khô mộc (Protobothrops mucrosquamatus, tên gọi cũ Trimeresurus mucrosquamatus), rắn chàm quạp (Colloselasma rhodostoma)… Tùy từng họ rắn mà dạng nọc độc có chứa các thành phần khác nhau, khi cắn cũng gây các triệu chứng khác nhau.

Ảnh minh họa

Ảnh minh họa


Nọc rắn độc cực kỳ nguy hiểm

Theo BS. Lê Quang Thuận và TS. Phạm Duệ, cần phân biệt được khi bị rắn cắn là rắn thường (không có nọc độc, không gây chết người) hay rắn độc (có nọc độc nếu không được cứu chữa kịp thời sẽ dẫn đến tử vong hoặc tàn tật). Nhận biết ra loại rắn góp phần quan trọng để đưa ra hướng chẩn đoán và xử trí đúng đắn. Trên thực tế có thể nhận biết rắn thông qua xác định trực tiếp các đặc điểm hình thái học của con rắn và biểu hiện triệu chứng của người bệnh.

Hai đặc điểm dễ phân biệt nhất giữa rắn thường và rắn độc là răng rắn và đồng tử. Đồng tử rắn độc có hình elip trong khi đó đồng tử của rắn không độc thường có hình tròn. Rắn độc thường có 2 móc độc ở hàm trên và 2 răng ở hàm dưới còn các răng khác đều thoái hóa biến mất. Móc độc vốn là răng biệt hóa thành dụng cụ dẫn nọc độc từ tuyến nọc tới cơ thể nạn nhân khi rắn tấn công. Còn rắn lành có cả 2 hàm răng, đều nhau, không có móc độc.

Dựa vào đặc điểm răng rắn có thể phân biệt được người bị rắn thường và rắn độc cắn căn cứ vào vết răng để lại trên cơ thể nạn nhân. Vết răng của rắn độc điển hình thường có dạng 2 vết kim châm cách nhau khoảng 0,4-0,6 cm  hoặc 2 vết xước da mảnh song hành. Vết răng của rắn lành có dạng hai hàm răng thành 2 hình vòng cung là nhiều vết răng đối xứng nhau. Vết răng của rắn thường cắn thô hơn (to rõ hơn là vết móc độc do rắn hổ cắn).

Nọc rắn độc được coi là có chức năng bất động, tiêu hóa và đe dọa kẻ thù. Có những đặc điểm này là do trong thành phần của nọc rắn độc chứa phức hợp của protein, lipid, sắc tố…, trong đó các chất có hoạt tính tác động thần kinh (làm liệt cơ, bất động con mồi), tiêu cơ (tiêu hủy con mồi), hoạt hóa các yếu tố đông cầm máu (gây rối loạn đông cầm máu), rối loạn nhịp tim…

Những triệu chứng bệnh khi bị rắn cắn

Cũng theo BS. Lê Quang Thuận và TS. Phạm Duệ cho biết, khi bị rắn cắn, tác động của nọc rắn gây nên hai nhóm triệu chứng chính là nhóm triệu chứng tại chỗ và và nhóm triệu chứng toàn thân. Tại chỗ cắn hay gặp nhất là sưng, nề và hoại tử, mức độ phát tác các triệu chứng phụ thuộc vào số lượng nọc. Nếu nọc nhiều, tốc độ sưng nề từ chi bị cắn lan xa nhanh chóng, gây đau buốt, thậm chí chèn ép vào mạch máu, thần kinh gây hội chứng chèn ép khoang, nếu không được điều trị kịp thời dẫn tới tình trạng sốc nhiễm độc, nhiễm trùng.

Rắn hổ mang bành và hổ mang chúa thường hay gây ra nhóm triệu chứng này nhất, tuy vậy điểm khác nhau cơ bản là vết cắn do rắn hổ chúa không có biểu hiện hoại tử tổ chức. Rắn lục cắn cũng gây sưng nề, nhưng ít khi hoại tử, mức độ đau thường không nhiều bằng nhóm rắn hổ mang cắn, tuy nhiên thường gây chảy máu nhiều tại vết cắn, chảy máu thường không tự cầm, kèm theo có thể chảy máu tại các vị trí khác của cơ thể như: chảy máu dưới da, niêm mạc; đái máu; đi ngoài, nôn ra máu; thậm chí có thể xuất huyết não…

Điều cần lưu ý là có loài rắn hầu như không có triệu chứng tại chỗ, nhưng triệu chứng toàn thân rất nặng nề, điển hình là nạn nhân rắn cạp nong, cạp nia cắn, tại vết cắn hay gặp nhất là hai vết móc độc như vết kim châm, khó tìm, nếu không để ý có thể bỏ sót triệu chứng tại chỗ.

Triệu chứng toàn thân hay gặp là liệt cơ, mức độ liệt phụ thuộc vào loại rắn, số lượng nọc, điều kiện và khả năng phát tán nọc rắn. Gây ra triệu chứng liệt thường do rắn cạp nia, cạp nong, hổ chúa và hổ mang bành (loài Naja Kouthia) cắn. Rắn hổ mang chúa gây liệt rất nhanh nhưng hồi phục sớm sau một vài ngày. Rắn cạp nia, cạp nong cắn gây ra liệt cơ toàn thân, ban đầu thường rõ nhất là liệt hầu họng, các cơ mắt biểu hiện bằng đau họng, khó nuốt, khó há miệng, sụp mi mắt, giãn đồng tử, nặng dần dẫn tới liệt chi, liệt cơ hô hấp khiến bệnh nhân không thở được, nếu không được cấp cứu bệnh nhân sẽ tử vong nhanh chóng vì suy hô hấp do liệt cơ.

Một số triệu chứng toàn thân khác do rắn độc cắn cũng hay gặp như rối loạn nhịp tim, rối loạn điện giải, xuất huyết… Điều cần lưu ý là khi bị rắn cắn bệnh nhân có thể tử vong nhanh chóng vì một số nguyên nhân như sốc phản vệ với nọc rắn, suy hô hấp cấp do liệt cơ, loạn nhịp tim.

Xử trí khi bị rắn cắn

BS. Lê Quang Thuận và TS. Phạm Duệ đưa ra lời khuyên với nạn nhân bị rắn cắn là:

Cần làm mọi biện pháp nhưng tránh làm những điều có hại thêm cho bệnh nhân, trước mắt cần ổn định tình trạng bệnh nhân, không làm nạn nhân hoảng loạn.

Thực hiện các biện pháp an toàn phù hợp để tăng thải, đồng thời hạn chế hấp thu nọc độc như có thể chích, rạch, nặn máu (làm với nhóm rắn hổ), băng ép chi bị cắn. Chú ý không chích rạch vết thương do nhóm rắn lục cắn, đồng thời liên hệ chuyển bệnh nhân đến ngay cơ sở y tế có khả năng cấp cứu, hồi sức và dùng huyết thanh kháng nọc rắn đặc hiệu hoặc Trung tâm Chống độc để được chẩn đoán và xử trí kịp thời.

Không nên mất nhiều thời gian và sức lực để tìm thầy lang thuốc lá vì sẽ làm chậm trễ quá trình đến bệnh viện và có thể làm mất đi cơ hội được cứu sống.

 

Thuỳ Minh

Bài này đã được đăng trong Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s