LUẬN…ANH HÙNG THỜI NAY

Việt nam ta có lịch sử 4000 năm dựng nước và giữ nước,thời nào cũng có những con người tiêu biểu cho sự nghiệp chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và xây dựng đất nước.Từ khi có Đảng lãnh đạo,những con người  đó được nhà nước phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng LLVTND”hoặc “Anh hùng LĐ”.Tuy nhiên phía sau ánh hào quang đó vẫn còn nhiều khoảng tối .

1.Người con ưu tú của đất Phò Ninh (CAND.COM)

Anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn: Người con ưu tú của đất Phò Ninh
9:55, 31/01/2013


Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Hồ Xuân Mãn.

Đêm 9/9/1966, có một chàng trai chưa tròn 16 tuổi, từ biệt cha mẹ, ông nội  và làng Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên để cùng những người bạn đồng liêu là các anh Hoàng Xê, Hồ A… tìm đường lên chiến khu tham gia kháng chiến, gia nhập vào Đại đội An ninh vũ trang đầu tiên của tỉnh Thừa Thiên. Trong những năm tháng chiến tranh tàn khốc trên mặt trận Thừa Thiên, anh đã cùng với những đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh “xuất quỷ nhập thần” làm cho quân lực Hoa Kỳ và binh sĩ quân đội Sài Gòn nhiều phen kinh hồn, bạt vía… Kẻ thù từng xem anh là “tên an ninh Việt Cộng đặc biệt nguy hiểm” và đã nhiều lần đưa ảnh chân dung của anh lên mục cáo thị để treo giá trọng thưởng bằng tiền cho bất cứ ai bắt sống hoặc tiêu diệt được anh (Theo hồ sơ của Cảnh sát đặc biệt chế độ Sài Gòn để lại – NV). Chàng trai lớn lên từ đất làng Phò Ninh ấy tên là Hồ Xuân Mãn – một người đã đi qua chiến tranh với 33 lần được phong dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”.Sau này, trong công cuộc dựng xây quê hương, đất nước, ông là Ủy viên Trung ương Đảng, 2 nhiệm kỳ liên tiếp giữ cương vị Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế và vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Một ngày cuối năm se lạnh ở làng Phò Ninh, trên bậc thềm của ngôi nhà hương hỏa của gia đình, tôi có dịp ngồi đối diện cùng ông để được nghe ông kể thật nhiều những câu chuyện của tuổi thơ nghèo khó, những năm tháng tham gia kháng chiến vào sinh ra tử rồi thời kỳ hậu chiến vất vả, kiến thiết xây dựng quê hương và cả những được mất, buồn vui của một đời người…

Ông kể rằng, khi mình lớn lên, biết suy nghĩ mới thấy những người thân của mình, bà con làng xóm của mình đã bao năm phải chịu đựng dưới nhiều tầng áp bức của chế độ đương thời. Được giác ngộ bởi chính những người thân trong gia đình đã tham gia cách mạng trước đó, cùng với bầu máu nóng của lớp người trẻ tuổi, vậy là ông cùng với những người bạn đồng liêu trong làng quyết định ra đi. Ông kể, ngày đó quyết tâm lên rừng theo cách mạng nhưng chưa thấu tỏ cách mạng là gì hết.

Đêm hôm ấy ra đi cùng với Hoàng Xê, Hồ A và một người bạn nữa tên là Hoàng Nãi, nhà ở cạnh nhà ông. Nhưng khi đến giờ hẹn để lên đường thì anh Nãi bảo rằng đi bộ đội chủ lực xa nhà quá, thôi thì để anh ở lại đi du kích địa phương, vậy là chỉ còn lại ba anh em lặng lẽ tìm đường đến điểm hẹn có người đưa lên chiến khu trong đêm tối. Hành trang lên hậu cứ cách mạng của Hồ Xuân Mãn ngày ấy chỉ có một chiếc võng, một chiếc dù của ông nội tặng, mẹ ông mua cho đôi dép mới, hai bánh đường đen với hai lon đậu huyết (đậu đỏ – NV) của gia đình trồng được.

Đúng giờ hẹn, giao liên có mặt để đưa ba anh em lên đường. Từ Phong An đi lên hướng xã Phong Sơn, vượt dốc Ba Trục ở chỗ khu du lịch nước khoáng Thanh Tân bây giờ, rồi luồn rừng đi mất một đêm hôm đó với gần một ngày hôm sau mới đến chiến khu. Đến nơi, ba anh em nhìn nhau rơm rớm nước mắt vì trước lúc đi ai cũng nghĩ rằng ở vùng Cách mạng cũng có nhà, có xe, có mọi thứ chứ cả ba người không ai hình dung được cách mạng lúc ấy chỉ là vài cái lán nhỏ bằng tranh tre nứa lá được dựng chênh vênh bên cạnh bờ suối ở trong rừng già, xung quanh chỉ toàn là những thứ âm thanh lạ kỳ của chim kêu, vượn hú…

Chiều hôm ấy, cả ba người được các chú, các bác trong hậu cứ nấu cơm cho ăn, ăn cơm xong thì cả ba người ngồi ôm nhau khóc vì nhớ nhà. Thỉnh thoảng nghe từ phía bờ suối vọng lên tiếng kêu quép… quép… của mấy con ếch ương, hỏi mấy ông cán bộ con gì kêu, mấy ông cán bộ bảo đó là tiếng kêu của cọp. Nghe đến đó là cả ba người hoang mang đến tột độ. Ngày hôm sau, cấp dưỡng nấu cơm nhưng cả ba đều ủ ê nằm khóc, không một ai dậy ăn cơm mà nằm bàn với nhau “thôi thì trốn về quê đi du kích, chứ ở giữa rừng già này thì biết làm sao…”.

Bước qua ngày thứ ba ở rừng thì anh Vân (người quê gốc ở Hải Phòng do Bộ tư lệnh Công an vũ trang chi viện vào làm Đại đội trưởng, anh Minh Chính trị viên; anh Lợi người ở huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên là Đại đội phó) gọi ba người dậy để động viên, anh Vân nói: “Nếu mấy chú muốn về thì các anh cho về, nhưng bây giờ không có giao liên nên các chú phải tự đi, cái khó là bây giờ mấy chú đi ra là cọp nó chụp liền, chết mà không toàn thây vì bị cọp ăn thì cũng khổ…”. Nghe xong, cả ba nhìn nhau rồi bằng lòng ở lại. Ở hậu cứ được chừng một tuần lễ thì cả ba anh em bắt đầu bị sốt, nằm liệt gần một tháng trời, đứa nào cũng xanh xương, vàng da, trên đầu rụng không còn lấy một sợi tóc.

Ông Mãn nhớ lại, nằm trong lán vật vã phải hơn một tháng sau mới khỏe, khi thấy đã quen với đời sống núi rừng thì các đồng chí lãnh đạo mới cho đi huấn luyện. Lúc đó, mỗi đứa được phát một cây súng K44 (loại súng bỏ từng viên đạn rất to rồi lắc để bắn), ôm cây súng trên tay mà nước mắt chảy dài vì cây súng ấy dựng lên đã cao hơn mình một đoạn. Những ngày ấy ở chiến khu, anh em trẻ như ông chủ yếu là được đơn vị cho đi bảo vệ mục tiêu lúc đó là cơ quan tỉnh ủy, rồi đi tuần xung quanh khu vực đóng quân.

Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan trao tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND cho ông Hồ Xuân Mãn.

Nhấp một ngụm trà đang tỏa hương ngào ngạt, ông Mãn kể tiếp: Cho đến bây giờ ông vẫn không thể nào quên được cái buổi chiều đầu tiên trong cuộc đời mình nhìn thấy máu chảy. Đó là một buổi chiều đầu năm 1966, sau khi Tiểu đội bảo vệ của ông được giao nhiệm vụ đi bảo vệ Đại hội thi đua của tỉnh trở về, trên đường về thì gặp trời mưa, với lại anh em tranh thủ dọc đường hái măng giang để mang về cải thiện đời sống nên áo quần người nào cũng bẩn. Vừa về đến lán trại của đơn vị, để súng đạn và số măng giang hái được ngổn ngang trên sàn là anh em lao ngay xuống suối tắm.

Tắm xong thì anh Thành quê ở xã Quảng Điền (nay còn sống ở Quảng Điền – NV) lên trước ngồi lau súng, tiếp đó anh em theo lên nhưng còn lại một người là anh Huề quê ở xã Phong Sơn là Tiểu đội trưởng mà không ai hay biết. Vừa ngồi lau súng, anh Thành vừa hỏi “còn đứa nào dưới suối không? Cũng chẳng thấy ai trả lời nên anh Thành thử siết cò thì bỗng dưng súng nổ. Từ dưới suối, anh Huề la toáng lên: “Chết rồi tụi bây ơi…tao gãy chân rồi…”.

Hoảng hốt, tất cả anh em đều chạy ào xuống suối và thấy anh Huề đang quằn quại với cái chân đầy máu. Hôm đó, sau khi anh em lo băng bó, chữa thương cho anh Huề xong thì phải lo giải quyết những bức xúc của mấy anh em là người dân tộc thiểu số trong cùng tiểu đội. Cù Mi, Cù Đức và Cù Toản vì quá thương tiểu đội trưởng Huề mà cho rằng anh Thành là người theo địch và vì theo địch nên mới vác súng bắn Tiểu đội trưởng Huề.

Để trả thù cho Tiểu đội trưởng Huề, Cù Mi đã đi tìm anh Thành để trả thù. Đêm đó, mọi người phải đem anh Thành đi giấu ở một nơi bí mật và rạng sáng hôm sau thì đến gõ cửa cơ quan tỉnh ủy để báo cáo sự việc và xin chuyển công tác cho anh Thành về đó làm giao liên.

Suốt cả năm 1966, ông cùng đơn vị hoạt động ở vùng rừng núi ở Khe Trái, phải đến đầu năm 1967 thì mới được cấp trên cho phép về hoạt động ở vùng đồng bằng. Nhiệm vụ lúc ấy của an ninh vũ trang là xuống các xã của huyện Phong Điền, Hương Trà để phối hợp với các lực lượng “diệt ác, phá kìm”, mở rộng vùng giải phóng, nới rộng dần phạm vi hoạt động. Cũng năm này, lần đầu tiên mới chính thức đụng độ với lính bộ binh của Mỹ. Ông Mãn kể, hôm ấy trung đội của ông nhận nhiệm vụ chống càn với một đại đội lính biệt kích Mỹ tập kích vào hậu cứ.

Theo phân công, cứ hai đồng chí của ta chịu trách nhiệm tiêu diệt một lính Mỹ, kế hoạch là bí mật phải đợi đến khi mục tiêu cách điểm phục kích 50 mét mới được siết cò súng. Lần đầu tiên đánh Mỹ, không riêng gì ông Mãn mà hầu hết anh em trong trung đội với vũ khí khá lạc hậu chủ yếu là súng bán tự động, súng K50, K43 Tuyn cải tiến từ chiến tranh chống Pháp còn lại, đều thấy hoang mang khi nhìn thấy đại đội lính Mỹ to lớn, kềnh càng súng đạn dàn hàng ngang tiến vào đội hình.

Y lệnh trên, khi thấy mục tiêu đã vào địa điểm cho phép là anh em đồng loạt bóp cò, sau đó rút nhanh để đề phòng phi pháo và bảo toàn lực lượng. Tổng kết trận đó, trung đội ông đã tiêu diệt 14 lính Mỹ. Anh em rất phấn khởi vì tin tưởng một cách chắc chắn rằng là mình đánh được Mỹ (trước thời điểm ông Mãn đánh Mỹ thì ở chiến trường Quảng Nam và các đơn vị du kích cũng như chủ lực của ta ở chiến trường Thừa Thiên cũng đã đánh Mỹ – NV). Từ đó, cứ theo năm tháng đánh địch, Đại đội An ninh vũ trang đa số anh em đều rất có kinh nghiệm và dạn dày trận mạc.

Cuối năm 1967, để chuẩn bị cho chiến dịch Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968, đơn vị chỉ để lại một đại đội làm nhiệm vụ bảo vệ mục tiêu ở hậu cứ, số còn lại được tăng cường để nâng cấp thành Tiểu đoàn Trinh sát vũ trang do ông Hải làm Tiểu đoàn trưởng (tiểu đoàn này sau được phong Anh hùng lực lượng vũ trang, hiện có các ông Lê Việt Hà, Bạch Hiền, Phê “điếc”, Điệp “đui”, Bạn… hiện đang sống tại Huế). Tiểu đoàn trinh sát này được trang bị hỏa lực rất mạnh (cứ 3 người có một khẩu B40, 2 khẩu AK báng gấp) để đánh luồn sâu vào nội thành và chuẩn bị cho cuộc tiến công.

Lúc bấy giờ, Đại đội An ninh vũ trang được bố trí một trung đội ở lại bảo vệ hậu cứ, một trung đội phối hợp với lực lượng An ninh Hương Trà bảo vệ trại giam, tiếp nhận tù binh và tài liệu, một trung đội phối hợp với các lực lượng chiến đấu vào thành phố Huế. Trung đội này chia thành 2 nhóm, một nhóm đi cùng với bộ đội chủ lực và trinh sát vũ trang để tiếp quản, vận chuyển tài liệu và dẫn giải tù binh, đặc biệt là loại tình báo, gián điệp. (Các đồng chí làm công tác dẫn giải tù binh đa số là anh em người đồng bào dân tộc như: đồng chí Cu Mi, Cu Đích, Cu Pả…).

Nhóm của ông Mãn đi theo Trung đoàn 9, Sư đoàn 304 do đồng chí Khảm làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Lê Khả Phiêu (sau này là Tổng bí thư BCH Trung ương Đảng) làm Chính ủy. Vừa làm nhiệm vụ chiến đấu, trinh sát, dẫn đường, vận động nhân dân tiếp tế lương thực. Ông Mãn bảo rằng, chiến dịch Mậu Thân năm 1968 với đồng chí Lê Khả Phiêu có thật nhiều kỷ niệm đáng nhớ. Tỷ dụ như chuyện anh em tìm được đồng chí Quốc Bảo bị thương nặng nằm sót lại ở Cửa Đông Ba (nay anh Bảo còn sống và làm kinh doanh).

Nhớ nhất là chuyện, sau khi cả tổ dẫn  Trung đoàn 9, kể cả thương binh ra vùng giải phóng, vừa đi vừa đánh nhau với Sư đoàn Kị binh Không vận số 1 của địch. Lên đến vùng A Lưới, súng mỗi khẩu chỉ còn một ít đạn, 1 đồng chí lại vác từ 2 đến 3 khẩu (vì còn phải cáng thương binh), bộ đội không đi nổi vì thiếu lương thực, xin đồng bào dân tộc cũng không có nhiều.

Đồng bào và du kích địa phương nói rằng: Bộ đội cần sắn để ăn, mình cần súng để đánh Mỹ, hay là bộ đội đổi cho mình? Lúc bấy giờ, đồng chí Lê Khả Phiêu đồng ý, cứ mỗi khẩu CKC là 3 gùi sắn, nhờ thế bộ đội có cái ăn để hành quân đến vùng giáp với biên giới Việt – Lào. Sau này, mỗi lần gặp lại đồng chí Lê Khả Phiêu, đồng chí ấy bảo rằng “vụ lấy súng đổi sắn hồi Mậu Thân suýt nữa thì bị Quân khu kỷ luật, nhưng sau khi nghe mình phân tích có lý, có tình nên Quân khu lại hoan nghênh…”. 

 

Từ A Lưới, tổ của ông Mãn quay trở lại Hương Trà để cùng với Đại đội An ninh vũ trang đánh địch, mở đường cho Tỉnh ủy chuyển từ Khe Trái, Hương Trà về khu vực Khê Đầy, Hương Thủy để trú ẩn. Thời kỳ này, ở Khe Trái máy bay B52 của địch oanh kích một ngày không biết bao nhiêu lần, đạn từ máy bay rót xuống dày đặc, rừng núi trơ trụi, hố bom chồng lên hố bom. Chỉ có các cơ quan đầu não như Thành ủy, Tỉnh ủy, Ty Công an là di chuyển an toàn, còn lại những đơn vị chưa di chuyển được, nhất là kho tàng thì bị thiệt hại rất nặng nề sau nhiều ngày rải thảm của địch. Năm 1969, ông Mãn được đơn vị bầu là Chiến sĩ thi đua và giữa năm 1969, được Ban An ninh khu cử đi học lớp nghiệp vụ 3 tháng ở Quảng Bình. Đầu năm 1970, ông Mãn được ông Lê Sáu – Ủy viên thường vụ Tỉnh ủy – Bí thư Huyện ủy xin về địa bàn Phong Điền làm thư ký và bảo vệ.Khi trở lại vùng đất Phong Điền – Quảng Điền thì cán bộ cơ sở không còn nhiều nữa vì bị phản kích. Lúc bấy giờ, lãnh đạo quyết định trưng dụng quân của Đại đội 1, Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 6 do ông Vũ Thắng (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng – Bí thư tỉnh ủy Bình Trị Thiên – NV) làm Chính ủy về tăng cường cho các địa phương để bổ sung vào lực lượng du kích. Có những người đang là đại đội trưởng, đại đội phó một đơn vị chủ lực, tăng cường làm xã đội trưởng. Như trường hợp của đồng chí Tăng Văn Phả, đại đội trưởng được tăng cường làm xã đội trưởng xã Phong Sơn (sau này đồng chí Phả là Bí thư tỉnh ủy Hà Nam – NV) .Là người dân địa phương, ông Mãn thấy rằng nếu thực hiện chính sách đưa quân chủ lực về tăng cường địa phương sẽ vô cùng nguy hiểm, hơn nữa phương án này anh em sẽ hy sinh nhiều. Thứ nhất vì quân chủ lực về ở địa phương không ai rành đường sá; thứ hai anh em không rành các phương án xây dựng cơ sở bí mật tại địa phương. Vì lẽ đó, ông Mãn đã xin ý kiến lãnh đạo để được chuyển hướng hoạt động, tức là không nằm vùng ở dọc tuyến phía ngoài (đồi rú, bờ ruộng, ao bàu) mà chuyển hẳn vào nằm vùng bí mật trong dân. Tổ chức xây dựng nên một vùng căn cứ lỏm ở ngay trong địa bàn các thôn xóm. Ở đó, ông đã cùng với các đồng chí của mình bám trụ, xây dựng các đơn vị du kích, chi bộ mật. Thời điểm này, cả Phong An, Phong Điền có gần 2 trung đội du kích mật và 3 chi bộ, chi đoàn mật.Năm 1971, ông đã cùng với lực lượng du kích ở xã Phong An luồn sâu vào vùng địch hậu, tấn công tiêu diệt nhiều lực lượng phòng vệ dân sự của địch. Đưa hơn 40 thanh niên lên hậu cứ bổ sung thêm lực lượng. Có lực lượng trong tay, ông cùng những đồng chí của mình tổ chức những trận đánh nhỏ lẻ để dằn mặt địch, hồi ấy chủ yếu là đánh bằng bom mìn, mục tiêu là bọn nghĩa quân, địa phương quân, dân vệ…Có lần, ông cùng với hai người đồng chí tên Minh (sau này ông Minh làm Phó giám đốc Sở Nội vụ của tỉnh Thừa Thiên Huế – NV) và Hùng (nay sinh sống ở Vĩnh Hưởng – NV) đánh một trận chí mạng làm lực lượng địch ở địa bàn Phong An hoảng loạn.Ông nhớ lại, hồi đó, ở vị trí cổng vào làng Phò Ninh quê ông, địch thành lập nên một cái chốt và bố trí ở đó một trung đội để canh chừng. Sau một thời gian điều nghiên quy luật hoạt động của địch, ông quyết định đánh. Hôm ấy là ngày 14 âm lịch nên trăng rất sáng. Tổ công tác của ông bí mật tiếp cận vị trí chiến đấu để đặt 1 quả mìn Claymo nằm chờ.Khoảng 20 giờ 15 phút, cả trung đội địch bước ra đi tuần tra, ông Mãn lấy chân đá vào chân đồng chí Minh ra lệnh khai hỏa. Quả Claymo trước điểm phục kích địch vang lên một tiếng nổ chát chúa, tiếp đó ông Mãn rút chốt trái lựu đạn ném về phía địch, rồi nhanh chóng rút quân một cách an toàn. Trận đó, toàn trung đội địch có 28 tên thì chỉ còn 1 tên sống sót do lúc anh Minh điểm hỏa tên này đang ghé vào một ngôi nhà bên đường để uống nước.

Ông Hồ Xuân Mãn (người đội mũ thứ hai – từ phải sang) ở chiến khu Khe Trái.

Một lần khác, ông phát hiện thấy một trung đội địa phương quân của địch hàng ngày đóng chốt ở trên Động Hóc gần làng Phò Ninh. Qua theo dõi, ông đã nắm được hành trình tuần tra của chúng, sau mỗi lần đi tuần về thường là chúng bắt gà, bắt vịt của người dân trong làng mang lên Động Hóc để nướng ăn. Hồi đó là tháng 11 nên thời tiết rất lạnh, địch thường tận dụng việc nướng gà, vịt để cùng nhau ngồi sưởi ấm. Vậy là ông cùng với một đồng chí tên Công đi kiếm 1 quả pháo 155 ly, đục phần đầu để cài kíp mìn vào trong đó.Lợi dụng thời điểm địch đi tuần tra, ông cùng với người đồng chí của mình đột nhập lên Động Hóc, bí mật đào lỗ ngay dưới đống tro mà địch hay đốt lửa để cài quả đạn, rồi ra ngoài trèo lên một ngọn cây để quan sát. Sau khi địch đi tuần tra về, đúng như nhận định của ông, chúng gom củi để đốt lửa sưởi ấm. Khi cả trung đội lính ngụy đang xúm lại bên đống lửa thì một tiếng nổ vang lên, khói và đất đá tung lên mù mịt. Lần ấy, cả trung đội 29 tên cũng chỉ còn 1 tên sống sót vì đang đi lấy củi từ xa.Ông Mãn kể rằng, thời buổi đó anh em hầu như tuần nào cũng đánh vài trận, tuy rằng chỉ đánh nhỏ lẻ nhưng hiệu quả rất cao. Có những lần ông còn phối hợp cùng xã đội với 3 đồng chí đột nhập ban ngày vào khu tập trung để tiêu diệt những tên ác ôn khét tiếng làm cho bọn chúng hết sức hoang mang, lo sợ. Ngoài chuyện đánh để tiêu diệt sinh lực địch, ông Mãn còn cùng với anh em trong lực lượng của mình tổ chức tháo gỡ các loại mìn do địch gài dày đặc, nhất là loại mìn địch gài bằng điện gọi là mìn Căng – Chùng – Nổ, để phục kích cán bộ của ta vào ấp ban đêm. Hồi ấy, ông gỡ mìn thiện nghệ đến mức anh em trong đơn vị mệnh danh là “ông vua gỡ mìn”.Năm 1973, sau gần một tháng rời địa bàn để ra vùng Cồn Tiên – Quảng Trị dự Đại hội Chiến sĩ thi đua 18 về tổng kết công tác chống Mỹ. Khi trở về đến địa bàn huyện A Lưới, ông nhận được hung tin là hầu hết các cán bộ chủ chốt ở địa bàn đã hy sinh trong những trận phục kích của địch. Trong số đó có chị Hạnh – Huyện ủy viên, Bí thư xã Phong An; anh Đời – Bí thư xã Phong Sơn; anh Thuận – Xã đội trưởng Phong An; anh Đàm, anh Anh – du kích và nhiều đồng chí khác…Về đến A Lưới hôm trước, thì hôm sau được ông Lê Tư Sơn – Bí thư huyện ủy, ông Luyện – Huyện đội trưởng, ông Phạm Văn Danh – Trưởng Công an huyện gọi ông đến để thông báo tình hình và đề nghị ông tìm mọi cách phải về xã Phong An để kết nối lại liên lạc chứ không thể để trống địa bàn sẽ ảnh hưởng rất lớn đến phong trào. Ông Lê Tư Sơn vỗ vai ông nói: “Tình hình như vậy đó, bây giờ cháu có yêu cầu gì cháu cứ đề xuất từ chuyện con người đến vấn đề vũ khí…”.Sau khi thống nhất kế hoạch, ông xin 5 kg lương khô, 4 hộp đạn AK và chọn đồng chí Hùng vì anh này rất rành đường sá mà lại khá gan dạ. Ông Luyện đưa Trung đội trinh sát của anh Quyết, anh Thiều thuộc Huyện đội bố trí yểm trợ cho ông vượt tuyến. Sau khi vượt tuyến, ông được anh Châu giao liên dẫn đường để trở lại địa bàn. Khi chia tay ở địa bàn thôn Vĩnh Hưởng thì anh Châu không chịu quay về mà cứ nắm tay ông đứng khóc vì biết được rằng khả năng sống sót sau chuyến trở về này của ông là quá đỗi mong manh. Ông an ủi Châu rằng: “Đừng khóc, vì mày cứ khóc thế này tao đi không được, thôi thì Châu về, nếu đêm nào Châu không nghe mìn nổ vậy là tao còn sống…”.

Ông Hồ Xuân Mãn tặng học bổng cho học sinh nghèo.

Chia tay với anh Châu, ông cùng đồng chí Hùng lần mò về Phò Ninh và quyết định náu mình dưới một bàu nước rất lớn để che mắt địch. Hồi ấy là tháng 5 nên trời rất nóng, cứ 5 giờ sáng hai anh em lội xuống bàu để lấy cỏ lác, cỏ lùm trùm lên người để ẩn nấp là bắt đầu bị đỉa tấn công. Ông kể, từ tai trở xuống đến chân chỗ nào cũng có đỉa bám. Chịu đựng vấn nạn đỉa đã khổ, nhưng cứ tầm 9 giờ trở về chiều khi trời nắng to, nước dưới bàu cũng nóng mới là cực hình. Phải đến sau 6 giờ chiều hai anh em mới mò lên khỏi mặt nước, lúc đó cơ thể của ai cũng tấy đỏ như màu sơn của những chiếc máy cày MTZ.Thoát khỏi vị trí ẩn nấp bên bàu nước, ông quyết định tìm về trên cánh đồng mà theo nhận định của ông kiểu gì cũng sẽ gặp các gia đình cơ sở ra đó để sản xuất. Một hôm, khi đang nằm bên bờ ruộng gần đám khoai lang thì ông phát hiện một chị cơ sở tên là Nguyệt ra hái rau. Ông gọi tên thì chị này quay lại, khi chị Nguyệt nhận ra ông thì nét mặt chị tái đi, chị hốt hoảng thông báo cho ông biết địa bàn này bây giờ ở bất cứ nơi đâu cũng có địch dò xét nên vô cùng nguy hiểm. Ông động viên chị Nguyệt là “cô hãy yên tâm, vấn đề quan trọng là làm sao Nguyệt phải liên lạc được với chị Hoa – Chi ủy và chị Bơi – Bí thư chi bộ để thông báo là anh đang ở đây, bằng mọi giá ngày mai ra đây cho anh gặp và cố gắng mai cho anh xin một ít cơm…”.Hôm sau, chị Hoa, chị Bơi cải trang thành người đi làm ruộng để mang cơm ra cho ông, mới đến nơi, vừa vứt chiếc ấm nước bên trong có cơm với muối mè là các chị nói ngay: “Không được, không thể ở đây được vì địch xung quanh đây quá nhiều, ở đây trước sau gì cũng chết…”. Thế rồi, ông chọn một lùm cây gai gần với cánh đồng sát quốc lộ 1A làm nơi ẩn náu để tìm thời cơ liên lạc gây dựng cơ sở. Qua gần một tháng ở trong lùm cây gai đó, hai người cứ lần mò bắt được liên lạc và củng cố cơ sở ở làng Phò Ninh, một số cơ sở ở làng Thượng An và một cơ sở ở làng Bồ Điền. Nhưng lúc đó, ông xuất hiện ở cơ sở nào cũng bị các đồng chí ở đó van nài, xua đuổi vì tình hình quá nguy hiểm cho ông…Một hôm khi ông cùng cơ sở của mình ở làng Bồ Điền đang làm một căn hầm bí mật thì có một giao liên mang thư mật của Huyện ủy đến bảo rằng ông phải thu xếp để trở về hậu cứ báo cáo tình hình cho ông Lê Tư Sơn – Bí thư Huyện ủy. Ông nhấn mạnh: Vào thời kỳ chiến tranh ác liệt đó, cán bộ của ta ai đã về được đồng bằng là được xem như một lần thoát chết nhưng từ đồng bằng mà trở lại hậu cứ thì còn nan giải hơn rất nhiều lần. Nguy hiểm là thế nhưng mệnh lệnh là phải thi hành.Trở về hậu cứ, ông gặp lại người đồng đội là Trần Văn Minh vừa đi học trường Đảng của tỉnh về. Từ đó, ông tập trung lực lượng, bổ sung thêm một số cán bộ có kinh nghiệm đánh địch để tạo dựng phong trào trở lại địa bàn các xã Phong An, Phong Sơn để vừa hoạt động vừa đánh địch. Những năm tháng đó, Hồ Xuân Mãn đã cùng với đồng đội của mình tổ chức nhiều trận đánh “vô tiền khoáng hậu”, đặc biệt có 2 vụ diệt 2 tên ác ôn khét tiếng mà Huyện ủy phát động nhiều năm chưa diệt được… Cứ thế, ông đã cùng đồng đội đánh địch cho đến ngày Huế được giải phóng 26/3/1975.Sau ngày thống nhất, ông nhận nhiệm vụ mới là khai thác hồ sơ hậu chiến, rồi chuyển sang làm Đại đội phó – Đại đội tháo gỡ bom mìn để đưa dân trở về làng cũ. Năm 1976, tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên sát nhập thành một đơn vị hành chính là tỉnh Bình Trị Thiên. Ông chuyển ngành và đi học Trường Nguyễn Ái Quốc, sau khi ra trường ông về làm Bí thư Huyện đoàn Phong Điền lúc ấy ông tròn 30 tuổi. Từ đó, ông lần lượt giữ các chức vụ: Chánh Văn phòng Huyện ủy, Thường vụ huyện ủy – Trưởng ban Tuyên giáo, năm 1990 tham gia Tỉnh ủy với chức vụ Bí thư Huyện ủy Phong Điền, 1993 là Thường vụ Tỉnh ủy – Trưởng ban tổ chức Tỉnh ủy, năm 1995 là Phó bí thư Tỉnh ủy, năm 2000 là Bí thư Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ cho đến ngày nghỉ hưu.Trong thời gian sau này, ông đã vinh dự được nhận thêm 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương Chuyên án An ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại đoàn kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào tặng 3 Huân chương gồm 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala hạng 2, 1 Huân chương Lao động hạng 2. Năm 2010, xét thành tích cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ông được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.Giờ đây, ông nghỉ ngơi sau nhiều thập niên đã cống hiến sức mình và kể cả một phần máu thịt cho quê hương, đất nước… ngày ngày ông vui vầy bên bè bạn, cháu con. Đôi ba bữa ông lại trở về ngôi nhà cũ ở làng Phò Ninh để hương khói cho tổ tiên, ông bà, chăm sóc cây kiểng, hàn huyên với bạn bè, đồng đội cũ. Ông bảo rằng, ở đời làm người có danh phận cũng lắm thị phi, nhưng mình phải rộng lòng hỉ xả, bởi vì với những hạng người vô tâm hèn hạ thì họ vẫn đáng thương nhiều hơn là đáng trách…

  Phan Bùi Bảo Thy

KHAI MAN ĐỂ ĐƯỢC PHONG ANH HÙNG?

(CATP) 17 cựu chiến binh, cán bộ hưu trí đã làm đơn tố cáo hành vi khai báo gian dối, bịa đặt, cướp công đồng đội trong bản thành tích cá nhân của ông Hồ Xuân Mãn, nguyên Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên – Huế, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.


Đại diện những người làm đơn khiếu nại

Về xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế là quê ông Mãn, chúng tôi gặp những người đã làm đơn khiếu nại “về thành tích của Hồ Xuân Mãn kê khai để được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ không đúng với sự thật”. Họ là 17 đảng viên, cán bộ hưu trí, cựu chiến binh và khẳng định thành tích cá nhân của ông Mãn là bịa đặt, cướp công đồng đội.

Thành tích thứ nhất, năm 1964 ông Mãn tham gia lực lượng an ninh vũ trang của tỉnh, cùng đơn vị bảo vệ an toàn Tỉnh ủy; năm 1966 cùng đơn vị tiêu diệt một tiểu đội biệt kích Mỹ (sáu tên). Thành tích thứ hai là cuối năm 1964 được phân công đưa đón trinh sát, bảo vệ an toàn cho lãnh đạo tỉnh về đồng bằng khởi nghĩa. Ông Lê Văn Uyên, nguyên Trưởng ban tổ chức huyện Phong Điền cho biết: “Điều này là sai, bởi từ năm 1964 – 1967, Mãn đang ở nhà đi học, chăn trâu thì làm gì mà đưa đón cán bộ. Năm 1967, Mãn mới thoát ly, làm du kích xã Phong An thì làm gì đã bảo vệ Tỉnh ủy, diệt giặc Mỹ”.

Thành tích thứ ba là năm 1968 được chuyển qua Tiểu đoàn trinh sát vũ trang làm nhiệm vụ giải phóng Huế và chiến đấu 26 ngày đêm; đêm 30 Tết cùng đơn vị nổ súng tiêu diệt toàn bộ dinh Tỉnh trưởng, Ty Cảnh sát, giải phóng Lao Thừa Phủ. Ông Nguyễn Trung Chính, nguyên Phó ban an ninh Khu Trị Thiên, nguyên Bí thư huyện Quảng Điền xác nhận, những người từng lãnh đạo Tiểu đoàn trinh sát vũ trang khẳng định: ông Mãn không có mặt trong tiểu đoàn này, mà chính là Tiểu đoàn 815 với bảy chiến sĩ đánh vào dinh Tỉnh trưởng và giải phóng Lao Thừa Phủ; Tiểu đoàn đặc công thành Huế đánh vào Ty Cảnh sát.

Thành tích thứ tư và năm là tháng 6-1968 chỉ huy ba đồng chí phục kích diệt sáu tên Mỹ ở đường 12 (căn cứ Tà Lương). Tháng 5-1968 phục kích diệt chín tên Mỹ, thu một số vũ khí. Những người tố cáo cho biết, ông Mãn lúc đó đang ở xã Phong An trong khi căn cứ Tà Lương thuộc huyện A Lưới và tháng 5-1968 ở Phong An không có trận đánh nào diệt chín tên Mỹ.

Thành tích thứ bảy là năm 1969 được điều về Huyện đội, giữ chức xã đội trưởng, kiêm Trưởng công an xã Phong An. Ông Hoàng Phước Sum (trung tá), nguyên Đội trưởng An ninh huyện; ông Hoàng Tiến Dũng, nguyên Đội phó LLVT huyện, ông Hoàng Văn Phận, nguyên Trung đội trưởng công binh LLVT huyện cho biết, năm 1969, ông Thái Công Oanh làm xã đội trưởng, bị thương và ra Bắc điều trị thì ông Lê Tuyến lên thay chứ ông Mãn không làm chức này. Từ năm 1969 đến tháng 3-1971, ông Mãn ra Quảng Bình an dưỡng, học chính trị. Ông Mãn không được vào biên chế công an thì không thể làm trưởng công an xã được.

Thành tích thứ 8, 9, 10, 11 và 12 là từ năm 1969 đến ngày 26-3-1975, giữ vững hậu cứ đồng bằng và nội thành Huế, tổ chức đơn vị đánh gần 100 trận lớn nhỏ, tiêu diệt 150 tên Mỹ ngụy, phá hủy 1 máy bay, 37 xe quân sự… Ông Hoàng Văn Phận cho biết: “Từ năm 1969 đến tháng 3-1971, ông Mãn đi an dưỡng và học tại Quảng Bình (ông Hoàng Phước Sum là người đi cùng), rồi làm cần vụ cho ông Lê Sáu, nguyên Bí thư Huyện ủy. Tháng 11-1971, do xích mích, ông Mãn bỏ ông Sáu giữa rừng rồi trở về. Ông Sáu điện cho Huyện ủy nói phải kỷ luật ông Mãn. Lúc đó ông Mãn chỉ là du kích xã, chưa phải là đảng viên (năm 1974 mới được kết nạp Đảng) thì làm sao mà tổ chức đánh gần 100 trận”.

Thành tích thứ 13 là năm 1972 chỉ huy tổ ba đồng chí vào ấp Phò Ninh tiêu diệt tên ấp trưởng Hoàng Sớm cùng một ấp phó, một chiêu hồi, một địa phương quân, hai cảnh sát, làm quần chúng nức lòng. Ông Hồ Văn Nghĩa (85 tuổi), nguyên Trưởng ban an ninh huyện Phong Điền cho biết: “Trận này có ông Mãn nhưng quân ta chỉ giết được Hoàng Sớm và không có thành tích như ông Mãn đã khai”.

Ở các thành tích thứ 15, 16 và 17, ông Mãn đã tiêu diệt 12 tên biệt động ở cầu An Lỗ năm 1973; năm 1975 chỉ huy du kích và an ninh xã chiếm chốt của ngụy làm chúng co cụm lại, chuẩn bị cho quân chủ lực tiến về giải phóng… cũng đều là bịa đặt.

Theo congan

——————————————————

Đất cố đô có “vua”! (Lao động số 327 ngày 26.11.2005)
Mấy hôm nay, nơi tôi đang sống, từ lề đường đến công sở, đi đâu cũng nghe người dân, cán bộ, nhỏ to đầy hả hê chuyện ông “quan” to nhất tỉnh vừa bị một nữ tiếp viên nhà hàng “dạy” cho bài học muối mặt về ứng xử với phụ nữ ngoài xã hội.Chuyện là một bữa trưa đẹp trời, “quan” lớn cùng một số “quan” nhỏ vào ăn trưa ở một nhà hàng ở ven đô. Một nữ tiếp viên trẻ, mới đến làm việc của nhà hàng, như lệ thường, đến đon đả mở bia, tiếp đá cho các “quan”. Và (có lẽ cũng như thường lệ), “quan” lớn nhất đã không cầm lòng trước nhan sắc của cô tiếp viên chỉ đáng tuổi con mình nên đã… ghì đầu cô ta lại rồi hôn đánh chụt một cái vào má, trước sự chứng kiến của quan khách có mặt trong nhà hàng hôm đó! Quá bất ngờ và cảm thấy nhục nhã bởi hành vi của vị “quan” đáng kính mà lâu nay cô chỉ thỉnh thoảng được thấy mặt và nghe nói toàn lời hay, ý đẹp trên ti-vi, cô tiếp viên đã đáp trả ngay lập tức bằng một cái tát như trời giáng vào mặt “quan”! Cát tát làm cả nhà hàng “chết lặng” như… sóng thần xuất hiện!Chuyện đến đây chưa hẳn đã có đoạn kết tệ hại nếu  “quan” hành xử như một người có văn hoá (lỡ có tí bia rượu), chẳng hạn nói một lời xin lỗi. Đàng này, sau một lúc bỏ đi vào nhà vệ sinh, “quan” quay trở ra, mặt hầm hầm chỉ tay, lớn tiếng: “Đuổi, đuổi ngay cô tiếp viên không biết làm việc kia!”. Tất nhiên chủ quán thanh toán tiền công và cho cô nghỉ việc ngay sau đó. Chưa hết, “quan” còn doạ sẽ cho đóng cửa, không chỉ nhà hàng này mà còn cả… các nhà hàng bên cạnh! (Ý tưởng này thật… khó hiểu!).Theo giới thạo tin “mật” thì việc ông “quan” này vào các nhà hàng ruột của mình rồi ôm hôn  các cô tiếp viên và “hơn thế” giữa thanh thiên bạch nhật như đã dẫn ở trên là “chuyện thường ngày ở huyện”. Nhưng lâu nay, các cô phần khiếp uy của “quan”, phần vì miếng cơm manh áo đành nuốt nhục, im lặng.  Cái tát vừa rồi thật ra là… “đi đêm lắm có ngày gặp ma” mà thôi.Người viết bài này đã nghĩ mãi vẫn không lý giải thoả đáng về hành vi của “quan”. Chẳng lẽ, “quan” cho  rằng xã hội bây giờ không có “vua”, cũng không có “dân”, nên không cần nhìn trước nhìn sau khi thực hiện những hành vi không xứng đáng với trọng trách như thế? Hay là “quan” cho rằng, ta là “vua” của đất cố đô này nên ta muốn làm gì cũng được?
Ông Hồ Xuân Mãn có cướp công? – Bài 1: Nhân chứng một thời (08/01/2013)
“Em đi đâu cũng nghe người ta bàn chuyện báo chí viết về anh Hồ Xuân Mãn. Theo em, với kinh nghiệm của mình anh nên tìm hiểu sự việc thế nào. Có phải anh Hồ Xuân Mãn là “người cướp công của đồng đội?”. Đó là E-mail của đồng nghiệp gửi cho tôi sau khi bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Hà có tựa đề “Về lại Phong Điền” đã được photo phát tán nhiều nơi làm dấy lên sự hoài nghi, lo lắng về nhân phẩm, đạo đức và thậm chí bôi nhọ thanh danh của một con người từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế 2 nhiệm kỳ. Vì thế, chúng tôi đã vào cuộc tìm hiểu sự thật.

Giấy chứng nhận Dũng sĩ, Chiến sĩ thi đua
trong những năm chiến tranh mà ông Hồ Xuân Mãn còn lưu
Ông Hồ Xuân Mãn, sinh năm 1949, quê ở thôn Phò Ninh, xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế; tham gia cách mạng khi 14 tuổi, đến năm 1967 thì thoát ly gia đình, trực tiếp cầm súng đánh giặc. Trong những năm chiến tranh, từ một chiến sĩ an ninh vũ trang tỉnh Thừa Thiên, ông làm Đội trưởng Trinh sát an ninh vũ trang Ban An ninh huyện Phong Điền. Từ năm 1973 cho đến ngày quê hương Thừa Thiên – Huế giải phóng (26-3-1975), ông Hồ Xuân Mãn là Trưởng ban An ninh kiêm Xã đội trưởng xã Phong An, huyện Phong Điền. Suốt thời gian 5 năm (1970 -1975) bám dân, bám đất và kề vai sát cánh cùng đồng chí, đồng đội, ông Hồ Xuân Mãn đã lập nhiều chiến công xuất sắc và góp phần tạo nên vành đai Sơn – An – Nguyên diệt Mỹ nổi tiếng.
Năm 1994, tại khách sạn Hương Giang (Huế), thấy ông Lê Việt Hà (Trưởng Công an TP. Huế) gọi, xưng hô rất thân mật với ông Hồ Xuân Mãn (Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy), tôi hỏi: “Hai anh đã thân nhau à?”. Ông Lê Việt Hà cho biết: “Từ giữa năm 1968, ở vùng thượng nguồn sông Bồ, trên đường đi công tác, bọn mình gặp biệt kích Mỹ”. Rồi chỉ vào ông Hồ Xuân Mãn đang ngồi đối diện, ông Hà khẳng định: “Chính anh Mãn đã cõng và cứu mình thoát chết. Nghĩa tình sâu đậm lắm, không ở trong cuộc không biết mô!”.
Đại tá Nguyễn Việt Hùng – nguyên Giám thị Trại giam Bình Điền, quê ở xã Thủy Vân, thị xã Hương Thủy nhớ lại: “Toán chúng tôi có 3 người. Anh Lê Việt Hà đi đầu, kế đến là tôi và anh Hồ Xuân Mãn. Trong khi chúng tôi đang leo dốc thì địch bất ngờ nổ súng. Anh Hà kêu thất thanh: -Hùng ơi, mình bị thương rồi! Tôi hỏi anh Mãn: Anh Hà bị thương thì mần răng?Anh Mãn nói: -Phải đưa lui và cấp cứu ngay! Trong khi chúng tôi thay nhau cõng  tìm nơi để vừa tránh địch vừa tiến hành băng bó vết thương thì anh Lê Việt Hà trăng trối: “Đ/c Lớn đang nợ tôi mấy chục triệu” (tiền của chế độ cũ, anh Hà ứng để về đồng bằng mua gạo cho đơn vị) và hô khẩu hiệu: Đảng Lao động muôn năm! Hồ Chủ tịch muôn năm! Hô đến lần thứ 3 thì anh Hà ngất lịm. Chúng tôi tưởng anh Lê Việt Hà đã hy sinh nên đem giấu vào một bụi rậm rồi tìm đường trở lại đơn vị, bởi lúc này địch đã gọi máy bay đến oanh kích rất dữ dội. Sáng hôm sau chúng tôi được đơn vị phân công quay trở lại tìm kiếm anh Lê Việt Hà. Ngoài 2 chúng tôi còn có thêm anh Hồ Văn Ninh, sau này là Phó Viện trưởng Viện KSND tỉnh Thừa Thiên – Huế (vừa nghỉ hưu). Tìm mãi không thấy, anh Mãn ngại rằng, không lẽ ngửi được mùi máu, cọp đã tha xác anh Hà? Dù vậy, cả mấy anh em chúng tôi phân nhau tìm kiếm, nếu hy sinh thì phải tìm cho được thi thể của anh Lê Việt Hà để mai táng và báo cáo cho đơn vị. Hóa ra nửa đêm tỉnh lại, anh Lê Việt Hà đã bò đi tìm nước uống và bị ngất xỉu nên nằm lại bên bụi lá nón, gần bờ khe. Anh Lê Việt Hà thoát chết trong hoàn cảnh ấy”.
Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu, quê ở huyện Phú Lộc, nguyên Ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy Thừa Thiên, nguyên Bí thư Huyện ủy Phong Điền thuật lại: “Ngày 6-9-1969, tôi được Thường vụ Khu ủy Trị Thiên – Huế điều động trở lại Phong – Quảng Điền thay đồng chí Vũ Thắng (sau này là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế) làm Bí thư Huyện ủy Phong Điền phụ trách Quảng Điền. Đầu năm 1970, sau khi đồng chí Hồ Xuân Mãn dự học lớp nghiệp vụ An ninh ở Quảng Bình vào, theo đề nghị của tôi, đồng chí Tư Minh – Phó Bí thư Khu ủy, Trưởng ban An ninh Khu đồng ý không để đồng chí Hồ Xuân Mãn về lại đơn vị cũ mà chuyển về công tác tại Ban An ninh huyện Phong Điền do tôi làm Trưởng ban. Mãi đến khi đồng chí Ngô Văn Viện (cần vụ) bị thương mới chọn đồng chí Hồ Xuân Mãn làm thư ký và bảo vệ cho tôi. Lớp học nghiệp vụ An ninh 3 tháng được tổ chức tại xã Nhân Trạch, huyện Bố Trạch, tỉnh Quảng Bình do ông Hồng Lam, cán bộ An ninh Khu ủy Trị Thiên – Huế phụ trách. Đồng chí Nguyễn Đình Bảy – Phó Ban An ninh Khu ủy Trị Thiên – Huế; Vĩnh Thành – Trưởng Ty Công an Đặc khu Vĩnh Linh cùng nhiều cán bộ của C500 được Bộ Công An cử vào tham gia giảng dạy. Lớp học chỉ có 2 trung đội. Một do ông Ngọc Anh (quê Hương Trà, chồng của chị Lành, nguyên Phó Chủ tịch UBMTTQ Huế) làm Trung đội trưởng. Trung đội còn lại do ông Hồ Xuân Mãn làm Trung đội trưởng. Số học viên nay chỉ còn vài người như: ông Nguyện (nguyên Phó Phòng Tổ chức Công an Thừa Thiên – Huế), ông Cưụ (Công an Phong Điền), bà Điền, bà Hợi (Công an Hương Điền cũ), ông Cống (Công an Quảng Điền), ông Kiên (Công an Phú Lộc), ông Nguyễn Việt Hùng (nguyên Giám thị Trại giam Bình Điền), chị Lê Thị Thu (nguyên Phó Chánh Văn phòng UBMTTQ tỉnh Thừa Thiên – Huế)… Cuối  năm 1970, Thường vụ Huyện ủy Phong Điều quyết định cử đồng chí Hồ Xuân Mãn làm Đội trưởng Trinh sát An ninh ở Phong An – Phong Sơn”.
Ông Ngô Kha, quê ở Quảng Trị, sau khi tốt nghiệp Đại học, năm 1964 đã vào chiến trường Thừa Thiên – Huế công tác. Trong những năm chiến tranh, ông Phụ trách Báo Cờ giải phóng, Bí thư Đảng ủy Ban Tuyên huấn Thừa Thiên. Ông Ngô Kha cho biết: “Hễ lần nào tỉnh mở Đại hội chiến sĩ thi đua thì lần đó đều có anh Hồ Xuân Mãn tham dự. Tôi biết rõ điều này vì  tôi được phân công viết giúp bản báo cáo thành tích cho anh Mãn và nhiều người khác. Năm 1973, sau Đại hội thi đua của tỉnh Thừa Thiên, một số cán bộ tiêu biểu được chọn đi dự Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua tổng kết 18 năm chống Mỹ của Quân khu Trị Thiên – Huế tổ chức ở Cồn Tiên – Quảng Trị. Ông Ngô Kha là đại biểu chính thức. Nhà văn Tô Nhuận Vỹ tham dự Đại hội với tư cách là phóng viên Tạp chí Văn nghệ Trị Thiên – Huế vừa mới thành lập”.
Ông Hồ Viết Lễ – nguyên Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Thương mại Thừa Thiên – Huế, một trong những Chiến sĩ thi đua tham dự Đại hội ở Cồn Tiên  nhớ lại: “Theo kế hoạch, tôi được phân công báo cáo điển hình xã T.(tức Phú Thạnh – Phú Đa ngày nay), anh Nguyễn Văn Thạnh báo cáo điển hình xã M. (tức Mỹ Thủy – Thủy Phương), anh Hồ Xuân Mãn báo cáo điển hình xã A. (tức xã Phong An).”
Ngoài 3 lần tham dự Đại hội chiến sĩ thi đua, ông Hồ Xuân Mãn từng đã có 33 lần được tặng danh hiệu Dũng sĩ, 3 Huân chương Chiến công hạng Ba, 3 Huân chương Giải phóng các hạng và 1 Huân chương Quyết thắng, 3 huy hiệu Chiến sĩ thi đua, nhiều bằng khen và cả giấy chứng nhận danh hiệu “Tấn công, nổi dậy, anh dũng, kiên cường”.
Trong những chiến công xuất sắc của ông Hồ Xuân Mãn, theo ông Lê Sáu thì việc ông Hồ Xuân Mãn phối hợp với lực lượng của 2 xã Phong An -Phong Sơn vào đầu tháng 10-1972 diệt được tên ác ôn khét tiếng (xin không nêu tên) là vang dội nhất, vì tên này có đặc điểm là sau khi sát hại cán bộ, du kích của ta, hắn tự xẻo tai rồi đeo lên cổ. Hắn khoe đã giết được 82 cán bộ, du kích Phong – Quảng nằm vùng. Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu còn dẫn nhiều trường hợp anh Hồ Xuân Mãn đã cùng đồng đội tham gia diệt ác trừ gian và tổ chức đánh địch rất cụ thể, nhưng vì đó là chiến tranh và phần lớn vợ con họ hiện đang còn sống, có những người cùng quê; hơn nữa Đảng ta chủ trương khép lại quá khứ nên ông Lê Sáu không đồng ý nêu cụ thể.
Hữu Thu-Bảo Hân

Bài 2: Những chiến công thầm lặng (09/01/2013)

Sau Hiệp định Paris 1973, địch dùng 1 tiểu đoàn biệt động quân và 1 đại đội cảnh sát dã chiến có xe tăng yểm trợ để tái chiếm xã Phong An. Sau khi tái chiếm, chúng tiến hành bình định, thanh lọc. Nhiều đảng viên, an ninh, du kích của  ta bị bắt, tra tấn tù đày, thậm chí còn bị thủ tiêu.

Để bảo toàn lực lượng, Huyện ủy Phong Điền chủ trương gấp rút đưa những cơ sở còn lại ra vùng giải phóng. Nhận nhiệm vụ của cấp trên giao, ông Hồ Xuân Mãn đã cùng với lực lượng 2 xã Phong An và Phong Sơn bí mật tổ chức đưa hơn 20 gia đình cơ sở cách mạng lên chiến khu.
 Sau gần 1 tháng rời địa bàn đi dự Đại hội anh hùng, chiến sĩ thi đua ở Cồn Tiên, ông Hồ Xuân Mãn quay trở lại A Lưới và biết ở quê mình chị Hạnh – Huyện ủy viên, Bí thư xã Phong An; anh Đời – Bí thư xã Phong Sơn; anh Thuận – Xã đội trưởng Phong An; anh Đàm, anh Anh – du kích và nhiều đồng chí khác đã lần lượt hy sinh. Trước tình hình đó, ông báo cáo với ông Vũ Thắng – Bí thư Tỉnh ủy và ông Nguyễn Đình Bảy – Phó Ban An ninh Khu ủy xin trở lại Phong Điền. Về đến nơi, ông Lê Tư Sơn – Bí thư Huyện  ủy, ông Phạm Văn Danh – Trưởng Ban An ninh huyện cho ông Hồ Xuân Mãn biết: “Tình hình Phong An bây giờ gay go lắm. Thường vụ tin đồng chí và giao đồng chí tìm mọi cách trở lại chỉ đạo phong trào.”
Liên quan đến nội dung bài viết “Về lại Phong Điền” của nhà văn Nguyễn Quang Hà, ngày 5-12-2012, ông Đồng Hữu Vinh – Trung tá, Chính trị viên phó kiêm Chủ nhiệm Chính trị Ban CHQS huyện Phong Điền và ông Nguyễn Văn Lương – Thượng tá, nguyên Chỉ huy trưởng Ban CHQS huyện Phong Điền đã có văn bản phản hồi. Ông Đồng Hữu Vinh cho biết: “Tôi thấy rằng: một số nội dung và ngôn từ của bài báo phản ánh không đúng sự thật và bị cường điệu hóa làm cho người đọc hiểu sai vấn đề.”…Có đoạn thoại (trích đăng trong bài báo), theo khẳng định của ông Đồng Hữu Vinh “là hoàn toàn sai sự thật”.

Để tránh địch phát hiện, ông Hồ Xuân Mãn và ông Hùng (du kích) lội xuống bàu (ruộng sâu) dùng cỏ để ngụy trang. Trong cuộc đời tham gia hoạt động cách mạng của ông Hồ Xuân Mãn, theo ông đây là thời điểm gian khổ nhất, vì ban đêm thì lạnh, muỗi bu kín đầu còn ban ngày nắng như đổ lửa, nước lại nóng, bụng đói lại bị đỉa hành. Đêm xuống, cởi hết áo quần, toàn thân đầm đìa máu và đỉa. Hai ngày sau, họ mới tiếp cận được ấp Phò Ninh và gặp được chị Nguyệt – cơ sở của ta. Chị Nguyệt khuyên họ: “Đi đi, ở đây là chết vì địch đóng ở khắp nơi”. Thông qua chị Nguyệt, cuối cùng ông Hồ Xuân Mãn đã gặp được chị Hoa – cơ sở mật của an ninh. Gặp lại cán bộ cách mạng, chị Hoa òa khóc: “Chết hết rồi, chú về chi nữa!”

Từ đó, cùng với anh em an ninh, du kích, ông Hồ Xuân Mãn gây dựng lại phong trào. Chi bộ mật, Chi đoàn mật, 5 tổ du kích mật được khôi phục và hoạt động trở lại. Tháng 3-1975, mặc dù không có lực lượng chủ lực hỗ trợ nhưng ông Hồ Xuân Mãn đã cùng lực lượng tại chỗ tổ chức nhân dân 2 xã Phong An – Phong Sơn nổi dậy, phá toang cánh cửa phía Bắc, tạo điều kiện cho Quân đoàn II tiến quân vào giải phóng Huế.
Nếu không được nghe những người trong cuộc kể lại những câu chuyện sau đây thì khó mà hình dung về phẩm chất của một người anh hùng một lòng kiên trung với Đảng, sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ cán bộ lãnh đạo trong những năm đầy gian khổ và ác liệt của chiến tranh.
Đó là tháng 6-1970, một đoàn cán bộ 5 người, gồm ông Vũ Thắng – Bí thư Đảng ủy Đoàn 6 và 2 cần vụ, ông Lê Sáu – Bí thư Huyện ủy Phong Điền, Thường vụ Đảng ủy Đoàn 6, do ông Hồ Xuân Mãn (lúc đó là  thư ký và bảo vệ cho đồng chí Lê Sáu) dẫn đầu hành quân từ dốc Cao Bồi trên đất Lào để trở về hậu cứ Phong Điền. Do đoàn không có trinh sát, không có giao liên dẫn đường nên tính mạng của 4 con người, trong đó có 2 vị lãnh đạo chủ chốt của Thừa Thiên đều phó thác vào ông Hồ Xuân Mãn. Khi đến đoạn đường gần cao điểm Cóc Bai – ngã 3 Quảng Trị thì diễn ra tình huống: địch vừa phục kích và cắm 3 cái đầu máu đang còn chảy. Trước diễn biến bất ngờ đó, ông Hồ Xuân Mãn đã cùng với ông Viết (bảo vệ của đồng chí Vũ Thắng) tiến hành kiểm tra. Biết địch đã rút, không gài lựu đạn nên cả đoàn tổ chức mai táng. Nhóm 3 người của Đoàn 6 tạm dừng lại chờ dò đường, còn ông Mãn, ông Sáu tiếp tục đi. Gần giữa chiều, linh cảm bất an nên ông Mãn dừng lại nói nhỏ với Thủ trưởng của mình: “Chú đợi cháu ở đây” rồi  tiếp tục trinh sát. Được một quãng, ông Mãn phát hiện giữa đường địch lại cắm 1 cái đầu. Đi tiếp, ông lại phát hiện thêm 1 cái đầu khác. Cả 2 máu còn chảy, chứng tỏ địch vừa phục kích tại đây.
Văn bản của ông Đồng Hữu Vinh và Nguyễn Văn Lương
có xác nhận của Thượng tá Đặng Trần Sơn
– Chính trị viên  Ban CHQS huyện Phong Điền
 Kể cho nghe tôi nghe đến đoạn này ông Lê Sáu nói: “Thú thật đến lúc đó mình cảm thấy ớn lạnh. Phải là con người gan lỳ, không biết sợ mới dám liều lĩnh đi một mình như thế. Đó là phẩm chất của một anh hùng!”.
Về đến căn cứ của xã Phong Thu, ông Hồ Xuân Mãn lại nhận nhiệm vụ đi tìm gạo, muối cứu đói cho bộ phận của ông Phan Bằng – Tỉnh đội trưởng và ông Võ Lạng (sau giải phóng là Chủ tịch UBND huyện Phú Lộc) – Cán bộ tổ chức của Trung đoàn 6 đã đói nhiều ngày đang tìm đến để xin tiếp tế. Đó là một nhiệm vụ rất nguy hiểm. Trong những năm chiến tranh, để bảo vệ số lương thực cất giấu, trước khi chuyển chỗ đóng quân, anh em ta thường gài lựu đạn để phòng địch hoặc thú rừng phá hoại. Anh Hoàng Khuê (Thu) – Bí thư xã Phong Thu đã chết vì mìn do anh em gài lại ở hầm cũ. Trước khi đi, ông Lê Sáu dặn ông Mãn: Phải hết sức cẩn thận “vì đồng chí là người duy nhất gắn liền sinh mạng với tôi và sứ mệnh của Đảng bộ 2 huyện Phong – Quảng”.
Ông  Lê Sáu thuật lại trong hồi ký: “Như một người đi dò mìn, anh Mãn lần từng đoạn, phát hiện vật nổ cả dưới đất lẫn trên cây, vượt qua đoạn này đến đoạn khác. Gần 12 giờ trưa anh Mãn mới tìm ra chỗ giấu gạo, muối và gùi về được 50 lon gạo, 3 lon muối và mang theo 2 quả lựu đạn mà anh em mình đã gài ở miệng hầm. Anh Mãn chia cho anh Phan Hường 18 lon gạo, 1 lon muối, anh Võ Lạng 32 lon gạo, 2 lon muối. Cân lương khô mang từ khu ủy về anh Mãn cũng cho luôn đoàn của anh Võ Lạng.”
Trong hồi ký của mình, ông Lê Sáu còn ghi lại kỷ niệm mà trong gần 10 năm làm Bí thư Huyện ủy Phong Điền, ông không bao giờ quên cái đêm anh Hồ Xuân Mãn tổ chức đưa ông vượt qua căn cứ địch ở Đồng Lâm – Ngành Ngạnh. Ông Sáu cho biết: “Đoạn đường không dài mà ở đó có 36 cụm biệt kích Mỹ chốt giữ. Đêm đó, tôi bị vọt bẻ nên phải lết từng bước một, tránh hết ổ biệt kích này, lết qua ổ biệt kích khác chốt xen kẽ nhau giữa các quả đồi. Chỉ cần một sơ suất nhỏ, địch phát hiện được, chúng tôi chỉ có tử chiến, khó thoát chết.”.
Sự thật về năm tháng chiến đấu can trường của ông Hồ Xuân Mãn có thể viết thành một cuốn truyện ký. Tuy nhiên, chỉ riêng một số thông tin vừa nêu cũng đã đủ hình dung về phẩm chất của một cán bộ nằm vùng. Điều cần nói thêm là kể từ khi đất nước đổi mới, từ một Bí thư Huyện ủy, ông Hồ Xuân Mãn phấn đấu và trở thành Bí thư Tỉnh ủy 2 nhiệm kỳ, được tặng thêm 8 Huân chương, trong đó có 1 Huân chương Độc lập hạng Nhì, 1 Huân chương Bảo vệ Tổ quốc hạng Nhì và 1 Huân chương chuyên án an ninh tôn giáo, 1 Huân chương Đại Đoàn Kết dân tộc, 1 Huân chương Lao động hạng Nhì, Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, 1 Huân chương Hữu nghị, 1 Huân chương Itxala.
Năm 2010, xét thành tích cả thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và thời kỳ xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, ông Hồ Xuân Mãn được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang.
Hữu Thu – Bảo Hân

———————————————


Hữu Thu hãy giúp anh hùng Hồ Xuân Mãn sửa lại bản thành tích

 

Tất nhiên, khen một người, tuyên dương một người trên mặt báo nếu đúng và đầy đủ về họ thì không chỉ giúp họ vững lòng tin, có hưng phấn cho những hành trình sống đẹp tiếp theo, giữ gìn được bản sắc tốt đẹp vốn có, đã xây dựng. Đồng thời, cũng là giúp cộng đồng niềm tin vươn lên, cho những người còn mờ mịt trong bóng tối thấy một điểm sáng mà hướng tới, và cũng sẽ thắp sáng được chính mình trong bản năng lương thiện nơi cội nguồn tâm thức!

Lao động nghề nghiệp nghiêm túc cũng là một thể hiện của cái tâm trong sáng, chánh trực của người làm báo. Cái tâm của người làm báo còn thể hiện ở tính trung thực truyền tin của người ấy. Một bản tin đúng sự thật bao giờ cũng được đánh giá cao…

Hữu Thu viết: “sau khi bài viết của nhà văn Nguyễn Quang Hà có tựa đề “Về lại Phong Điền” đã được photo phát tán nhiều nơi làm dấy lên sự hoài nghi, lo lắng về nhân phẩm, đạo đức và thậm chí bôi nhọ thanh danh của một con người từng là Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế 2 nhiệm kỳ. Vì thế, chúng tôi đã vào cuộc tìm hiểu sự thật”.

Hữu Thu đi tìm sự thật Mãn không cướp công đồng đội, Hữu Thu hẳn nhiên đã viết, đọc bản thành tích của anh hùng Hồ Xuân Mãn, Mãn kể: Thôn Phò Ninh có tôi, anh Đợi, anh Minh, anh Kiếm; ở thôn Vĩnh Hương có các anh: Quyền, Cầu, Rạm, Hùng.

Hữu Thu đã tìm gặp những anh này để tìm hiểu cuộc sống, chơi, chiến đấu trong thời kì lâu lắm của Mãn?

Mãn nhận có tham gia đánh trận Chợ Mỹ Chánh giết chết tên Triêm, trận đánh này làm gì có Mãn? Tổ đánh trận chợ Mỹ Chánh gồm: Dũng, Ben, Hiệu, Ngói, chính Dũng là người bắn chết Triêm…chắc chắn Mãn biết điều ấy, anh em vẫn còn sống, trận đánh chợ Mỹ Chánh không có Mãn.

Mãn khai trong bản thành tích có công của anh hùng Hồ Xuân Mãn, hành vi ấy không gọi là “ăn cướp” thì gọi là gì, Hữu Thu?

—————————————

XIN HỎI ÔNG BÍ THƯ TỈNH UỶ

Để rộng đường dư luận cũng là tôn trọng tính đa chiều của truyền thông, Tuần Việt Nam đăng ý kiến thể hiện quan điểm riêng của ông Hà Văn Thịnh, giảng viên trường Đại học Huế.

Trong mục Chào buổi sáng của báo Thanh Niên, số ra ngày 25.1.2010, có đăng tải những phát biểu của Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên Huế Hồ Xuân Mãn. Ông Mãn cho rằng đầu nhiệm kỳ, người nghèo ở tỉnh TTH là 28%, nay còn 8%; tỉnh đã lo cho 31.000 đồng bào dân tộc có nhà “4 cứng” và; nhất là tỉnh TTH luôn “nói đi đôi với làm”. Nếu đúng như thế thì thật là diệu tuyệt. Nhưng vì là một nhà sử học, nói cái gì cũng phải có sách, mách có chứng nên tôi muốn ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh TTH cho biết rõ – cụ thể hơn những thành tích rất đáng trân trọng ấy.

1. kỷ lục

2. Chỉ cần ngồi ở một quán cóc trên đường Lê Hồng Phong – trung tâm thành phố, khoảng một giờ đồng hồ, bất kỳ ai cũng được “tiếp xúc” với 10-15 người ăn xin, bán vé số. Họ có phải là người nghèo hay không? Tại sao TTH có tỷ lệ ăn xin và bán vé số cao nhất nước trong khi người nghèo đã giảm nhanh đến như thế? Xin nhấn mạnh rằng cũng trong chừng ấy thời gian vào buổi chiều tối, sẽ “bị” không ít hơn 10 đứa trẻ chèo kéo mua đậu phụng rang, bánh phồng tôm. Những đứa trẻ đó chỉ khoảng 8-11 tuổi.

3. Tiêu chuẩn “nghèo” mà ông Bí thư Tỉnh ủy “xếp hạng” là dựa trên căn cứ nào? Theo các công trình nghiên cứu của Trung tâm Khoa học Xã hội Nhân văn trường Đại học Khoa học Huế thì tỉnh TTH là một trong những địa phương có tỷ lệ người nghèo cao nhất nước. Xin nhớ rằng nếu thu nhập bình quân dưới 1.000 USD/người/năm, thì vẫn thuộc dạng nghèo; còn dưới 500 USD thì chắc chắn là thuộc diện đói nghèo. Cũng xin nhấn mạnh rằng tiêu chuẩn nghèo mà tỉnh TTH đang cố tính là theo Thông tư số 170/TTg của Thủ tướng Chính phủ ký ngày 8.7.2005, trong đó quy định rằng mức nghèo là dưới 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành phố. Cách tính đó đã lạc hậu vì ai cũng biết chẳng một ai (kể cả trẻ con) có thể sống nổi ở một thành phố với thu nhập nửa USD/ngày(!) Đó là chưa muốn nói rằng số liệu mà ông Bí thư Tỉnh ủy đã đưa ra là không chính xác (tuy vẫn theo cách tính để lấy thành tích của ông). Số liệu của Sở Lao động – Thương binh – Xã hội TTH cho biết năm 2009, TTH có 21.168 hộ nghèo với 75.945 nhân khẩu, chiếm 8,85% (ông Bí thư đã bớt đi 0,85%). Thế nhưng số người “cận nghèo” (một cách nói để giảm thiểu sự sút giảm của thành tích. Trên thực tế là chẳng khác gì nhau. Nghèo và không nghèo chứ không thể có chuyện “cận nghèo”), là 5,75%. Cộng lại, TTH, tuy tính toán khác rất xa với thực tế, vẫn có 14,6% người rất nghèo.

4. Các dân tộc ít người ở tỉnh TTH có gần 50.000 người. Ông Bí thư Tỉnh ủy Hồ Xuân Mãn cho rằng “tỉnh đã lo cho 31.000 đồng bào dân tộc có nhà “bốn cứng” là chính xác hay không? Được biết, nhà của đồng bào được xây dựng theo Đề án 135 của Chính phủ và kinh phí để thực hiện là do nguồn từ Nhà nước và các cơ quan hợp tác quốc tế. Tại sao tỉnh TTH có thể nói là chính họ đã lo cho đồng bào? Mặt khác, 40% còn lại vẫn chưa có nhà “bốn cứng” là nghĩa làm sao khi chỉ có 8% người nghèo? Đó là chưa nói chuyện xây nhà xong nhưng trong đó chẳng có gì, thu nhập của người dân không thay đổi gì thì quả thật, chỉ mới đem cái áo khoác lên cho người nghèo bớt xấu một chút mà thôi!

5. Người viết bài này đã sống và làm việc ở tỉnh TTH 33 năm, đã chứng kiến sự thay đổi của nhiều lãnh đạo nhưng chưa hề thấy bất kỳ sự thay đổi thực sự nào từ ý tưởng, cách làm việc của những người lãnh đạo ấy. Tôi sẵn sàng tranh luận với bất kỳ vị lãnh đạo nào về đề tài này. Chỉ cần bước qua đèo Hải Vân là thấy xấu hổ vì mình là người Huế. Sự đủng đỉnh của Huế, tính bảo thủ muôn đời của nó là điều ai cũng biết. Thật là buồn khi mình gắn bó với một quê hương mà quê hương ấy chỉ thay đổi gọi là, phát triển gọi là…

Là người dân, rất ước mong rằng các vị lãnh đạo hãy nói được sau khi đã làm được. Xin ông Bí thư Tỉnh ủy tỉnh TTH trả lời những câu hỏi của tôi.

———————————

VỀ LẠI PHONG ĐIỀN

Bài Báo “Về lại Phong Điền” của Nhà Văn Nguyễn Quang Hà viết về anh hùng LLVTND Hồ Xuân Mãn. Câu chuyện này không mới, nghe râm ran từ lâu, nay mới mục sở thị một bài viết của một người có tên thực, có tâm, có tầm.

Hoan nghênh.

Anh Nguyễn Quang Hà, Nhà văn Nguyễn Quang Hà một con người đang trăn trở với hai món nợ rất lớn mà chắc viết cho đến khi nhắm mắt xuôi tay cũng không thể nào trả xong. Hai món nợ mà anh đang gánh trên đôi vai của mình là món nợ đối với nhân dân và món nợ đối với đồng đội. Hơn bốn mươi năm cầm bút, anh đã viết 10 tập tiểu thuyết; 7 tập truyện ngắn, ký, truyện ký; 2 tập thơ cùng với hàng trăm bài báo, anh chỉ mong sao trả được hai món nợ ấy.Tiểu thuyết Vùng lõm (NXB Quân đội nhân dân, 2008) không chỉ miêu tả cuộc chiến giữa ta và địch mà còn tập trung thể hiện “cuộc chiến” nội bộ giữa ta với ta. Đó là “cuộc chiến” giữa những người có lý tưởng cao đẹp với những kẻ cơ hội. Huỳnh Thế Tô bỏ học về làng Mai Trung làm xã đội trưởng chỉ vì yêu Hoài. Y tỏ ra ta đây dũng cảm cũng chỉ để được lòng Hoài. Y chỉ lo “vun vén chức tước, tập hợp quanh mình những người dễ sai khiến để tôn mình lên”. Nhưng khi bị Hoài từ chối thì tìm cách hãm hiếp cô rồi chiêu hồi. Quả đúng như nhà văn Nguyễn Quang Hà đúc kết: “Để quyền lực rơi vào tay những thằng cơ hội, chúng không ngần ngại gì giết cả trời xanh”. Đối lập với Huỳnh Thế Tô là Nguyễn Văn Dư-một chàng trai tài trí, kiên cường, gan góc và có đời sống tâm hồn hết sức phong phú. Chứng kiến cảnh những hành động vô cùng dã man của kẻ thù, Nguyễn Văn Dư đã dũng cảm nhận về mình cái chết để cứu dân làng.

Nhà văn Nguyễn Quang Hà từng hai lần đạt giải ký báo Văn nghệ. Tác phẩm Thân Trọng Một – con người huyền thoại và tiểu thuyết Vùng lõm được giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam… Mặc dù đã đến tuổi “cổ lai hy” và bị cắt hơn một mét đại tràng vì căn bệnh ung thư nhưng anh vẫn tích cực đi và viết. Kính nể sức làm việc phi thường của anh. Cầu chúc anh “chân cứng đá mềm” để tiếp tục trả hai món nợ mà anh vẫn hằng tâm nguyện!

Một nhân cách của một người chiến sĩ trưởng thành từ chiến tranh cách mạng. Anh là người nghiêm túc, người của đồng chí, người của nhân dân.

Tên anh mãi mãi sống trong lòng nhân dân.

Nghe việc chạy, với Hồ Xuân Mãn thì chạy và bị chạy là việc bình thường, thời buổi này không chạy mới là lạ. Bài viết này chỉ là bề nổi, một chứng cứ nho nhỏ về mặc thủ tục của việc chạy huân chương…Mãn học chưa qua cấp III bổ túc văn hóa, đã cố gắng chạy cái “cử nhân luật tại chức” nhưng không thành, cũng nghe râm ran Mãn đang làm Tiến sĩ …nhưng đó chỉ là tin đồn, thiên hạ hay đồn chuyện tào lao, biến không thành có như chuyện động trời phao tin nhãm cho Ngô Quý Thích…

Nhìn lại quá trình lịch sử chúng ta thấy rằng, đội ngũ cán bộ lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đã được lựa chọn, rèn luyện thử thách, nhìn chung, họ đã hoàn thành nhiệm vụ được giao, góp phần quan trọng vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.

Tuy nhiên, trong những năm gần đây, hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương… gia tăng, có tác động tiêu cực đến chất lượng đội ngũ cán bộ và hiệu quả lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý, điều hành của Nhà nước ở các cấp.

Thấy rõ tính bức xúc của tình hình, Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI nhấn mạnh sự cần thiết phải “có chế tài xử lý nghiêm những trường hợp chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tuổi, chạy bằng cấp, chạy huân chương”. Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra những căn bệnh có tác động hết sức trầm trọng, nặng nề tới năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, có tác động tiêu cực tới việc củng cố niềm tin của nhân dân vào đội tiên phong cách mạng, nếu không khắc phục có thể đưa sự nghiệp cách mạng tới tiêu vong.

Hiện tượng chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy tuổi, chạy bằng cấp liên quan tới cá nhân, còn chạy huân chương liên quan tới cả cá nhân lẫn tổ chức, khó hơn nhiều.

Mãn đã làm được! Siêu sao!

Những căn bệnh này xuất hiện cả ở những cán bộ không giữ cương vị lãnh đạo, quản lý lẫn cán bộ giữ cương vị lãnh đạo, quản lý.

Trường hợp Hồ Xuân Mãn là một điển hình, với Hồ Xuân Mãn thì không có gì là không thể. Mãn có tài, cái tài của Mãn ngang Trần Thủ Độ, nhưng cái tài ấy chỉ một người được hưởng đó là Hồ Xuân Mãn và anh em con cháu nhà Mãn. Mãn chạy được chạy một cách thô thiển, bất chấp dư luận xã hội, coi đời như chẳng có, hình như Mãn còn vênh vênh tự đắc vì quyền lực độc tôn của mình, chỉ cần trái ý Mãn, Thái Công Nguyên ngậm đắng nuốt cay vì cái trò luân chuyển man rợ.

Cũng quy trình, cũng quy hoạch, cũng thăm dò…nhưng với quyền lực vô biên và để thị uy cho thiên hạ cong mình quy phục là trò luân chuyển, trò này giúp phò mã Phương đi từ cảng Thuận An lên sở Giao Thông qua Hương Trà vô Kế Hoạch… một tài năng mà cái ghế phó chủ tịch và bí thư đang chờ…

Cơ hội là như vậy, thời buổi này…

Mãn chạy…ai muốn chạy thì phải qua tay Mãn…

Tài kinh bang tế thế ư? Một nhân sĩ Hà Văn Thịnh muốn trao đổi thẳng thắng với Mãn về tình hình phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh Thừa Thiên Huế (XIN HỎI ÔNG BÍ THƯ TỈNH UỶ), bị Mãn “đánh” cho …cách hành xử của Mãn cũng chỉ là cách hành xử của người ít học nhưng đầy thủ đoạn. Mãn không chỉ là một đảng viên chấp hành sự phân công của Đảng, trong ánh măt nhân dân Mãn đã thành vua. (Đất cố đô có “vua”!)…

Mãn có tài, tài sắp xếp ghế của những người tài làm việc nước, Ngô Yên Thi một con người đức độ cho đến bây giờ vẫn còn khiếp vía vì tài năng của Mãn.

Mãn biết cách sắp xếp ghế cho mình…

Em của Mãn, giám đốc sở TT-TT được nhân dân cho 2 câu thơ:

Ở đâu như Sở Truyền thông, 

Chữ nghĩa thì it, lá lông thì nhiều. 

Quả đúng vậy, để quản lý một sở đầy trí tuệ như sở Truyền thông- Thông tin, thì Hồ Xuân Phán chỉ có lông lá mà thôi.

Đại úy Hồ Xuân Phương, đã là Trung Tá – còn ghê rợn hơn nhiều, lính của Phương đa phần là cấp tá…, công an Thừa Thiên Huế mỗi lần nhắc đến Phương không le lưỡi, lắc đầu mới lạ, cậy thế, cậy quyền, ngông nghênh, ngạo mạn… Phương đến rồi Phương đi, cách đến không bình thường, tất nhiên kiểu đi cũng nhiều hệ lụy…đến tiếng nổi ba phao, đi cũng ba phao tiếng nổi, đi không bằng đôi chân thật của mình, khi không còn cây gậy hiển nhiên phải bơi…

Còn phò mã của Mãn thì đang là một ngôi sao sáng rực trên bầu trời Huế, quỹ đạo bay đã được nhạc phụ lập trình, 6 chức danh cao vời vợi đã được quy hoạch, cứ thế mà bay lên, bay cao…cũng may phò mã cũng có học hành, chỉ kém hơn Kim Yong Un một tí thôi…phò mã đang hội đủ điều kiện cần để thay ngôi nhạc phụ…một tài năng đang lên, phò mã sẽ không chỉ như vậy, vận nước thăng trầm nhờ những tài năng ấy.

Đã là người của công chúng, thiên hạ không săm soi mới lạ, đã viết bài này không nhắc đến 2 công chúa là thiếu sót, các phò mã không vui:

Hồ Thị PVân thi đại học hỏng, Mãn chơi đường cử tuyển, nhờ có họ Hồ, dân tộc Pa cô miền núi hầu hết mang Họ Hồ, Hồ Thị PVân nghiểm nhiên trở thành sinh viên ĐHSP chỉ cần phù phép thành con cháu Pa cô, khi công chúa ra trường chỉ vì muốn bố trí công bằng như con em nhân dân “pháp bất vị thân” mà giám đốc sở Giáo Dục Âu Thanh Minh lao đao lận đận, ức chế quá xin thôi giữ chức giám đốc sở trong nổi niềm, con rễ anh Minh là Cái Vĩnh Tuấn nay là giám đốc sở Nội Vụ Thừa Thiên Huế có lẽ có biết sự tình chán chê này, sau đó Vân về làm giáo viên trường PTTH Gia Hội, Hiệu trưởng Bửu Tuấn phải dàn xếp ngay cái Bí thư Đoàn trường…Tuấn khôn thật. Chỉ có Âu Thanh Minh còn lí tưởng, còn nghĩ rằng Mãn là cán bộ cấp cao, hiển nhiên tính gương mẫu phải rất cao, là tấm gương sáng chói vì lí tưởng cách mạng, là đạo đức, là văn minh, là cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư như hằng ngày Mãn vẫn giáo dục cán bộ, đảng viên học và làm theo Bác, làm theo tấm gương tiêu biểu, làm theo anh hùng…cho đến bây giờ Âu Thanh Minh mới nhận ra rằng “vì lòng tự trọng vội vàng làm đơn xin thôi giám đốc sở là dại”…người ta còn đem vợ đi thế chấp để chạy chức, chạy tuổi, chạy anh hùng…mới vinh thân phì gia…Dại…chỉ được chữ “sĩ” thôi.

Công chúa Hồ Thị PDung được Mãn sắp xếp còn tài tình hơn. Một Đại học Huế lớn với hàng trăm Giáo sư, Tiến sĩ,…trở thành viên chức của Đại học Huế là khao khát của sinh viên giỏi, đối với Dung đường vào Đại Học Huế rộng như đường Lê Lợi…Dung chỉ mới hết tập sự đã được Giám đốc Đại Học Huế Toàn bố trí ngay lên làm Phó ban khảo thí thuộc Đại Học Huế. Với chức vụ ấy đã là cán bộ quản lý của các thầy. Giáo sư, Tiến sĩ cứ ngồi chơi, chấp nhận sự quản lý điều hành của cô sinh viên mới ra trường. Chuyện đời thế mới hay…anh Toàn nhỉ? Nói khắc khe cho có công bằng với thiên hạ, Anh Toàn bố trí như thế là có tầm nhìn 20 năm sau, là quan tâm cán bộ trẻ, cán bộ nữ. Anh Mãn còn làm được AHLLVTND, thì chức phó ban của Dung là cái đinh gì? Dung cũng có bằng Đại học, thạc sĩ hẳn hoi, cũng đạt chuẩn…

Câu chuyện nhắc nhở nhau phấn đấu, tu dưỡng, rèn luyện, học tập…xưa rồi Diễm ơi. Thời buổi này chỉ cần đi chợ, tiền nào của ấy, cử nhân, tiến sĩ, giáo sư, huy chương, huân chương…có tất, riêng AHLLVTND thì khó hơn, vì anh hùng đang sống còn nhiều, họ còn so sánh hơn thua, qua ải ấy cá gáy mới hóa rồng…

Nhà Mãn đã trở thành “Danh gia Vọng tộc” – những người nổi tiếng – Người của công chúng. Dân Huế vốn thâm trầm, sâu lắng; họ râm ran to nhỏ đầu đường cuối phố, hang cùng ngõ hẻm, mấy quán photocopy được một bữa no, một ý tứ rất chung “ngao ngán quá!”

Anh hùng lực lượng vũ trang thời chống Mỹ, Mãn đã làm được, tài năng của Mãn đã làm được tất cả những gì Mãn muốn. Chỉ có một điều mãi mãi Mãn không làm được đó là cái “Chứng Chỉ Tốt Nghiệp Cấp 2 Bổ Túc Văn Hóa “. Đó là một thực tế, đại gia đi mua ô tô thì dễ nhưng đi xin cái chủi cùn lại khó, đành rằng chỉ cần xin là rất nhiều người cho…“Chứng Chỉ Tốt Nghiệp Cấp 2 Bổ Túc Văn Hóa” chỉ là cái chủi cùn…nếu có cái chủi cùn ấy, có lẽ bây giờ đã là Giáo sư. Danh hiệu giáo sư là cái đinh gì? danh hiệu AHLLVTND khó gấp trăm lần, vinh dự gấp ngàn lần…

Xét cho cùng, thời nay tài năng đâu phải học nhiều…danh hiệu cao quý anh hùng đâu phải ở thành tích, chỉ cần có quyền lực, có quan hệ, có tiền nghĩa là trong tay đã có “chiếc đũa thần” muốn cái gì thì chỉ cần hô biến là xong…luận văn tiến sĩ ư? ít tiền thì mua, nhiều tiền thì thuê cả hội đồng viết cho, còn anh hùng…ơ hơ bản thành tích…ơ hơ. Người có học, không có nghĩa là người có bằng cấp, làm chính trị, làm kinh tế giỏi…điểm chung của người có học là biết mình đang ở đâu, tiên liệu được điểm dừng. Nhân bất học, bất tri lí…

Giá như Mãn biết điểm dừng, biết nhường cái AHLLVTND cho đồng chí xứng đáng hơn mình thì nhân dân có gì để so sánh hơn thua…

Hết quan hoàn dân, Mãn đã về hưu như cọp rụng nanh thì nói cũng chẳng làm gì nhau, nhân dân bàn tán hả hê cho đã cái gai con mắt…khi còn đương chức người ta cũng đã hả hê cho sướng mồm nhưng Mãn vẫn lì lợm như cái T54 cứ thế mà tiến lên…nói cho vui, cho thêm tí trào lộng chứ làm c. gì được Mãn? Có ý kiến cho rằng Mãn xấu hổ không dám ra đường…ối trời, Mãn đâu phải hạng người ấy, Mãn làm gì có nơ ron thần kinh xấu hổ? Với lại, chán thằng còn tệ hại hơn Mãn, nó chạy bằng tiến sĩ, nó chạy giám đốc, cỏn con nó chạy đi làm giáo viên mẫu giáo…thằng nào, con nào chạy Mãn nắm từng đứa một, có thể che mắt nhân dân nhưng không qua được mắt Mãn.

Chỉ 3.000 USD thôi ư? tao vứt cho mi thấy, tao tha cho mi khỏi ở tù vì tội đưa hối lộ…mi mất tiền tao được tiếng quan thanh liêm, dù sao tao cũng là một trong ba Bí thư Tỉnh ủy được Ban chỉ đạo Vận động học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh tuyên dương là cá nhân tiêu biểu tại hội nghị toàn quốc. Vinh dự lắm chứ? Mi nghĩ tao là người thế nào mà phong bì chỉ có 3.000?

Chạy như tao mấy thằng làm được? chạy cở như tao không xứng đáng anh hùng thì là gì? thành tích đ. gì…vớ vẫn…bọn bây không thấy tao đã đuổi con bé “không biết làm việc kia”…liệu thần hồn…

Thời nào làm quan mà không vậy?

Họ đã đi vào lịch sử, họ trở thành những người nổi tiếng, họ là người của công chúng. Không ai có thể che được mắt nhân dân, không ai làm méo được lịch sử, cuối cùng nhân dân là người phán xét…“tiếng lành đồn xa, tiếng xấu còn đồn xa hơn…”

Ngao ngán, thất vọng, nhìn thấy cán bộ mà bưa!

Mãn ơi, Hoàng Trọng Phu một thời cũng đã là “danh gia vọng tộc”.

Hy vọng nghị quyết TW4 sẽ lấy lại lòng tin của dân, củng cố bộ máy của Đảng, Nhà nước ngày càng tốt hơn, cán bộ làm việc đúng nghĩa là những công bộc của nhân dân.

Ông Trương Tấn Sang nói:

“Trước đây chỉ một con sâu làm rầu nồi canh, nay thì nhiều con sâu lắm. Nghe mà thấy xấu hổ, không nhẽ cứ để hoài như vậy. Mai kia người ta nói một bầy sâu, tất cả là sâu hết thì đâu có được. Một con sâu đã nguy hiểm rồi, một bầy sâu là ‘chết’ cái đất nước này”./.

————————————–

Thêm nhiều bằng chứng nguyên bí thư tỉnh ủy khai man thành tích!

Thứ Năm, NLĐ 21/03/2013 23:13

Ông Hồ Xuân Mãn được cho là gan dạ, dũng cảm; ngoài ra chẳng có đặc điểm nổi bật, thành tích nào đáng để nhớ

Trong lúc vụ nguyên bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế Hồ Xuân Mãn bị tố khai gian để được phong tặng danh hiệu Anh hùng  Lực lượng Vũ trang Nhân dân đang được Ủy ban Kiểm tra Trung ương và Tỉnh ủy tiến hành làm rõ thì khi tiếp xúc với phóng viên Báo Người Lao Động, rất nhiều người từng là cán bộ lãnh đạo ở xã Phong An, huyện Phong Điền, tỉnh Thừa Thiên – Huế khẳng định ông Mãn gian dối.

Có tham gia 2 trận đánh

Ông Thái Bình Dương (66 tuổi), nguyên bí thư Đảng ủy xã Phong An từ năm 1968-1969, chánh Văn phòng Huyện ủy Phong Điền từ năm 1970-1975, hiện là Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Phú Hòa – TP Huế, cho biết ông và ông Hồ Xuân Mãn là người cùng quê ở thôn Phò Ninh, xã Phong An, nhà gần nhau và đã cùng sống, chiến đấu với nhau nhiều năm trong chiến tranh nên ông biết rất rõ về ông Mãn.

“Tháng 5-1965, tôi là bí thư xã đoàn Phong An. Lúc này, ông Hồ Xuân Mãn đang ở nhà đi học, đến năm 1967 mới thoát ly theo kháng chiến” – ông Dương kể và khẳng định từ tháng 2-1968 đến tháng 9-1969, ông là bí thư Đảng ủy, chính trị viên xã đội Phong An nên biết rất rõ trong thời gian này có những trận đánh nào xảy ra trên địa bàn và không thấy ông Mãn tham gia kháng chiến tại xã Phong An. Trong thời gian này, vì chưa phải là đảng viên nên ông Mãn không thể được giao chức vụ xã đội trưởng Phong An.

Rất nhiều người từng là lãnh đạo xã Phong An trong thời chiến tranh tố cáo rằng ông Hồ Xuân Mãn đã khai man thành tích

Theo ông Dương, sau khi thoát ly lên rừng kháng chiến, ông Mãn được đưa ra Bắc học tập, công tác đến đầu năm 1971 mới về lại xã Phong An chiến đấu. Sau thời gian làm cần vụ cho bí thư Huyện ủy Phong Điền, ông Mãn trở lại Huyện đội Phong Điền và sau đó được điều trở lại xã Phong An tăng cường chiến đấu.

“Ông Mãn gan dạ, dũng cảm; ngoài ra chẳng có đặc điểm nổi bật, thành tích nào đáng để nhớ” – ông Dương nhận xét và nói ghi nhận có 2 trận đánh có ông Mãn tham gia.

Trận đầu tiên diễn ra vào năm 1972, ở đám giỗ tại nhà ông Hồ Sưa, diệt được tên ấp trưởng Hoàng Sớm. Huyện ủy Phong Điền lúc đó đã nghiêm khắc phê bình và đánh giá đây là một trận đánh ảnh hưởng không tốt về chính trị, dân vận vì thiếu thận trọng, gây tổn thất dân thường và 2 cơ sở của ta.

Trận thứ hai vào tháng 12-1974, diệt tên Le là trung đội trưởng địa phương quân. Trận này có 3 người tham gia, do Trần Văn Minh làm đội trưởng, ông Mãn là đội phó và chỉ diệt được 11 tên chứ không phải 27 tên.

Không tham gia diệt chuyên gia quật hầm

Ông Hoàng Phước Sum, nguyên phó Ban An ninh huyện Phong Điền từ năm 1970-1975, kể: Cuối tháng 8-1969, ông ra Quảng Bình học lớp an ninh do Bộ Công an tổ chức. Ông Sum học lớp C8, còn ông Mãn học lớp C4. Đến khoảng đầu năm 1971, ông Mãn hồi hương, tham gia kháng chiến.

Ông Tạ Hồng Quang, nguyên du kích xã Phong Sơn, huyện Phong Điền, khẳng định việc tiêu diệt Nguyễn Công Đảng (chuyên gia quật hầm) mà ông Mãn cho rằng mình là người có công thì do chính ông cùng ông Phạm Dương và ông Trương Văn Thành (đã hy sinh) thực hiện.

“Khi đó, 3 chúng tôi xuống hầm trú ẩn sau khi gài mìn quanh. Tên Đảng cùng 3 tên lính khác khi đi lùng sục dấu vết Việt cộng đã bị trúng mìn nên chết tại chỗ. Nghe mìn nổ, chúng tôi mở nắp hầm lên và lấy được bảng tên của Đảng còn dính ở tay áo”.

Quy trình đều đúng và đầy đủ hồ sơ

Ngày 21-3, đại tá Nguyễn Việt Dũng, Chính ủy Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Thừa Thiên – Huế, cho biết đơn vị này đã rà soát lại các quy trình mà đơn vị đã xác nhận trước khi hồ sơ của ông Hồ Xuân Mãn gửi lên cấp trên đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang Nhân dân. Toàn bộ quy trình đều đúng và đầy đủ hồ sơ với các huân, huy chương, bằng khen và chữ ký xác nhận của những cán bộ từng tham gia chiến đấu.
Cũng theo ông Dũng, hiện đơn vị chưa nhận được văn bản của Bộ Quốc phòng yêu cầu báo cáo sự việc.
Bài và ảnh: QUANG NHẬT

Vụ “anh hùng khai man thành tích”: Xem xét hủy bỏ danh hiệu anh hùng

(Dân trí) – Ngày 2/1, Đoàn Ủy ban Kiểm tra Trung ương đến Tỉnh ủy TT-Huế làm việc với các cựu chiến binh đã tố cáo ông Hồ Xuân Mãn, nguyên Bí thư tỉnh ủy TT-Huế, khai man thành tích để được phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân (AHLLVTND).Ủy ban Kiểm tra Trung ương thừa ủy quyền của Ban Bí thư đến làm việc với các cựu chiến binh đứng tên ký đơn tố cáo ông Hồ Xuân Mãn. Ông Lê Hồng Liêm, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Trung ương là Trưởng đoàn kiểm tra đã thông báo kết luận của Ban Bí thư về việc xử lý vụ ông Mãn.

Theo đó, trong 17 thành tích mà các cựu chiến binh tố cáo ông Mãn khai man như diệt nhiều địch, bắn máy bay, diệt xe tăng… qua thẩm tra, xác minh, đối chiếu, Ban Kiểm tra Trung ương nhận định đại đa số các cựu chiến binh tố cáo đúng. Rất nhiều “thành tích” do ông Mãn khai khống. Ông Mãn chỉ  khai đúng 2 thành tích, nhưng trong đó lại có 1 thành tích gây hậu quả thiệt hại nặng nề về người (diệt địch nhưng diệt nhầm luôn nhiều người của ta).

Ban Bí thư chỉ đạo Ban Thi đua – Khen thưởng Trung ương báo cáo cho các cơ quan chức năng xem xét hủy bỏ quyết định phong tặng danh hiệu AHLLVTND của ông Mãn. Đồng thời thu hồi các hiện vật, tiền thưởng và những gì liên quan đến danh hiệu này đã được trao cho ông Mãn.

Bên cạnh đó, chỉ đạo kiểm điểm tập thể, cá nhân liên quan đến việc xét danh hiệu AHLLVTND của ông Mãn. Thực tế cho thấy nhiều nơi chỉ dựa vào xác nhận của văn phòng Tỉnh ủy TT-Huế thời kỳ ông Mãn làm hồ sơ phong tặng danh hiệu AHLLVTND mà không đi thẩm tra nên đã xảy ra sai sót như trên. Hiện Ban Bí thư chưa xem xét kỷ luật đối với ông Mãn do ông bị bệnh hiểm nghèo (căn cứ theo kết luận Hội đồng chuyên môn Bệnh viện sức khỏe miền Trung và quy định xử lý đảng viên vi phạm).

Đại Dương

Lòng tham và sự trả giá

Nguyễn Duy Xuân

Thứ ba ngày 28 tháng 10 năm 2014 9:24 PM

Cuối cùng thì vụ “anh hùng khai man” lùm xùm dư luận bấy lâu nay cũng đến hồi kết. Ngày 24/10/2014, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã ký Quyết định số 2721/QĐ-CTN về việc hủy bỏ Quyết định phong tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân đối với ông Hồ Xuân Mãn, cựu bí thư tỉnh ủy Thừa Thiên – Huế.
Theo kết luận của Ủy ban Kiểm tra Trung ương hồi đầu năm nay: Trong 17 thành tích mà ông Mãn báo cáo để nhận danh hiệu anh hùng, chỉ có 2 thành tích đúng, 8 thành tích là khai man, 3 thành tích chỉ với vai trò người tham gia phối hợp chứ không thể là người chỉ huy. Ngoài ra, có 4 thành tích khác của ông Mãn không đủ cơ sở xác định.
Tại sao với bản thành tích có đến 15/17 nội dung man khai, ngụy tạo như vậy mà ông Mãn vẫn lọt qua các cửa ải xét tặng danh hiệu cao quí vốn rất nghiêm ngặt về qui trình này? Tại sao với những “thành tích” lẫy lừng như bản tự khai (Tham gia chiến dịch Mậu Thân 1968, tấn công TP Huế và dẫn đường cho Quân đoàn 2 tấn công từ phía bắc vào giải phóng Huế tháng 3-1975. Từ năm 1969 đến ngày 26-3-1975 tổ chức đánh gần 100 trận, tiêu diệt 150 tên địch, phá hủy một máy bay và 37 xe quân sự, phá tan chiến dịch Phượng Hoàng, diệt ác ôn Nguyễn Công Đảng ở xã Phong Sơn…) mà phải đợi đến 30 năm sau ông Mãn mới làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu anh hùng?
Không khó để nhận ra cái sự khôn khéo của ông Mãn: thời điểm làm hồ sơ xét tặng, ông đương chức Bí thư tỉnh ủy. Ông đã tính kĩ cho nước cờ “án binh bất động” này. Bây giờ với bản “thành tích” chói lọi cộng với quyền uy của người đứng đầu tỉnh, ai dám phản đối danh hiệu anh hùng lực lượng vũ trang dành cho ông?
Nhưng ông Mãn chỉ có thể làm cái chuyện “cả vú lấp miệng em” đối với tập thể lãnh đạo dưới quyền để rồi “ép” họ  kí giấy xác nhận bản thành tích và đề nghị xét tặng danh hiệu anh hùng cho ông còn với nhân dân ông không thể lấy tay che mặt trời được. Nhân dân ở đây trước hết là những cựu chiến binh, đã từng vào sinh ra tử nay bị ông cướp công, lường gạt. Bất chấp tính mạng bị đe dọa, họ đã chiến đấu kiên cường như ngày nào trên chiến trường đối mặt với kẻ thù để giành lại sự thật, vạch trần cái xấu, bảo vệ sự trong sáng của một danh hiệu cao quí của nhà nước ta.
Từ vụ việc của ông Mãn, có thể thấy đã xuất hiện một dạng tham nhũng mới: tham nhũng danh hiệu. Loại tham nhũng này thậm chí còn nguy hiểm hơn cả tham nhũng vật chất, tiền bạc. Nó làm băng hoại những giá trị tinh thần và đạo đức xã hội. Do đó vụ này không đơn giản chỉ là việc tước danh hiệu anh hùng đối với ông Mãn.
Phải nhận diện những kẻ tham nhũng và tiếp tay cho tham nhũng danh hiệu và mức độ gây hại đối với xã hội mà loại hình tham nhũng này gây ra.
Bản thân ông Mãn đã không dưới hai lần tham nhũng danh hiệu. Đầu tiên là danh hiệu cá nhân điển hình tiên tiến toàn quốc về học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh mà ông được tôn vinh đầu năm 2010. Tám tháng sau ông trở thành anh hùng. Có lẽ trong hàng ngũ cán bộ cao cấp – bí thư tỉnh ủy cả nước thì ông là người duy nhất gặt hái cả hai danh hiệu cao quí này.
Vì sao ông Mãn dễ dàng được vinh danh như vậy? Câu hỏi này sẽ không được đặt ra nếu như ông xứng đáng là anh hùng. Nhưng thực tế lại không phải thế. Ông Mãn không chỉ khai man thành tích trong kháng chiến mà ngay cả sau này, khi đương chức, ông cũng đã lắm điều tiếng trong dư luận ở địa phương rồi.
Nhưng một mình ông Mãn dù quyền cao chức trọng vẫn không thể tham nhũng danh hiệu được. Tiếp tay cho ông còn có nhiều người khác. Bởi qui trình xét tặng rất nghiêm ngặt, phải qua nhiều khâu, nhiều người, nhiều cấp. Nhưng cái qui trình tưởng như nghiêm ngặt ấy té ra vẫn có kẽ hở. Một ông chánh văn phòng Tỉnh ủy đương nhiệm (dưới quyền ông Mãn) lại có thể kí xác nhận vào bản thành tích thời đánh Mỹ xa lắc xa lư của ông Mãn mà ông ta không phải là người trong cuộc?
Hồ sơ đề nghị phong tăng danh hiệu anh hùng của ông Mãn nhìn bề ngoài có vẻ rất bài bản, đúng qui trình: có đầy đủ con dấu và sự xác nhận của các cấp chính quyền nhưng lại thiếu một sự xác nhận hết sức quan trọng. Đó là nhân dân, là đồng đội thời đánh Mỹ cùng chứng kiến những “thành tích” của ông Mãn. Nếu lúc bấy giờ, họ tôn trọng dân, tôn trọng những người bạn chiến đấu của ông Mãn mà tham khảo ý kiến thì chắc chắn không xảy ra chuyện lùm xùm này. Nhưng, ở đời làm gì có “nếu”, bởi có “nếu” thì ông Mãn đã không là anh hùng!
Chuyện “anh hùng khai man” của ông Mãn làm tôi nhớ đến một câu chuyện khác mà cái sự bi hài cũng không kém. Số là ở cơ quan nọ có vị lãnh đạo đang tính giật cái danh hiệu Nhà giáo ưu tú để đời trước khi mãn nhiệm kì. Nhưng ngặt nỗi, thành tích của ông bết quá, lấy gì mà đắp cho đủ tiêu chuẩn. Biết là bầu chọn một cách minh bạch thì ông chả được mấy phiếu ngoài đám đệ tử, cho nên một chiến dịch vận động ngầm cùng các chiêu trò được ráo riết thực hiện. Ông cũng đưa ra danh sách hai người để bầu bán cho có vẻ dân chủ nhưng thiên hạ biết tỏng vị kia góp mặt chỉ để làm chim mồi dồn phiếu cho ông. Nhưng oái ăm thay, dù đã tìm mọi phương cách, số phiếu bầu cho ông vẫn không quá bán. Ông bèn chỉ đạo cấp dưới thay biên bản, sửa số liệu; đơn vị nào không tổ chức họp thì lập biên bản khống. Hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú của ông đầy đủ, sạch sẽ, đẹp như mơ kèm theo bản thành tích tự khai với không ít nội dung thêu dệt. Việc phong tặng danh hiệu Nhà giáo ưu tú cho ông chỉ còn chờ đợi về mặt thời gian. Nhưng may cho cơ quan mà cũng là cho cả ngành, cấp trên đã tỉnh táo nhận ra “trò hề” sau khi có đơn khiếu nại của quần chúng. Thật hú vía, vì chỉ sau đó vài tháng, ông bị “trảm” bởi tội tham nhũng và lạm dụng chức quyền.
Cách đây vài năm, báo chí cũng đã từng lên tiếng về việc phong tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua toàn quốc hằng năm. Nhìn vào danh sách những tấm gương tiêu biểu của đất nước, chỉ thấy hình bóng các quan chức. Người lao động trực tiếp nơi hầm than, xưởng máy hay trên đồng ruộng dường như không có cơ may với tới những danh hiệu cao quí này.
Tục ngữ có câu: “Trăm năm bia đá thì mòn/Ngàn năm bia miệng hãy còn trơ trơ.” Những người như ông Mãn vì tham lam vô độ mà mất hết cả liêm sỉ, chỉ tổ làm bia miệng cho người đời khinh bỉ mà thôi!
23-10-2014
Nguyễn Duy Xuân

 

———————————————-

2.Nhà giáo Tạ Xuân Tề: Một đời gắn bó với sự nghiệp trồng người

Nhà giáo Tạ Xuân Tề là một trong số ít những người thuộc ngành GD&ĐT và là người duy nhất trong khoảng 40 trường của Bộ Công nghiệp được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Thật khó khi viết về nhà giáo, Hiệu trưởng, Anh hùng lao động Tạ Xuân Tề. Bởi lẽ, khi đã được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng, thì đã có biết bao thành tích, nên không biết chọn lựa thành tích nào để viết…

Lớn lên từ chất lính
Sinh ra và lớn lên trên quê hương tỉnh Thái Bình. Một vùng quê hiếu học, giàu truyền thống cách mạng. Trong lý lịch, anh sinh năm 1951 (theo người vợ đã cùng học phổ thông, thì anh sinh 1952, vì muốn đi bộ đội chống Mỹ nên phải tăng tuổi). Do hoàn cảnh gia đình, đang học phổ thông thì tháng 8/1967, anh chuyển sang Trường Công nhân Kỹ thuật I – Hà Bắc thuộc Bộ Cơ khí và Luyện kim vào tháng 02/1969. Nghe theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, tuy đang học nghề, anh đã lên đường tham gia chống Mỹ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Trong quân đội, anh công tác tại Phòng chính trị – Bộ Tham mưu Chiến trường B2. Anh là người đã tham gia chiến dịch Mùa Xuân năm 1975 và đã có mặt tại Sài Gòn ngày giải phóng. Tháng 4/1976, anh chuyển ngành về công tác tại Trường Công nhân Kỹ thuật 4 (CNKT4) – Bộ Cơ khí và Luyện kim, nay là Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM thuộc Bộ Công nghiệp.
Suốt 15 năm công tác tại Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM, anh đã kinh qua các công tác như: Cán bộ thi đua chuyên trách; làm Trưởng Ban đời sống; Chánh văn phòng và đến tháng 3/1991 giữ chức Phó hiệu trưởng Trường CNKT4. Anh còn được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Công đoàn Trường từ tháng 02/1980 đến tháng 5/1991. Đến tháng 4/1996, TS Tạ Xuân Tề đã vinh dự được Bộ Công nghiệp tin tưởng giao phó chức vụ hiệu trưởng. Từ đó, đã mở ra một bước ngoặt lớn cho cả Trường ĐH Công nghiệp lẫn bản thân TS Tạ Xuân Tề. Từ một sỹ quan quân đội, một nhà giáo, TS Tạ Xuân Tề không chỉ được biết đến với vai trò là một người thầy, một “doanh nhân” thành công trong lĩnh vực kinh tế tri thức mà còn được xem là một người tâm huyết hết mình với sự nghiệp trồng người. Và, những phần thưởng mà TS Tạ Xuân Tề đã được nhận, tôi đếm gồm 4 huân chương, 3 huy chương, 7 bằng khen các loại và nhiều danh hiệu như: Anh hùng, Chiến sĩ thi đua toàn quốc… đã phần nào minh chứng cho những tâm huyết của ông trong sự nghiệp giáo dục đào tạo.
Trao đổi với chúng tôi, thầy Tề, tâm niệm: “Nếu chỉ đào tạo để cấp bằng cho sinh viên thì sự sống còn của nhà trường sẽ bị đe dọa. Điều cần phải làm bằng được chính là tạo được việc làm cho sinh viên sau khi ra trường. Vì thế, chất lượng đào tạo được đặt lên vị trí số 1 trong suốt quá trình phát triển của trường”. Suốt nhiều năm qua, những suy nghĩ đó đã được hiện thực hóa sinh động bằng việc tiên phong đổi mới chương trình đào tạo, lấy sinh viên làm trung tâm trong phương pháp giảng dạy. “Tay nghề, năng lực của sinh viên sau khi ra trường có đáp ứng được nhu cầu công việc tại các doanh nghiệp hay không” là một điều ông luôn trăn trở và không ngừng nỗ lực vì điều đó. Để thực hiện tiêu chí này, Nhà trường đã triển khai các biện pháp cụ thể như: tăng cường công tác kiểm tra nội dung chương trình đào tạo, hồ sơ giảng dạy của giáo viên; tổ chức các hoạt động dự giờ, hội giảng; chống gian lận trong thi cử, từ đó đã tác động tích cực đến quá trình học tập của học sinh, sinh viên; mạnh dạn thực hiện giao quyền cho các khoa với chức năng là đơn vị quản lý toàn diện; ban hành các nội qui, qui chế nghiệp vụ, đảm bảo chặt chẽ việc xét lên lớp, tốt nghiệp…

Bình dân và mộc mạc, từ tốn và khiêm nhường là phong cách của TS Tạ Xuân Tề. Đối với hơn 2.000 CB, GV Trường ĐH Công nghiệp, ông là tấm gương mẫu mực về đạo làm thầy và là một “ông chủ” rất quan tâm đến đời sống của nhân viên. Đối với hơn 100 ngàn sinh viên đang theo học tại các cơ sở đào tạo của trường, ông là một người thầy nghiêm khắc nhưng cũng thật đáng kính và thương học trò. Đối với xã hội, ông là một nhà giáo, một doanh nhân có cách làm sáng tạo, thiết thực trong phương pháp đào tạo sinh viên, tổ chức hoạt động của trường, từ đó đã cung ứng cho xã hội một nguồn nhân lực chất lượng cao. Suốt nhiều năm qua, tỷ lệ sinh viên ra trường của Đại học Công nghiệp có việc làm đạt trên 95%. Đó là một con số mà nhiều địa chỉ đào tạo nhân lực đang mơ ước nhưng để đạt được cần có một hướng đi đúng và cần rất nhiều nỗ lực, sáng tạo.
Xây dựng thành công thương hiệu đại học
Một trong những yếu tố mang lại sự thành công nổi trội của Đại học Công nghiệp trong những năm qua chính là việc nhà trường gắn đào tạo với nhu cầu thực tiễn của xã hội và doanh nghiệp. Đến từng doanh nghiệp để tìm hiểu nhu cầu, đối thoại với doanh nghiệp để tìm hiểu tiêu chuẩn tuyển dụng của doanh nghiệp, liên kết đào tạo với doanh nghiệp, tổ chức các diễn đàn về cơ hội thực tập và cơ hội nghề nghiệp để sinh viên và doanh nghiệp gặp nhau… là những hoạt động thường xuyên diễn ra tại trường đại học này. Đặc biệt, thầy Tề cũng chỉ đạo tổ chức nhiều cuộc hội thảo, tọa đàm với doanh nghiệp trong và ngoài nước về vấn đề đào tạo và sử dụng nhân lực. Kết quả là nhiều sinh viên khi được đưa về thực tập tại các doanh nghiệp đã chứng tỏ được năng lực vượt trội của mình và được “đặt chỗ” trước sau khi ra trường. Nhiều doanh nghiệp đã tìm đến tận trường để “đặt hàng” ngay từ khi sinh viên chưa tốt nghiệp.

Tiếng lành đồn xa, Trường Đại học Công nghiệp đã được không ít doanh nghiệp ký kết hợp đồng đào tạo và liên kết đào tạo nhân lực. Nhiều hợp đồng liên kết đào tạo với các trường đại học nước ngoài cũng đã được ký kết. Nhiều lượt sinh viên Đại học Công nghiệp đã được gửi đi đào tạo giai đoạn II ở Mỹ, Anh, Malaysia, Singapore, Đài Loan và nhận bằng tốt nghiệp do trường bạn cấp… Sau tất cả những dòng chảy sự kiện đó, chất lượng sinh viên đã được nâng cao lên rất nhiều, uy tín của Trường Đại học Công nghiệp cứ ngày một lan tỏa và niềm tin của xã hội vào một mô hình đào tạo hiện đại, thiết thực. Chia sẻ về vấn đề này, thầy Tề, bộc bạch: “Chúng tôi coi quá trình đào tạo là quan trọng hơn cả. Mỗi con người đều có một tiềm năng. Một khi tiềm năng ấy được phát hiện, chú ý và khích lệ thì con người sẽ phát triển rất tốt. Và nghiên cứu khoa học là một cách để mỗi sinh viên và cả giáo viên của trường bộc lộ và phát huy tiềm năng ấy”. Vậy là, nghiên cứu khoa học đã được xem là một trong những phương pháp chính yếu góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Công nghiệp và chính bản thân ông – TS Tạ Xuân Tề là người đi đầu trong việc khởi xướng và thổi tinh thần say mê nghiên cứu khoa học vào khát vọng lập thân, lập nghiệp của từng giảng viên, sinh viên. Nhờ đó, thời gian qua Trường ĐH Công nghiệp TP.HCM có 3 đề tài cấp Nhà nước được triển khai với tổng kinh phí thực hiện gần 10 tỷ đồng. Trong đó, đề tài “Nghiên cứu và chế tạo hệ thống máy và thiết bị cắt trong, vớt bèo tây, cỏ rác trên kênh rạch” của Th.S Bùi Trung Thành làm chủ nhiệm được thực hiện tại Trung tâm Máy và Thiết bị công nghiệp của trường, đã hoàn thành và chạy thử nghiệm ở Tây Ninh có hiệu quả cao.

Hiện tại, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM là một trong những cơ sở đào tạo nghề lớn nhất Việt Nam từ dạy nghề đến đại học và sau đại học. Cơ sở chính của Trường đã được chuẩn hoá về xây dựng, trang thiết bị, hệ thống trường học gồm 350 phòng học lý thuyết, 30 xưởng thực hành, 4.000 máy tính, 2.200 đầu sách, 10.000 chỗ ở cho sinh viên. Ngoài ra hệ thống dịch vụ của Trường bao gồm: Nhà ăn, siêu thị, ngân hàng và bưu điện… Đội ngũ giáo viên có 2.000 người, mức lương trung bình đạt gần 6 triệu đồng/ người/ tháng, hơn 60% giáo viên trong Trường đạt trình độ trên đại học. Hiện nay, Nhà Trường đã có trên 100 tiến sĩ và nghiên cứu sinh, hơn 600 thạc sĩ và cao học, có thể đảm nhận tốt việc nâng cao chất lượng đào tạo ở tất cả các ngành học và bậc học. Về hệ thống quản lý, ngay từ năm 1998, Trường Đại học Công nghiệp TP.HCM đã đầu tư hệ thống phần mềm quản lý tin học với 35 modul để quản lý khép kín từ khâu tuyển sinh đến đào tạo, lập thời khoá biểu, đăng ký học phần đến quản lý sinh viên, ký túc xá, thư viện, thi cử, bảng điểm, khen thưởng, kỷ luật… Do đó, chất lượng giáo dục – đào tạo của Trường hoàn toàn được đảm bảo. Chi sẻ về những thành quả này, TS Tạ Xuân Tề, tự hào: “Với một tập thể đoàn kết, tâm huyết, Nhà trường tin tưởng sẽ hoàn thành sứ mệnh cao cả của mình. Trong đó gồm các mục tiêu: Xây dựng Nhà trường trở thành một trung tâm đào tạo đa cấp, đa ngành theo hướng tiên tiến, hiện đại và hội nhập quốc tế, đáp ứng nhu cầu đào tạo nhân lực trình độ cao cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước. Phấn đấu trở thành trường đại học trọng điểm quốc gia; trung tâm nghiên cứu khoa học và công nghệ, có các công trình nghiên cứu khoa học đạt giải quốc gia và quốc tế. Đặc biệt, phấn đấu đến năm 2015 trở thành trường đại học đạt chất lượng đẳng cấp quốc tế”.

Có lẽ những thành quả mà TS Tạ Xuân Tề đã đạt được hôm nay, ngoài sự đoàn kết một lòng của tập thể CB-GV toàn trường, một tầm nhìn xuyên suốt của một tấm gương tận tâm với sự nghiệp giáo dục, phải kể đến sự hỗ trợ và tình yêu thương của người vợ với mái ấm gia đình, khi các con của ông đều học giỏi và thành đạt. Và hôm nay, ông vẫn như con tằm tiếp tục nhả tơ để cống hiến cho sự nghiệp giáo dục, đặc biệt là luôn tận tâm và sống có trách nhiệm với xã hội về những “sản phẩm” đào tạo của mái Trường ĐH Công nghiệp – nơi ông đã, đang và vẫn tiếp tục giữ cương vị của một vị thuyền trưởng tài ba.

T.Thủy 19.06.2011

Link: http://www.ddth.com/showthread.php/660922-Nhà-giáo-Tạ-Xuân-Tề-Một-đời-gắn-bó-với-sự-nghiệp-trồng-người#ixzz2N0h0gIKC

—————————————————

——————–

———————————

TẠ XUÂN TỀ :GIÁ PHẢI TRẢ CHO SỰ DỐI TRÁ

March 1, 2013 ·

taxuante-loanluan
Ngày 19-6-2011, trên trang Web của Hiệu trưởng trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh, ông Tạ Xuân Tề có bài: “Nhà giáo Tạ Xuân Tề một đời gắn bó với sự nghiệp trồng người” của tác giả T.Thủy.

Bài báo có đoạn viết: “Nhà giáo Tạ Xuân Tề là một trong số ít người trong ngành GD & ĐT, và là người duy nhất trong 40 trường của Bộ Công nghiệp, được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời đổi mới. Thật khó khi viết về Nhà giáo, Hiệu trưởng, Anh hùng lao động Tạ Xuân Tề. Bởi lẽ, khi đã được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng thì đã có bao nhiêu thành tích, nên không biết chọn lựa thành tích nào để viết…”.

Theo bài báo, Tạ Xuân Tề sinh năm 1952, vì ý chí quyết tâm bảo vệ Tổ quốc đã khai tăng một tuổi để đi bộ đội, nhưng năm 1967, Tề vào học Trường công nhân kỹ thuật 1 Hà Bắc; 1969 nhập ngũ, công tác tại Phòng chính trị Bộ tham mưu Quân giải phóng miền Nam, tháng 4-1976, chuyền ngành sang Trường công nhân kỹ thuật 4, làm cán bộ thi đua, cán bộ đời sống, công đoàn và năm 1996 được đề bạt chức vụ Hiệu phó. Khi trường công nhân kỹ thuật được nâng lên cao đẳng, rồi đại học, Tạ Xuân Tề làm hiệu trưởng và được tuyên dương Anh hùng thời đổi mới…

Với thành tích như vậy, Tạ Xuân Tề, được tặng 4 Huân chương, 3 Huy chương, 7 bằng khen. Bài báo kết luận, Tạ Xuân Tề là một nhà giáo giản dị khiêm tốn, trung thực, đạo đức cao cả, hết lòng vì sự nghiệp trồng người. Tác giả cho rằng “Nhà giáo Anh hùng Tạ Xuân Tề đạt được thành tích trên nhờ sự đoàn kết của tập thể cán bộ, giáo viên toàn trường, và ngoài một tầm nhìn xuyên suốt của một tấm gương tận tâm với sự nghiệp giáo dục, phải kể đến sự hỗ trợ và tình yêu của người vợ với mái ấm gia đình”.

Mấy năm trước, tiếng tăm Trường đại học công nghiệp thành phố Hổ Chí Minh đã nổi như cồn. Cái tên Tạ Xuân Tề gắn với trường Đại học Công nghiệp thành phố HCM như hình với bóng. Bao nhiêu bài báo ca ngợi tấm gương tài, đức Tạ Xuân Tề khó mà thống kê hết.

Như lớp vàng son bóng nhoáng phết lên chiếc ghế tre! Như vầng hào quang bong bóng xà phòng! Lớp sơn đã bung ra, vầng hào quang tắt lụi, phơi bày sự thật Tạ Xuân Tề. Đau đớn thay hai chục năm trời, hàng ngàn sinh viên ngưỡng mộ tôn sùng một thần tượng giả!

Cái thần tượng giả ấy không tự sinh ra, nó được dựng lên bởi phù phép của cả một hệ thống từ dưới lên trên, từ trong ra ngoài, đủ sức che mặt thế gian, đánh lừa thiên hạ. Thần tượng giả ấy mang danh lợi cho quan to, quan bé, và không ít lâu la láo nháo chung quanh.

Bởi thế, người ta chẳng những không ngó ngàng tới những tập đơn tử tố cáo, mà khi thần tượng Tạ Xuân Tề sụp đổ còn có kẻ lao vào chống đỡ. Nhưng đã qua rồi cái thời bịt tai bịt mắt nhân dân, lấy uy quyền, chữ nghĩa, tiền bạc che đậy sự giả trá.

Khi bài báo của T. Thủy vừa đăng, đã nhận được phản hổi của bạn đọc Nathan19: “Cảm ơn bài bồi bút của bác! Chắc trong trường CN4 bác được nâng đỡ lắm he? Riêng về đồng chí TXT này, mình chỉ biết đến một giai thoại lấy tiền công mua một lúc 6 chiếc xe BMW”.

Rồi độc giả Hoàng Khương đặt câu hỏi: “Sao tự nhiên có bài báo này ngay thời điểm nhạy cảm? Thấy cái nickname mới reg có tên trùng với một nhân vật trong Scandal gần đây ?”.

Nhân vật liên quan đến Scandal ấy là Nguyễn Thị Thủy, Phó phòng Tổ chức nhân sự, Trường đại học Công nghiệp thành phồ Hồ Chí Minh.
Bà Nguyễn Thị Xô, vợ ông Tạ Xuân Tề, tâm sự với Hạnh Dung, báo Phụ Nữ: “Nguyễn Thị Thủy gọi tôi là dì ruột. Thủy ở quê không có công ăn việc làm nên tôi đưa Thủy vào nuôi như con, cho học hành, tìm việc làm, gả chồng. Nhưng thật trớ trêu, cháu ruột tôi lại trở thành bồ cùa chồng tôi” .

Một Phó giáo sư-tiến sỹ, bạn thân của Tạ Xuân Tề, nói với tôi: “Một lần mình ăn ở nhà hàng Phố Cổ, Tạ Xuân Tề cũng ăn ở đấy. Tề kéo mình qua bàn Tề, giới thiệu cô cháu gái có khuôn mặt tròn, môi dày, tóc xoăn thưa. Nhìn cử chỉ hai người với nhau, mình thấy không còn là tình cảm chú cháu !”.

Bề ngoài chú cháu, bề trong người tình! Vì tình yêu hay bị ràng buộc bởi tiền tài danh vọng? Những bí mật không thể dấu kín mãi, khi vợ con vừa là nạn nhân vừa là quan tòa cất tiếng nói phẫn uất.

Hãy đọc những dòng trên mạng của Phương Nam, con gái Tạ Xuân Tề: “Có bao giờ bạn chứng kiến cảnh ông Tề đuổi đánh mẹ tôi khi mẹ tôi đang bồng trên tay đứa cháu ngoại 14 tháng tuổi chưa? Có bao giờ bạn chứng kiến cảnh ông Tề đập phá nhà cửa rồi gọi điện thoại khoe với Thị Thủy “Anh đang chống cự quyết liệt với ba con chó ghẻ!?”.

Phương Nam nói với bố: “Bố cùng ứng cử viên hiệu trưởng Nguyễn Xuân Hoàn, em ruột Thị Thủy và vài người cao to, mặt dữ dằn đi răn đe những người công khai khuyên bố. Bổ hỏi làm sao con biết chuyện này ư? Con biết hết! Kể cả chuyện Nguyễn Đình Hưng ngồi quán nhậu oang oang, rằng ông Tề chỉ cần ngồi lại trường thêm hai năm là kiếm 100 tỷ con cũng biết. Bố bảo tao đĩ thì kệ tao ư? Con hỏi, thế bố có cất cái ổ cùa bố vào một nơi kín đáo không?

Hay bố để cái ổ của bố lũng đoạn tổ chức danh tiếng của nhà nước?”.

Chỉ cần “ngồi lại thêm 2 năm là kiếm 100 tỷ đồng!”. Có ngành kinh doanh chân chính nào lời thế không nhỉ? Kinh doanh quyền lực, bẳng cấp trên đầu những sinh viên nghèo! Mỉa mai thay cái gọi là “sự nghiệp trồng người” được tô vẽ, xưng tụng cả ở những nơi linh thiêng như Văn Miếu!

Theo bài báo của tác giả T. Thủy, trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh có 2.000 cán bộ, giảng viên công nhân viên chức, trong đó 60% có trình độ trên đại học, hơn 100 tiến sỹ, 600 thạc sỹ, với hơn 100.000 sinh viên, là nơi có chất lượng đào tạo tốt nhất cả nước, và năm 2015, sẽ đạt đẳng cấp quốc tế.

Cái chất lượng tốt nhất ấy thế nào, hãy đọc những dòng sau đây của một sinh viên: “Trường đại học CN4 thi rớt thì đi thẳng lên phòng chấm điểm nộp 500.000 đồng một môn, nói tên, lớp, môn thi rớt , tự hiểu khỏi nhiều lời!”.

Những tiến sỹ, thạc sỹ giảng viên ở ngôi trường có người Anh hùng Lao động làm hiệu trưởng này được đối xử thế nào, hãy nghe con gái Tạ Xuân Tề nói về uy quyền người cháu, người tình của bố mình: “Bạn có bao giờ nhìn thấy Thị Thủy hạch xách giảng viên trong trường và hỏi, muốn đi dạy hay quét rác chưa?”.

Bộ trưởng Bộ giáo dục đào tạo và những quan chức cao cấp từng về thăm trường đại học , tắm mình trong cờ hoa và những “lời hay ý đep” đã bị lừa hay ngoảnh mặt làm ngơ ?

Nếu không nhờ những bài báo trên mạng xã hội, thì Tạ Xuân Tề mãi mãi là thần tượng, khi Tạ Xuân Tề nghỉ hưu, em trai Nguyễn Thị Thủy là Nguyễn Xuân Hoàn sẽ làm hiệu trưởng, trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh sẽ là của riêng một nhóm lợi ích.

Cách đây không lâu, trong buổi họp đồng hương, tôi gặp vị Phó giáo sư-tiến sĩ đã từng nhận xét về Tạ Xuân Tề và Nguyễn Thị Thủy ở nhà hàng Phố Cổ. Ông nói với tôi :

– Tề phải trả giá đau quá. Bây giờ có nhà mà không được về, phải lang thang trốn tránh.
– Tại sao vậy?
– Tề mất chức, con Thủy quay lại quậy tới nơi! Nó đe sẽ đưa hình ảnh lên mạng!
– Kết cục đen tối quá!?

Vị Phó giáo sư khuyên tôi không nên viết về Tạ Xuân Tề, vì cái giá ông phải quá đắt rồi. Một sự nghiệp, cho dù chỉ như một thứ hàng mã bị tiêu tan, một gia đình bị nát bấy. Nhưng tôi nghĩ đâu phải chuyện riêng Tạ Xuân Tề?

Một bộ phận không nhỏ thoái hóa biến chất đang ngự trị từ trên xuống dưới, từ chốn thâm cung ra ngõ ngách đời thường, hiện diện như trời sinh ra, tồn tại bằng giả dối, nếu không thức tỉnh nhất định sẽ có ngày họ phải trà giá, có khi còn đắt hơn Tạ Xuân Tề.

Theo Minh Diện
—————————————————–

Chào các bạn,

Có bao giờ bạn chứng kiến cảnh ông Tề đuổi đánh mẹ tôi trong tình trạng mẹ tôi đang bế một đứa bé 14 tháng (cháu ngoại) trên tay chưa? Ông Tề rượt mẹ tôi và cháu chạy vòng quanh bàn ăn, rồi dồn vào trong nhà tắm và trợn mắt lên đe dọa như muốn nuốt sống mẹ tôi.

Có bao giờ bạn chứng kiến cảnh ông Tề vừa đập phá nhà cửa, vừa nhắn tin khoe thị Thủy là đã tát được mẹ tôi vài cái chưa? Và khoe với thị Thủy là: “Anh đang chống cự quyết liệt với ba con chó ghẻ” (ám chỉ mẹ và 2 chị em tôi)

Có bao giờ bạn chứng kiến cảnh ông Tề vừa khóc vừa dọa với 2 con gái tại văn phòng: “tao sẽ đi Thanh Hóa ở luôn cho mẹ con mày biết tay”, nhưng 1 phút sau, quay lưng lại thì nhắn tin cho thị Thủy hỏi: “anh xin phép em, chiều nay anh đi Thanh Hóa có được không”

Bạn có bao giờ bước vào văn phòng rất hiện đại và lộng lẫy của hiệu trưởng, nhưng ngay trong phòng HT lại có một phòng được gọi là: “phòng chúng mình” nơi mà quần áo, tư trang và những đồ cá nhân nhất của thị Thủy được để vung vãi khắp nơi chưa? Trong phòng tắm của HT thì cũng có đầy đủ mỹ phẩm và trang sức của thị Thủy, nếu bạn là con cua HT, bạn sẽ thế nào khi nhìn thấy?

Có bao giờ bạn nhìn thấy thị Thủy hạch sách giảng viên trong trường và hỏi là: “Muốn đi dạy hay quét rác chưa?”

Có bao giờ bạn thấy thị Thủy xé giấy tờ hợp đồng quan trọng ngay trước mặt bạn rồi bảo chưa nhận được chưa …

Giả sử bạn thấy cảnh bố bạn dắt thị Thủy vào văn phòng làm việc, lấy cớ trực trường rồi ngủ luôn với nhau ngay giữa trường đến sáng hôm sau. Xung quanh là tầng tầng lớp lớp bảo vệ nên nếu mẹ bạn có xông vào để bắt gặp ngay giữa đêm thì họ vẫn tẩu thoát được.

Cho dù Bạn là người nhiều trải nghiệm … nhưng tôi khẳng định, bạn không thể biết được bản chất thật của ông Tề

Chúng tôi làm sao vượt qua được sóng gió khi một bên giàu có với tầng tầng lớp lớp ô dù bảo vệ

Chúng tôi chỉ làm theo ý nguyện của mẹ tôi, người đàn bà đang bị ông Tề cô lập mà thôi.

Đây là câu chuyện thật 100% của gia đình tôi.

Bố tôi, Tạ Xuân Tề, anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, hiện là Hiệu Trưởng trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh.

Trụ sở chính: 12 Nguyễn Văn Bảo, Gò Vấp, TP Hồ Chí Minh

Mẹ tôi, Nguyễn thị Xô, làm ở Viện Quy Hoạch Khảo Sát Thủy Lợi Nam Bộ từ sau giải phòng, hiện đã nghỉ hưu từ năm 2009.

Phương Nam

PS: Xin các bạn để lời bình luận ở đây. Xin không gọi điện thoại. Xin KHÔNG gửi private msg. Nhà chúng tôi đã im lặng chịu đựng ĐỦ. Bây giờ, mẹ tôi mong cả xã hội biết đến. Mọi bình luận xin chia sẻ ở FB hoặc yahoo blog plus và tôi xin được công khai bình luận.

Xin giúp mẹ tôi nhân rộng người biết. Xin chân thành cảm ơn.

Thư gửi chị Hạnh Dung, báo Phụ Nữ, mục Tâm Sự

Người gửi: Nguyễn thị Xô

Địa chủ cư trú: 2Bis Hoàng Hoa Thám, P12, Quận Tân Bình, TP Hồ Chí Minh

Tôi đọc báo phụ nữ số ra thứ hai ngày 23/5/2011, mục “NỖI ĐAU CHIA ĐÔI” Tôi thật khâm phục người em Gái trong bài “Bị anh rể … yêu”; khi mà em đến ở nhà anh chị để học đại học, nhưng lại bị anh rể… yêu. Nghĩ lại Tôi thấy mình thật là vô phúc và bất hạnh, khi nuôi một đứa cháu ruột con chị Gái cả của Tôi.

Cháu ruột tôi là Nguyễn Thị Thủy hiện nay đang làm phó phòng tổ chức nhân sự cùa trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh. Còn chồng tôi, Tạ Xuân Tề, là hiệu trưởng của trường Đại học Công Nghiệp thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày cháu từ quê vào thành phố, tôi cho cháu ở chung nhà và hết lòng chăm lo dạy bảo, coi cháu như con, rồi lo công ăn việc làm ở xí nghiệp may Việt Tiến. Mấy năm sau thì lấy chồng và Tôi làm lễ vu quy cho cháu ngay tại nhà mình mà chẳng hề nghĩ kiêng khem gì cả. Sau đó cháu về nhà chồng và sinh một bé gái. Cháu Tôi được chồng cho đi học trung cấp kế toán, học xong Tôi lại nhờ chồng Tôi xin việc làm, nhưng cứ làm chỗ này được vài bữa thì nó lại bỏ, Thấy tội nghiệp cuối cùng Tôi lại phải năn nỉ chồng Tôi cho vào; làm tại cơ quan của chồng Tôi là trường Đại học Công Nghiệp Tp. HCM hiện nay.

Chồng Tôi là một quân nhân thời chống mỹ, giải phóng miền Nam thì xuất ngũ và đi học, học xong ở lại trường và tiếp tục học lên. Nhờ sự cần cù chịu khó nên sau đó thì lên làm Hiệu trưởng Trường Trung Cấp Công Nghiệp 4, rồi trường phấn đấu thành trường cao đẳng, rồi trường lại được nâng cấp lên một Trường Đại học Công nghiệp thành phố Hồ Chí Minh bây giờ.

Từ khi cháu Tôi vào làm việc tại trường thì hai chú cháu bắt đầu nảy sinh tình cảm, cháu Tôi học hành thì chậm người ta thường gọi nó là “Văn hóa lùn” vì tham tiền bạc và địa vị mà quên hết mình làm việc này là trái với luân thường đạo lý làm người, nhất là người cưu mang mình lại là Dì ruột, là ngang hàng với Mẹ của mình, còn chồng của Dì ngang hàng với Bố mình, nghĩa là cha của mình. Vậy mà hai chú cháu cứ lao vào như con thiêu thân, bên ngoài thì che bằng một cái vỏ bọc “Chú Cháu” đến khi lên gường thì anh anh, em em ngọt như mía lùi. Hàng ngày làm việc bên nhau mà còn nhắn mấy trang tin nhắn thật mùi mẫn, có lẽ gái 18 trai 20 cũng phải gọi bằng CỤ.

Hàng ngày chồng Tôi rất chăm chỉ đưa đón người tình là cháu ruột của Tôi, đi đâu không rời nhau nửa bước. Bất cứ đi công tác ở đâu là chồng Tôi cũng mang theo để phục vụ bất cứ lúc nào. Tôi vì quá tin chồng và cũng chẳng bao giờ nghĩ cháu mình nó lại lộn tôm lộn tép như vậy.

Tôi vẫn đi làm hết giờ thì về lo cho gia đình chồng con. Vì tin chồng cho nên cuộc tình vụng trộm này đến nay đã được tròn mười năm. Hai chú cháu còn công nhận đã ăn ngủ với nhau đến nay tròn mười năm và tự nhận với nhau là vợ chồng, thế mới kinh khủng chứ?, rồi còn hứa hẹn với nhau về hưu sẽ lấy nhau và sẽ có con.

Thật là khủng khiếp nếu như Tôi không phát hiện ra, để rồi lúc hai người lấy nhau và đẩy Tôi ra ngoài mà không một lý do. Vì mối quan hệ đó mà chồng Tôi không ngại đưa cháu Tôi một nhân viên chẳng có tý năng lực nào mà lại lên chức phó phòng tổ chức, lại còn vào đảng và khóa đại hội vừa qua còn được vào cấp ủy nữa chứ. Cháu Tôi còn ma giáo đến nỗi chỉ đạo chồng Tôi để đưa em trai nó từ một người học đại học tại chức ở ĐH Bách khoa lên làm phó hiệu trưởng rồi đến bây giờ thì chuẩn bị lên làm hiệu trưởng thay chồng tôi sắp nghi hưu.

Đặc biệt thằng em trai của cháu tôi, Nguyễn Xuân Hoàn, hiện là quyền Hiệu Trưởng trường Đại Học Công Nghiệp TP Hồ Chí Minh, đã có chuẩn bị quyết định lên làm Hiệu Trưởng vào tháng 11/2011, biết chuyện chị gái nó ngoại tình với Chú, nhưng nó vẫn làm ngơ đứng ngoài chỉ đạo chị nó sát sao để chú nó sắp đặt chức vụ tương lai cho nó.

Thật là bất hạnh, Tôi như người mất hồn, mất hết cả niềm tin vào cuộc sống, may mà Tôi còn có ba đứa con, nó biết thương Tôi và chia sẻ với Tôi.

Mẹ của cháu ruột Tôi thì vì tham tiền bạc nên cũng theo con mà bỏ rơi em. Bây giờ tôi mất chồng, mất tình chị em máu mủ ruột già, gia đình Tôi tan nát chỉ vì đứa cháu ruột lăng loàn của tôi. Còn gia đình của người chị ruột tôi, thì đã được cháu tôi sắp xếp anh trai ruột, Nguyễn Anh Hùng, làm giám đốc nhà máy nước uống để toàn quyền bỏ nước vào trường. Chị dâu, Nguyễn thị Hằng, không bằng cấp thì cháu tôi cho làm phó giám đốc nhà ăn, còn em ruột của nó, Nguyễn Xuân Hoàn, thì cho làm phó hiệu trưởng; bây giờ đã làm quyền hiệu trưởng và chuẩn bị chính thức lên hiệu trưởng trong vài tháng tới. Vợ của tân hiệu trưởng tương lai, Đỗ Minh Hiếu, thì chuẩn bị lên làm trưởng khoa ngoại ngữ. Thật là một mưu đồ sắp xếp tài tình và hoàn hảo.

Xem thêm ở đây (do giới hạn chỉ 10000 ký tự)
aga.vn/news/vn/detail/1309225039-Chuyen-lang-loan-cua-Hieu-truong-DH-Cong-Nghiep-TP-HCM.ag.

———————————————-

3. Đôi điều về bà Ba Sương

Tôi cảm thấy bà đại diện cho một thế hệ những người đã dấn thân là đi hết mình, chấp nhận mọi khó khăn, thách thức, thậm chí là sự hy sinh cho những điều mà họ đã tin.Tôi đã đắn đo mãi, định sẽ viết một cái gì đó về bà Ba Sương, ngay sau lần đầu tiên gặp bà, hay ngay sau lần ngồi cùng ô tô với bà từ Sài Gòn về Cần Thơ… Sở dĩ tôi không viết vì không dám chắc sẽ khắc họa đúng và đủ về người phụ nữ đặc biệt này. Về bà, có quá nhiều điều để viết và để nghĩ suy.  

Những ngày cận Tết Nhâm Thìn, khi tin (tạm gọi là vui) đến với bà, vụ án được đình chỉ, thì tôi cũng đã định viết đôi dòng nhưng rồi lại không viết nữa, vẫn bởi những lý do trên.  Nhưng bắt đầu từ hôm qua, khi đọc bản thảo thiên phóng sự của nhà báo Hoàng Anh Sướng (Nhà tù Phú quốc- “Địa ngục trần gian” với những người cộng sản), tôi lại bị rung động mạnh bởi những người cộng sản các thế hệ trước. Bất giác, tôi lại nghĩ đến anh hùng Trần Ngọc Sương, và cha bà, anh hùng Trần Ngọc Hoằng, và nông trường sông Hậu ngày xưa, một đơn vị cũng là anh hùng.

Lần đầu tôi biết bà là năm 2003, khi đó Nông trường Sông Hậu cũng “dính” vào một vụ thanh tra. Theo kết luận thanh tra, chiếu với pháp luật hiện hành, nông trường này đã mất khả năng thanh toán, có thể phá sản bất kỳ lúc nào.  Nguy cơ bà Ba Sương rơi vào vòng lao lý đã hiển hiện. Lúc ấy báo Nhân dân và Đài TNVN vào cuộc. Tôi được giao nhiệm vụ tìm hiểu để viết bài về vụ việc này. Sau đó, nhờ sự can thiệp của rất nhiều người đức cao vọng trọng, cùng công luận, trong đó có một bài của nhà báo Nguyễn Kiến Phước trên báo Nhân dân, và chắc cũng có một phần nhỏ từ loạt bài trên VOV, nông trường này đã qua được sóng gió.

Ngay từ lần đầu tiên gặp bà Trần Ngọc Sương, với tính cách cương cường đến sắt đá của bà, tôi đã có dự cảm con đường mà bà đi chắc chắn sẽ còn đầy sóng gió. Và tôi buồn vì sự việc đã diễn ra như vậy. Bà gặp bão ngay cả khi đã về hưu, giã từ mọi chức vụ, cô đơn và gần như với hai bàn tay trắng.

Cùng thời điểm đó, cả nước có khoảng 1.000 nông – lâm trường quốc doanh, nhưng hầu hết làm ăn chật vật, thậm chí chỉ còn tồn tại trên giấy tờ. Chỉ có hai đơn vị trụ vững và phát triển được, đó là Nông trường sông Hậu (TP. Cần Thơ) và Nông trường mía đường Lam Sơn (Thanh Hóa – đến lúc đó đã chuyển đổi mô hình kinh doanh thành Công ty cổ phần).

Tôi đã đọc rất nhiều bài báo, công trình nghiên cứu, nghe nhiều chuyên gia và cán bộ địa phương nói về mô hình này, nhưng khi đến nơi, gặp bà Ba Sương và những người đang làm việc ở nông trường, tôi vẫn không khỏi ngạc nhiên bởi sự giản dị, sức sống và sức hấp dẫn của mô hình doanh nghiệp giàu tính cộng đồng này.

Đến nhiều nông lâm trường, nhưng ít thấy ở đâu mọi người làm việc chuyên cần, mẫn cán, thái độ hồn hậu, chân tình ấm áp như ở đây. Cũng chưa thấy ở đâu phong cách làm việc và đặc biệt là tiếp khách giản dị, tiết kiệm như ở nông trường này. Cơ ngơi của trụ sở nông trường là những dãy nhà cấp 4 sạch sẽ, nối liền nhau chạy dọc bờ kênh có vẻ không phù hợp với một đơn vị mà doanh số kinh doanh hàng năm đạt trên cả ngàn tỷ đồng. Đặc biệt đấy lại là một doanh nghiệp thuần túy nông nghiệp. Đây là một văn hóa kinh doanh không dễ tạo dựng được nếu chỉ đặt mục tiêu lợi nhuận lên trên hết.

Sẽ không có nông trường sông Hậu như chúng ta đã biết nếu không có tính cách quyết liệt, dám nghĩ dám làm, vượt lên lối tư duy đương thời của Anh hùng Trần Ngọc Hoằng và Anh hùng Trần Ngọc Sương. Nhiều gia đình nông dân vốn tứ cố vô thân, không tấc đất cắm dùi sẽ không có một cuộc sống ổn định và khá giàu nếu không có sự bao chứa đầy tình người của Nông trường sông Hậu. Ở khắp nơi trong nông trường và ở đồng bằng sông Cửu Long, người ta ngưỡng mộ, yêu quí, vị nể  và cả ganh ghét với bà. Điều này bà Ba Sương biết rõ.

Lúc ấy khi chiếc áo nông trường đã quá chật với đơn vị này, bà vẫn say mê nói về dự định xây dựng một doanh nghiệp đậm chất xã hội chủ nghĩa, ở nơi mà người lao động được hưởng lợi nhiều nhất từ sự phát triển.

Tôi đã từng đi cùng bà trên một chuyến xe xuyên đêm từ Cần Thơ lên Sài Gòn rồi ngược lại. Ăn bụi dọc đường, ngủ trên xe là nếp sinh hoạt thường xuyên của bà. Bà vừa nằm ôm gối trên ghế sau, vừa kể lể, tranh luận đủ thứ chuyện xoay quanh cái mô hình kinh doanh mà bà mơ ước. Có những khi xúc động vì bị dồn ép, bất lực, cô đơn…bà khóc nấc lên… Cái chất giọng manh mảnh, yếu ớt của bà bị chìm đi trong những âm thanh về đêm của vùng châu thổ.

Tôi đã từng đến ngôi nhà của nông trường mua ở TP.HCM mà bà bị yêu cầu dọn đi khi nghỉ hưu và bị khởi tố, ở đấy bà chia sẻ dự định khi về hưu sẽ tìm cách mở một xưởng làm kẹo nhỏ lấy tiền sống qua ngày.

Cách tính toán và cách sống đạm bạc của bà rõ ràng là không ổn và cũng có điều gì đó không hợp thời.

Từ đầu năm 2000, đã có nhiều dự định lấy một phần đất của nông trường để làm khu đô thị và khu công nghiệp. Hơn 7.000 ha đất của nông trường, trong đó có một phần nằm dọc quốc lộ, rõ ràng là đất vàng khiến nhiều người thèm muốn.  Đã có người khuyên bà nhân cơ hội này tìm cách cơ cấu lại nợ, chuyển đổi nhanh mô hình kinh doanh cho hợp thời nhưng bà nhất định không nghe. Bà cứ cố giữ lại cho nông trường để xây dựng một tổ hợp nông nghiệp – thủy sản cho chính những cư dân ở đây. Dự định đó cho đến bây giỡ,  rõ ràng là còn dang dở…

Hồi tôi đến nông trường sông Hậu, trong dãy nhà làm việc của nông trường, có một phòng tập thể dành để đặt bàn thờ anh hùng Trần Ngọc Hoằng, cha bà, một cựu binh đã một tay cùng bà con, anh em khai phá và tạo dựng nên nông trường này. Liệu lúc đó, bà Ba Sương có tính chuyện sau này, khi đã về nghỉ hưu, bà sẽ thờ cha mình ở đâu?

Sự đúng – sai, tốt-xấu… suy cho cùng là do quan niệm của con người. Kể cả pháp luật cũng do con người làm ra và áp dụng. Có khi đúng, có khi sai, có khi là phù hợp hoặc có khi đã qúa cũ kỹ so với cuộc sống tươi xanh. Như thế, chúng ta sẽ còn phải bàn bạc, tranh luận nhiều về bà Trần Ngọc Sương và mô hình doanh nghiệp XHCN mà cha, con bà đã ôm mộng tìm cách hiện thực hóa.

Riêng tôi, tôi cảm thấy bà đại diện cho một thế hệ những người đã dấn thân là đi hết mình, chấp nhận mọi khó khăn, thách thức, thậm chí là sự hy sinh cho những điều mà họ đã tin. Có lắm khi, những con người như thế, những việc làm và hành động của họ, ngay đến cả đồng chí, đồng đội, thậm chí là người ruột thịt, cũng không hiểu và không thông cảm được.

Chẳng ai, ngoài bà, có thể thấu được những mất mát, đau đớn, đổ vỡ mà bà đã nếm trải. Để vượt lên được, người ta phải có niềm tin ghê gớm lắm.

Đúng hôm bà nhận quyết định đình chỉ vụ án, tôi đắn đo mãi  mới bấm máy gọi bà, định bụng sẽ chia sẻ với bà một điều gì đó. Nhưng bà đã tắt máy. Một người như thế, đã đi một chặng đường thậm xa và khó khăn đến thế, đâu cần nghe thêm một câu gì vào những thời điểm như thế nữa./.

BLOG THÓC

———————————————

BÀ BA SƯƠNG – CHỐT THÍ VỀ TRANH GIÀNH ĐẤT ĐAI

Lời Tòa Soạn báo Người Việt: Trong những ngày gần đây, báo chí và dư luận trong nước xôn xao về vụ án xử bà Trần Ngọc Sương (thường gọi là Ba Sương), nguyên giám đốc Nông Trường Sông Hậu thuộc tỉnh Cần Thơ. Theo truyền thông nhà nước, bà Ba Sương bị tòa án huyện Cờ Ðỏ, tỉnh Cần Thơ xử 8 năm tù về tội tham nhũng, lập “quỹ trái phép.” Nhưng dư luận thì nghĩ bà chỉ là “con chốt thí” trong việc tranh giành đất đai của giới cầm quyền tại Việt Nam. Vụ bà Ba Sương gây chia rẽ dư luận khi người bênh, kẻ chống. Nó “nổi tiếng” đến mức ngay cả cựu Phó Chủ Tịch Nước Nguyễn Thị Bình, đương kim Chủ Tịch Nước Nguyễn Minh Triết, Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng “nhảy vào” có ý kiến. Vậy bà Ba Sương là ai và vì sao vụ án này “nổi tiếng” như vậy? Bài viết dưới đây của tác giả Lữ Tống sẽ giải thích phần nào cho những câu hỏi này.1.  ‘Anh hùng’ hay ‘nạn nhân’ của mô hình XHCN?

Năm 1981, bà Trần Ngọc Sương bước vào Nông Trường Sông Hậu thuộc huyện Cờ Ðỏ, thành phố Cần Thơ, chính thức làm một cán bộ nông trường. Năm 2000, bà thừa hưởng vị trí giám đốc nông trường do cha bà là ông Trần Ngọc Hoằng để lại sau khi ông qua đời. Ông Hoằng được phong danh hiệu “Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới.” Cũng trong năm 2000, bà được nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng lao động” và đây là trường hợp hiếm hoi mà trong một gia đình cả cha và con cùng được phong danh hiệu này.

Vậy mà trớ trêu thay, người được phong “danh hiệu anh hùng” vài năm trước giờ đang phải đối mặt với bản án 8 năm tù về tội “lập quỹ trái phép.”

Bà Sương chính thức bị công an thành phố Cần Thơ khởi tố vì “lập quỹ trái phép” trên 9.2 tỉ đồng. Các sai phạm của bà Sương được báo chí công bố qua chứng cứ thu thập được từ cơ quan điều tra xác định Ban Giám Ðốc Nông Trường Sông Hậu mà cụ thể là bà Sương đã ra lệnh cho bộ phận kế toán, thủ quỹ chi hết số tiền này vào các việc như: mua nhà, đất, mua cổ phần, quà sinh nhật, chi phí đi công tác không minh bạch… trên 3 tỉ đồng; chi biếu tặng cá nhân, các cơ quan, ban ngành, chi cho đoàn kiểm toán, đám tiệc, để tiếp khách… trên 5 tỉ đồng. Kết quả giám định tài chính cho thấy việc chi nguồn quỹ trái phép hơn 9 tỉ đồng nêu trên làm ngân sách bị thiệt hại 5,3 tỉ đồng.

Báo chí cũng đưa tin cơ quan điều tra phát hiện bà Sương đã ra lệnh xuất quỹ tiền mặt của nông trường hơn 9 tỉ đồng khác để mua 32 miếng đất, 1 căn nhà với tổng diện tích trên 203,000m2, giao cho người nhà của bà và 7 cá nhân ở NTSH đứng tên chủ sở hữu. Trong số tiền này, bà Sương hưởng 243 triệu đồng khi vào năm 2003 bà ra lệnh mua căn nhà số 22 Ðinh Tiên Hoàng, phường Thới Bình, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ và 337 triệu đồng mua căn nhà số 17 Ðiện Biên Phủ, quận Bình Thạnh, Sài Gòn.

Cơ quan điều tra còn phát hiện được nhiều phiếu chi từ các nguồn tiền trên từ năm 2000 đến năm 2006 như: chi mua 16 lượng vàng 24K để mừng sinh nhật và chúc tết bà Trần Ngọc Sương.

Ông Trần Ngọc Hoằng, nguyên giám đốc Nông trường Sông Hậu, cha bà Sương, đã chết từ Tháng Bảy, năm 2000, nhưng bà Sương vẫn tiếp tục ra lệnh cho kế toán lập chứng từ chi trả lương kiêm nhiệm và trợ cấp lương cho ông Hoằng hằng tháng, từ Tháng Bảy, 2000 đến Tháng Mười Hai, 2007, với số tiền trên 250 triệu đồng do bà Sương trực tiếp ký nhận… Bà Sương cũng đã ra lệnh thủ quỹ xuất tiền quỹ trái phép của Nông Trường Sông Hậu để cho nhân viên của nông trường đứng tên 6 lô đất trên 70,000m2 và 1 căn nhà, sau đó bà Sương chỉ đạo bán 4 lô, với diện tích 25,000m2 được trên 4 tỉ đồng để ngoài sổ sách. Cơ quan điều tra cũng phát hiện bà Sương đã ra lệnh lấy 14,449m2 đất của Nông Trường Sông Hậu chuyển cho bà đứng tên chủ quyền…

Danh sách sai phạm của bà Trần Ngọc Sương còn dài, tuy nhiên tất cả những chia chác của bà Sương nếu tính lại thì không thấm vào đâu so với những vụ tham nhũng khác, chẳng hạn như PMU 18 hay gần đây nhất là vụ Huỳnh Ngọc Sỹ. Có điều lạ là khi tòa phúc thẩm Cần Thơ tuyên y án 8 năm tù giam cho bà Sương thì dư luận lập tức phản ứng. Trước tiên là các tên tuổi, chức sắc cao cấp nhất của chế độ, tiếp đến là mặt trận báo chí và sau cùng kéo theo một số blogger tên tuổi nhập cuộc.

Căn nguyên nào mà vụ việc lại trở nên lùm sùm như vậy?

Như ở phần mở đầu, bà Sương và cha bà là ông Trần Ngọc Hoằng từng được phong tặng anh hùng khi Nông Trường Sông Hậu liên tiếp gặt hái nhiều thành quả đáng kể mà theo báo chí tường thuật thì từ tay không, ông Hoằng đã gây dựng lên nhiều ngàn héc ta đất canh tác, quy tụ hàng trăm hộ nông dân và sau một thời gian ngắn nông trường ngày trở nên trù phú và thu hoạch khá nhiều kết quả. Nhà nước nhận thấy đây là mô hình theo kiểu tập trung sản xuất thành công nhất từ trước tới nay nên khuyến khích bằng cách phong tặng danh hiệu anh hùng cho cả hai cha con bà Sương với mục đích nhân rộng điển hình của mô hình xã hội chủ nghĩa.

Và từ danh hiệu anh hùng này, bà Sương rơi dần vào sai trái khi một mình nắm cả cơ đồ trong tay. Nông Trường Sông Hậu chỉ thành công ở giai đoạn đầu, tức là thời kỳ đổi mới. Càng về sau, khi tiếp cận với thị trường cạnh tranh nó trở nên chậm chạp, chi nhiều hơn thu, kế hoạch nào cũng thất bại và nợ nần ngày một cao dần lên. Bà Sương chạy không khỏi kết quả do mình tạo ra khi những người ủng hộ bà lúc xưa dần dần bỏ đi, người chết, người về hưu và trong đó không ít người đã thất sủng. Còn lại vài người cảm thấy phải bảo vệ cho bà nên buộc phải lên tiếng cho dù vị thế của họ không còn trọng lượng như xưa, trong đó bà Nguyễn Thị Bình, nguyên phó chủ tịch nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam là một.

Bên lề cuộc họp Quốc Hội, bà Bình lên tiếng cho rằng bản án này rất bất công khi xử một con người từng được phong tặng danh hiệu anh hùng. Rằng bà Sương xứng đáng được đặc xá và bản án này cho thấy có dấu vết sai phạm và cần được xét lại.

Sau bà Bình là bà Hà Thị Khiết, bí thư Trung Ương Ðảng kiêm Trưởng Ban Dân Vận Trung Ương. Rồi đến Bộ Trưởng Tư Pháp Hà Hùng Cường. Ông Viện Trưởng Viện Kiểm Sát Nhân Dân Tối Cao Trần Quốc Vượng, cùng với Chánh Án Tòa Án Nhân Dân Tối Cao Trương Hòa Bình, rồi Ban Thường Trực Ủy Ban T.Ư Mặt Trận Tổ Quốc Việt Nam, và cuối cùng đích thân thủ tướng Việt Nam là ông Nguyễn Tấn Dũng cũng lên tiếng cho là cần xem lại vụ án này.

Báo chí nhập cuộc ngay sau khi Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng, người biện hộ cho bà Sương tranh luận trước tòa rằng cả hai cha con bà Sương đều là anh hùng vì vậy nếu tuyên án bà Sương tức là nã đại bác vào quá khứ. Ông Trừng còn nhấn mạnh “đây không phải là quá khứ bình thường, đây là quá khứ đã được tôn vinh.”

Nhiều bài báo vận động sự thông cảm của dư luận cho bà Sương vì hiện nay bà đang trong tình trạng nghèo túng. Vì bà là nạn nhân của cơ chế và vì gia đình bà có công thành lập một nông trường hiện đang bảo bọc cho hơn ba ngàn con người. Báo chí đòi xét nhân thân để đặc xá cho bà và cuối cùng người ta lôi ra những chi tiết chứng minh rằng bà Sương là nạn nhân của một thế lực đang có âm mưu tống bà vào tù để họ thành lập khu công nghiệp cao ngay trên mảnh đất của Nông Trường Sông Hậu.

Báo chí cũng đưa ra những bằng chứng cho thấy tỉnh ủy tỉnh Cần Thơ đã chỉ đạo vụ án ngay từ đầu và vì vậy vi phạm nghiêm trọng đến thủ tục tố tụng của Bộ Luật Hình Sự Việt Nam.

Mặc cho dư luận chống đối, tỉnh Cần Thơ không có dấu hiệu bỏ cuộc khi Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cờ Ðỏ tiếp tục khởi tố thêm nhiều tội khác của bà Ba Sương.

Nhà báo Phan Lợi tức blogger Bút Lông viết trong một bài tổng hợp các nguồn tin từ báo chí: “Bất chấp dư luận đang phản ứng dữ dội bản án 8 năm đối với Ba Sương, Viện Kiểm Sát Nhân Dân huyện Cờ Ðỏ tiếp tục khởi tố Ba Sương về tội tham ô… Cú này coi như Cần Thơ thách đấu với dư luận xã hội!”

Dư luận đặt câu hỏi tại sao báo chí và nhiều ông to bà lớn cùng đứng chung một phía để bênh vực cho bà Trần Ngọc Sương đến như vậy. Phải chăng Tòa án tỉnh Cần Thơ đã vi phạm Bộ Luật Hình Sự khi kết tội bà Sương và phải chăng sự kết tội này nhằm triệt tiêu tiếng nói của bà để thành ủy Cần Thơ dễ dàng thu hồi 4,000 ha đất của Nông Trường Sông Hậu nhằm quy hoạch xây dựng khu công nghiệp nằm trong dự án khu đô thị mới – một dự án siêu lợi nhuận – kéo theo quyền lợi của một số người có chức có quyền ở thành phố Cần Thơ?

Còn điều gì khuất tất nữa phía sau vụ án này? Nếu tòa án Cần Thơ làm đúng chức năng của mình thì đúng ở điểm nào? Tại sao dư luận báo chí trước đó từng lên án việc xét nhân thân đối với Huỳnh Ngọc Sỹ nay lại cùng lúc nói tiếng nói chung là đòi xét nhân thân cho bà Sương?

Xin đón xem tiếp phần sau chúng tôi sẽ trình bày những ẩn khuất đang được một số báo chí cố tình che giấu hay luồn lách sự thật khi đưa những nhận định một chiều có lợi cho bị cáo.

… Kết luận của Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh đưa ra như một tiếng súng chát chúa vang lên tại phòng xử. Người tin vào công lý thỏa mãn với kết quả mà tòa đạt được. Kẻ liên lụy thở dài thiểu não vì mọi nỗ lực bào chữa đều không có kết quả.

Theo báo chí đưa tin thì bà Trần Ngọc Sương không có mặt tại phiên tòa và đại diện cho bà là Luật Sư Nguyễn Ðăng Trừng sau nhiều ngày nghiên cứu hồ sơ đã không tập trung nhiều vào các tình tiết tố tụng, ông chỉ đặt các vấn đề để mong Hội Ðồng Xét Xử suy nghĩ. Vấn đề chính mà Luật Sư Trừng đưa ra để tòa “suy nghĩ” là “một đơn vị như Nông Rrường Sông Hậu đã 2 lần anh hùng, ông Trần Ngọc Hoằng là anh hùng. Con gái ông Hoằng là bà Sương cũng là anh hùng. Cha con đều là anh hùng, đơn vị được nhiều lần tôn vinh. Nếu không xem xét, thì theo ông Trừng chính phiên tòa hôm nay sẽ nã đại bác vào quá khứ. Mà đây không phải là một quá khứ bình thường. Ðây là một quá khứ đã được tôn vinh”

Kêu gọi tòa giảm nhẹ mức án có nhiều cách nhưng lấy thành quả chính trị để xa gần đòi hỏi tòa phải nhượng bộ là một cách tranh luận lạ lùng. Luật Sư Trừng đồng thời là đại biểu Quốc Hội và hiện đang giữ chức chủ nhiệm kiêm bí thư đảng Ðoàn Luật Sư Thành Phố Sài Gòn. Mang nhiều chức vụ như vậy nhưng ông quên rằng trước tòa án mọi người đều bình đẳng như nhau, yếu tố nhân thân có thể áp dụng để giảm án nhưng không thể dựa vào đó như một cái khiên che những cáo buộc cho hành vi phạm tội.

Ông Trừng cũng cho rằng công trạng của bà Sương làm nên của cải cho nông trường rất lớn vậy thì bà có tiêu xài ngoài mục đích vài tỷ cũng chưa đủ số tiền đáng ra bà đã được hưởng theo phần trăm mà Bộ Tài Chánh đưa ra. Ông Trừng quên rằng số huê hồng nếu có chỉ hợp pháp khi mọi thu chi đã công khai và chứng minh được lợi nhuận thật sau khi thi hành thuế. Ông không chứng minh được điều này trước tòa do đó mức án phúc thẩm vẫn giữ như bản án sơ thẩm.

Bản án đưa ra được chờ đợi những tiếng khen vì đã quyết liệt căn cứ trên các bằng chứng cũng như lời khai của nhân chứng lẫn bị can và không áp dụng yếu tố nhân thân như các quan tòa trước đây từng bị dư luận đả kích. Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh tỏ ra cứng tay đối với mọi sức ép và dư luận khá ngạc nhiên về những phán quyết này của ông. Có thật là Thẩm Phán Nguyễn Văn Trinh muốn làm người hùng giữa lúc hệ thống tòa án Việt Nam đang ngày một xuống cấp hay không?

Báo chí không nghĩ như vậy. Họ có cách lý luận khác, và những lý luận này không căn cứ trên những quy định của pháp luật. Lý do mà hầu hết báo chí đưa ra là Tỉnh Ủy Cần Thơ đã vi phạm pháp luật khi chỉ đạo vụ án. Lý do thứ hai quan trọng hơn, động lực thúc đẩy họ không phải chỉ đơn thuần bênh vực cho bà Sương mà còn nhằm chận đứng âm mưu lấy 4,000 héc ta đất của Nông Trường Sông Hậu để thành lập khu công nghiệp mà theo đánh giá của ông Phạm Thanh Vận, phó bí thư Thành Ủy Cần Thơ thì khi đi vào thực hiện khu vực này sẽ trở thành ‘khu công nghiệp thương mại dịch vụ, xóa những dấu tích nông nghiệp trước đây theo mô hình mới. Ông Vận cho biết Thành Ủy đã xin ý kiến chính phủ chuyển đổi toàn bộ đất của cả hai nông trường Sông Hậu và Cờ Ðỏ, tổng cộng hơn 12,000 héc ta để thành lập khu đô thị mới.

Trong đó có cả phi trường, đường cao tốc, sân golf…

Ông Vận cũng khẳng định hiện đang có các nhà đầu tư của Mỹ, Hàn Quốc và một số nhà đầu tư lớn khác xin vào đầu tư. Thường Vụ Thành Ủy đang chọn lựa xin ý kiến và kiểm tra năng lực của các nhà đầu tư. Sẽ giao đất hai nông trường Sông Hậu và Cờ Ðỏ cho các nhà đầu tư theo kiểu đầu tư từ đầu tới cuối, kể cả đầu tư, khai thác, thiết kế… Ðây là hướng tương lai mà Thường Vụ Thành Ủy đang giải quyết.

Phát xuất từ những vụ tham nhũng từ trước tới nay, báo chí đánh hơi thấy đây là một phi vụ lớn mà nếu trở thành hiện thực thì người hưởng lợi nhiều nhất chính là các quan chức trong UBND tỉnh cùng các giới chức liên quan.

Thế là hầu như cùng lúc, mọi mũi tên đều chĩa về hướng này như một xác quyết, một định hướng đúng đắn bảo vệ quyền lợi đất nước. Và niềm tin này chưa thấy ai phản hồi trên mặt báo.

Người ta lo ngại tham nhũng trên tất cả mọi dự án. Và người ta luôn luôn đúng trong tình hình hiện nay, ít ra trong một thời gian dài sắp tới.

Thấy cây cong nhớ đến cung nỏ là tâm lý tự kỷ và tâm lý này che chắn mọi nỗ lực thúc đẩy đất nước trên bước đường phát triển. Nếu thật sự dự án lấy đất Nông Trường Sông Hậu để thành lập khu công nghệ mới đúng như kế hoạch mà tỉnh Cần Thơ đưa ra sẽ giúp cho tỉnh này phát triển mạnh mẽ thì mọi ngăn trở xa gần có đáng được đề cao hay không? Chưa thấy ai làm một nghiên cứu về câu hỏi này để tìm hướng thoát ra khỏi chiếc vòng kim cô mang tên “nghi ngờ” vây bủa mọi nỗ lực tìm sự phát triển cho đất nước.

Nhà báo Huy Ðức rất nổi tiếng với trang blog Osin đã viết: “Sở dĩ, hàng vạn tập đoàn, hợp tác xã, nông trường… được hình thành theo phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa đã tan tác hoặc chỉ còn tồn tại như những thây ma từ cuối thập niên 80, trong khi nông trường Sông Hậu vẫn tồn tại cho đến ngày nay là bởi có những con người thực lòng trung thành như cha con bà Ba Sương và có những nhà lãnh đạo muốn họ tiếp tục giữ mô hình ấy như một minh chứng: chủ nghĩa xã hội cũng có thể trở thành hiện thực.”

Có thật là mô hình này đã và đang thành công hay không khi chính tin tức trên VNNet cho biết theo kết luận của cơ quan điều tra thì sau nhiều năm làm giám đốc Nông Trường Sông Hậu, bà Trần Ngọc Sương đã “góp phần” đưa tổng số tiền nông trường này đang nợ ngân hàng lên đến 260 tỉ đồng, hằng tháng phải trả lãi ngân hàng gần 3 tỉ đồng. Ngoài ra, nông trường cũng đang nợ 2 tỉ đồng thuế từ nhiều năm chưa thanh toán được.

Vụ án này không nằm trong phạm vi nhà nước mà thoát hẳn ra ngoài. Báo chí đưa tin có 110 chữ ký của nông trường viên tình nguyện ở tù thay cho bà Sương vì cảm kích những việc làm của bà với họ trong thời gian qua. Mặc dù 110 chữ ký này chưa hề được chứng minh bằng căn cước thật nhưng dư luận vẫn chấp nhận như là một thành tố chứng tỏ bà Sương luôn được kính trọng vì những việc làm tốt đẹp của bà dành cho nông trường viên. Có điều đáng tiếc là trong bản cáo trạng của Viện Kiểm Sát thì nhiều cá nhân đã nợ nông trường nhưng sau đó đã được lãnh đạo xóa nợ. Số tiền xóa nợ mà cơ quan điều tra xác định lên đến trên 7,6 tỉ đồng, trong đó có hai Việt kiều ở nước ngoài được xóa trên 2,5 tỉ đồng và 14 ngàn USD.

Vấn đề xóa nợ và hiện tượng 110 người đứng tên xin ở tù thay khiến người ta dễ dàng liên tưởng đến tình trạng Thái Lan hiện nay. Câu chuyện của Thủ Tướng Thaksin cho nông dân vay tiền để mua hàng hóa do thuộc hạ và gia đình ông ta sản xuất dưới danh nghĩa yểm trợ nông thôn rồi sau đó xóa sạch nợ cho họ khi họ không thể trả nổi. Sự xóa nợ đã làm cho hàng triệu nông dân vay vốn nhà nước cảm kích Thủ Tướng Thaksin và vẫn tranh đấu đến cùng cho chiếc ghế của ông ta mãi cho đến hôm nay vẫn chưa chấm dứt.

Riêng trong trường hợp bà Trần ngọc Sương thì phải hiểu việc bà xóa nợ cho nhiều nông dân lẫn viên chức có ý nghĩa như thế nào?

Nhà báo Phạm Viết Ðào có lẽ là người hiếm hoi đi khác lề với tất cả nhà báo khác. Ông viết trên trang blog của mình: “Qua vụ án Trần Ngọc Sương cho thấy hình như đã xuất hiện trận tuyến giữa một bên là báo chí với một số quan chức của các cơ quan trung ương và bên kia là các cơ quan quyền lực của thành phố Cần Thơ? Vậy đất nước ta đang ở thời kỳ “tiền Tam Quốc” hay “hậu Tam Quốc” đây?

Vụ án Trần Ngọc Sương liệu có là “khối u” của cơ chế mà không sớm thì muộn, không chỗ này thì chỗ kia cũng sẽ bục vỡ ra bởi trong cơ chế này mỗi con người đôi khi vừa là nạn nhân lại đồng thời là thủ phạm…”

Mũi tên bắn bà Sương từ Thành Ủy Cần Thơ và những mũi tên khác từ báo chí cũng như những quan chức khác phe bắn trả lại khiến người ta lo nghĩ về một vấn nạn đang xảy ra trên đất nước này đó là “Nạn Sứ Quân.” Nạn sứ quân tuy còn manh nha nhưng âm ỉ và không kém phần mãnh liệt. Bà Sương ngồi chính giữa nhận đòn từ nhiều phía, kể cả bên được xem là bênh vực cho bà. Bênh vực với những luận cứ thiếu thuyết phục chỉ làm cho sự thật mờ thêm. Và vì thế những đường tên vun vút trong không gian có vẻ như đã lỗi thời mặc dù chúng chưa đi đến đích.

Lữ Tống

———————————————————-

4.Khi Hữu Ước trượt giải

imagesCAVODAAYDù bị loại khỏi danh sách xét giải thưởng nhà nước, nhưng Trung tướng Công an, anh hùng lao động, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên kịch, nhạc sĩ, họa sĩ Hữu Ước bảo ông không những xứng đáng nhận giải nhà nước mà còn xứng đáng nhận giải… Hồ Chí Minh!


         “Tôi hiểu trong 7 thành viên của Hội đồng đó thì có người có thể là chưa bao giờ đọc kịch của tôi, chưa bao giờ xem kịch của tôi… còn người thứ hai không bỏ cho tôi, tôi cũng không ngạc nhiên, vì có thể là  họ chưa bao giờ biết viết kịch, và họ chưa bao giờ làm đạo diễn cả… Có khi là trong một liên hoan sân khấu, tôi mời người này mà không mời người khác tham gia ban chỉ đạo, chỉ vì thành phần đã đủ hay vì tính chất cuộc liên hoan… bây giờ họ được ngồi trong Hội đồng, nhớ chuyện cũ và không bỏ phiếu cho tôi… tôi xứng đáng không chỉ dừng ở Giải thưởng Nhà nước mà cả ở Giải thưởng Hồ Chí Minh”- Phát biểu của Trung tướng Công an, anh hùng lao động, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhà biên kịch, nhạc sĩ, họa sĩ Hữu Ước sau khi bị loại khỏi danh sách giải thưởng nhà nước- Bài trả lời phỏng vấn đăng trên chính tờ Công an Nhân dân do ông làm Tổng Biên tập. Có lẽ dưới vòm trời này xưa nay chưa có “danh tài” nào dám ưỡn ngực nói về mình như thế ngoài Hữu Ước, thậm chí mắng chụp thành viên Hội đồng chấm giải đã dám đánh trượt, không bỏ phiếu cho ông bằng thứ câu chữ rất hợm hĩnh, hồ đồ và cực kỳ kém văn hóa. Đọc để hiểu thêm “tài năng” của Trung tướng anh hùng, nhà văn, nhà báo, nhà thơ, nhạc sĩ, họa sĩ, kịch sĩ Hữu Ước và cái “mùi danh hiệu” (Trương Duy Nhất)

 Nhà văn Hữu Ước: Còn giải thưởng thì trước sau tôi cũng được

         trong dong huu uoc Nhưng từ xưa đến nay, nói cho cùng, các nhà văn khi viết ra các tác phẩm của mình có ai nghĩ là để được giải đâu. Cái gốc của mọi chuyện là sự lao động và sáng tạo, cống hiến cho con người, cho cái chung, cho công chúng, cho người xem, cho người nghe, chứ không phải cái gốc là để nhận giải. Cho nên tôi nghĩ rằng, những người được hay không được giải năm nay thì cũng nên hết sức bình tĩnh.

          – Phóng viên: Thưa nhà văn Hữu Ước, chắc nhà văn cũng đã nhận được thông báo về kết quả cuộc họp của Hội đồng Thi đua khen thưởng Bộ Văn hóa – Thể thao & Du lịch về việc thẩm định danh sách các tác giả được đề nghị trao Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực sân khấu năm nay để trình lên Hội đồng Trung ương. Và một trong những tác giả bị loại khỏi danh sách đó có tên của ông. Cảm giác của ông như thế nào khi nghe tin này?

          – Nhà văn Hữu Ước: Thực ra, tôi là một người hoạt động lâu năm trong lĩnh vực văn học nghệ thuật. Và vừa làm người quản lý báo chí, vừa sáng tác. Nói tới Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh trong lĩnh vực văn học nghệ thuật lần này, cũng như nhiều giải thưởng khác, thì, việc tôi và một số người khác bị loại không khiến tôi phải ngạc nhiên.

          Và tôi cũng không buồn. Vì tôi biết rằng theo quy định, thành phần của Hội đồng cấp cơ sở có khi 7 người, có khi 9 người, có khi 11 người, cái đó là tùy từng năm, nhưng muốn vượt qua “cửa” này thì  phải đạt 75% số phiếu bầu trở lên. Qua đấy rồi thì mới được vào xét tiếp.

          Riêng về Hội đồng xét giải trong lĩnh vực sân khấu thì tôi biết là năm nay có 7 thành viên. Tôi và một số người nữa được 5 phiếu trong số 7 phiếu đã bỏ. Tôi nghĩ là, được 5 trên 7 phiếu ở một Hội đồng nghệ thuật rất phức tạp – tôi nghĩ rằng Hội đồng nào trong lĩnh vực xét giải văn học nghệ thuật cũng đều phức tạp hết – thì cũng là điều tốt rồi.

          Và đối với 2 lá phiếu không bầu tôi thì tôi cũng không ngạc nhiên, vì tôi hiểu trong 7 thành viên của Hội đồng đó thì có người có thể là chưa bao giờ đọc kịch của tôi, chưa bao giờ xem kịch của tôi. Vì vậy, việc họ không bỏ phiếu cho tôi thì cũng là điều rất dễ hiểu, mặc dù tôi đã có tới 17 vở được công diễn trong những năm qua.

          Mà vở nào cũng diễn tới vài trăm buổi. Thế còn người thứ hai không bỏ cho tôi, tôi cũng không ngạc nhiên, vì có thể là  họ chưa bao giờ biết viết kịch, và họ chưa bao giờ làm đạo diễn cả. Nhưng họ lại được quyền ngồi thẩm định tôi thì việc họ bỏ tôi ra cũng là điều dễ hiểu thôi. Và còn việc thứ ba nữa thì tôi nghĩ rằng thế này: có khi lại  là  không phải do vấn đề đánh giá nghệ thuật, đánh giá công trình, mà là do nhìn nhận nhau bằng mối quan hệ.

          Thí dụ như  trong quá trình sống và làm việc với nhau, có thể tôi đã làm một việc gì đó, dù là vô tình, nhưng lại khiến một trong những thành viên đó không bằng lòng, về điểm A, điểm B, điểm C nào đấy. Và việc họ bỏ tôi ra cũng là điều dễ hiểu…

          – Toàn những lý do không phải vì tác phẩm…

          – Tôi là người được Bộ Công an giao phụ trách Báo CAND, Truyền hình, Điện ảnh, Phát thanh và lĩnh vực sáng tác văn học – nghệ thuật. Tôi lại là người tổ chức rất nhiều các hoạt động văn học nghệ thuật, thì trong cuộc sống làm sao lại không có những khiếm khuyết.

          Có khi là trong một liên hoan sân khấu, tôi mời người này mà không mời người khác tham gia ban chỉ đạo, chỉ vì thành phần đã đủ hay vì tính chất cuộc liên hoan… bây giờ họ được ngồi trong Hội đồng, nhớ chuyện cũ và không bỏ phiếu cho tôi thì cũng là điều dễ hiểu. Hoặc là tôi khiếm khuyết trong kỳ tổ chức liên hoan sân khấu, không phải tôi mà là cấp dưới của tôi quên không mời, thì có khi họ cũng giận chăng (cười).

          – Thế tự ông đánh giá về các tác phẩm của mình như thế nào?

          – Có lẽ trong cuộc sống chúng ta phải nên thẳng thắn và chân thành.  Và tự mình biết mình hơn ai hết. Trước hết về mặt số lượng tác phẩm thì tôi đã có 17 vở kịch. 17 vở đều được công diễn đàng hoàng, không vở nào không được công chúng đón nhận.

          Thứ hai, tôi là một nhà văn viết kịch, tôi viết cả chính kịch lẫn hài kịch, điều này thì không có nhiều nhà văn, nhà biên kịch làm được, chứ chưa cần nói là rất ít và hiếm. Thứ ba, nếu thước đo lớn nhất của tác phẩm văn học nghệ thuật vẫn là khán giả, thì hầu như vở nào của tôi cũng vài trăm buổi diễn.

          Tất nhiên, để có được vài trăm buổi diễn thì có nhiều yếu tố, có cả thương hiệu này thương hiệu khác cộng lại. Và do cả công tác tiếp thị tốt của các đoàn. Và cái nữa là, nó còn có vai trò của đạo diễn, vai trò của các diễn viên, của chỉ đạo nghệ thuật, tức là một vở diễn trên sân khấu là một sản phẩm công nghiệp, chứ nếu một mình người biên kịch thì không thể…

          – Chứ không phải của một mình tác giả kịch bản.

          – Nhưng cái đầu tiên vẫn là tác giả kịch bản, vì có bột mới gột nên hồ. Đối với một tác phẩm sân khấu thì kịch bản ít nhất phải được, thì các đạo diễn mới có thể nâng nó lên được, các diễn viên mới có thể tung hứng và thăng hoa lên được. Và các vở của tôi thì vở nào cũng thế thôi, ăn khách, và nó bám đời sống, đặc biệt là bám đời sống đương đại. Và ai cũng nhìn ra thế mạnh trong các vở kịch của tôi là thế mạnh của một nhà văn, một nhà báo viết kịch…

          – Ông tự đánh giá mình như thế…

          – Và còn điểm nữa, trong thời buổi hiện nay, hệ thống thông tin truyền thông của chúng ta có quá nhiều rồi. Thí dụ như bây giờ anh em mình chơi với nhau rất yêu thương nhau, và tôi có mời bạn đi xem kịch của tôi, nể thì đi, nhưng vở không hay thì mắt trước mắt sau bạn cũng chuồn. Lĩnh vực âm nhạc cũng thế thôi. Vì thời buổi này không có thời gian để ngồi hai tiếng đồng hồ theo dõi một vở kịch hay một chương trình ca nhạc quá dở…

          – Và không xúc động…

          – Không cuốn hút người xem. Đối với kịch bản của tôi, đến giai đoạn nào mà tôi thấy có khán giả bỏ ra về là tôi cho dừng, không cho diễn nữa. Và như vậy là về mặt chất lượng tác phẩm thì các kịch bản của tôi là được chứ. Và so với mặt bằng chung hiện nay, thì không nhiều tác giả làm được những việc như tôi vừa nói.

          Còn nói về mặt quy chế về số lượng huy chương đã nhận thì nói thật tôi đã nhận được quá nhiều giải, đến giờ này tôi cũng không còn nhớ cụ thể là  các vở của tôi có bao nhiêu huy chương vàng, huy chương bạc trong các liên hoan và hội diễn sân khấu, cả ở quy mô quốc  gia lẫn các lĩnh vực khác. Kể cả về sách văn học thì kịch bản văn học của tôi cũng từng được trao giải A của Hội Nhà văn Việt Nam… Thế nên, đối chiếu theo các tiêu chí để xét giải thì tôi xứng đáng không chỉ dừng ở Giải thưởng Nhà nước mà cả ở Giải thưởng Hồ Chí Minh (cười sảng khoái).

          – Từ những gì ông vừa nói thì tôi hiểu rằng đang rất có vấn đề trong quy trình và thủ tục xét Giải thưởng Nhà nước và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Theo ông, thì chúng ta nên làm như thế nào để mọi chuyện công bằng, hợp lý và đúng đắn hơn, để làm sao không để lọt những tác phẩm và tác giả xứng đáng?

          – Thực ra là thế này, năm nay việc xét giải thưởng trong lĩnh vực  sân khấu thì cũng giống trong một số lĩnh vực khác, như văn học, như âm nhạc chẳng hạn, đang lộn xộn, và có những cái chưa đúng, chưa chuẩn, và không công bằng. Chỉ có điều, với tư cách một người viết, lại viết được nhiều thể loại nên tôi rất bình tĩnh.

          Nói thật là, từ xưa đến nay, tôi không ham hố bất cứ giải gì. Cũng như tôi chẳng ham hố gì những vai trò như thành viên ban chấp hành ở chỗ này, chỗ khác. Tôi bây giờ chỉ duy nhất đảm nhiệm vai trò thành viên Ban chấp hành Hội Nhà báo Việt Nam và là Ủy viên Hội đồng Lý luận Văn học – Nghệ thuật Trung ương thôi…

          Và tôi nghĩ thế này, được giải là một điều rất đáng quý vì đây là Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng Hồ Chí Minh. Được giải là được Đảng, Nhà nước và nhân dân tôn vinh. Những giải thưởng đó là những giải hết sức có giá trị. Và ai cũng thấy đó là giải để thưởng cho những tác phẩm, những tác giả, những nhà văn, những người làm trong lĩnh vực văn học nghệ thuật sáng tạo ra những tác phẩm có giá trị, có những đóng góp nổi bật.

          Nhưng từ xưa đến nay, nói cho cùng, các nhà văn khi viết ra các tác phẩm của mình có ai nghĩ là để được giải đâu. Cái gốc của mọi chuyện là sự lao động và sáng tạo, cống hiến cho con người, cho cái chung, cho công chúng, cho người xem, cho người nghe, chứ không phải cái gốc là để nhận giải. Cho nên tôi nghĩ rằng, những người được hay không được giải năm nay thì cũng nên hết sức bình tĩnh.

          Cái chính vẫn là anh có làm nên được giá trị đích thực hay không, tác phẩm của anh có sống được với thời gian và trong công chúng hay không. Cái đấy mới là cái chính. Tôi từng thấy, có kỳ liên hoan sân khấu có vở diễn được giải rất cao, vì tác giả kịch bản là một người rất nổi tiếng, viết được rất nhiều thể loại.

          Nhưng kịch bản ấy nói cho cùng chỉ là kịch bản để đọc thôi vì dựng ra có diễn được mấy buổi đâu, vì có khán giả tới xem đâu! Nói thật, nếu tôi là tác giả của vở đó mặc dù được hết các loại giải, giải cao nhất, thì tôi cũng thấy buồn… Các nhà văn lớn, lưu danh trong sử sách trên thế giới người ta viết tác phẩm cũng chẳng ai tính đến là được giải nọ giải kia.

          – Ông nói rất đúng, nhưng tôi vẫn muốn hỏi ông, vậy chúng ta nên làm thế nào để việc xét giải thưởng trở nên công bằng và hợp lý hơn?

          – Tôi nghĩ như thế này, quan trọng nhất là đối với việc xét giải thưởng ở lĩnh vực văn học – nghệ thuật, khi cấu tạo các hội đồng cơ sở thì phải làm sao cho nó kỹ, cho chuẩn về các thành viên hội đồng. Nếu không sẽ trật ngay. Cả ở các hội đồng trên nữa cũng thế. Các thành viên hội đồng phải là những người thật sự xuất sắc trong lĩnh vực mình xét giải.

          Thí dụ như trong lĩnh vực sân khấu thì một là biên kịch, hai là đạo diễn giỏi và nếu có thành phần cán bộ quản lý thì cũng phải là những người am hiểu nghệ thuật. Và theo tôi là, đừng nên mời các bác lớn tuổi quá tham gia. Vì các bác ấy là những cây đa, cây đề và các bác ấy ít đọc, ít xem, ít nghe các tác phẩm của các thế hệ đi sau.

          – Không cập nhật…

          – Không cập nhật là một chuyện nhưng mà sức khỏe cũng có hạn. Đấy là chưa kể chuyện một số bậc lão làng lại coi lớp trẻ như là một lũ trẻ ranh. Tôi nói ví dụ nhé. Tôi với anh Đỗ Chu là những người rất thân nhau, quá thân nhau, điều này ai cũng biết. Hầu như tuần nào anh Đỗ Chu cũng đến chỗ tôi chơi, anh em thân nhau lắm.

          Thế mà khi người ta xét kết nạp tôi vào Hội Nhà văn Việt Nam thì anh Đỗ Chu là người duy nhất không bỏ phiếu cho tôi. Tôi hỏi, tại sao anh em mình quý nhau thế mà anh lại không bỏ phiếu cho tôi là làm sao?! Thì ông ấy nói tưng tửng luôn: Thì tao có đọc của mày đâu?! Đó cũng là tính cách chân thành của Đỗ Chu. Mà tôi lại rất quý cái sự chân thành đó của anh ấy.

          Nhưng theo tôi, nếu bây giờ lại mời những người như anh Đỗ Chu vào Hội đồng để thẩm định văn chương thì cái đó quá dở, vì sẽ chệch, vì anh ấy rất ít chịu đọc của người khác. Đấy là còn chưa nói đến những người mà lòng không rộng, họ sẽ nghĩ mình như thế này, mình ngồi xét nó được giải trong khi mình lại chưa được.

          Mà cũng không nên đưa những người nào chưa được giải vào xét giải cho những người khác. Tất nhiên, tôi nghĩ những người lòng hẹp như thế không nhiều, bởi văn nghệ sĩ chúng ta lòng thường rất rộng, nhưng không phải là không có những người “lòng xe điếu”. Tôi nghĩ là chúng ta nên học ở các nước, phải để các viện sĩ ngồi xét chọn kết nạp các viện sĩ mới.

          – Theo ông, nên tổ chức xét chọn như thế nào?

          – Phương án tối ưu nhất, theo tôi là thế này: các hội nghề nghiệp khi xét giải, kể cả giải hàng năm, phải để cho tất cả các hội viên cùng bầu. Trong sân khấu hay trong âm nhạc cũng thế. Làm việc này có khó khăn gì đâu vì mỗi hội cũng chỉ có mấy trăm đến gần một nghìn hội viên thôi. Và trên cơ sở bỏ phiếu đó thì Hội đồng cấp Nhà nước sẽ xét luôn. Làm vậy sẽ tránh được tình trạng xin – cho. Và làm  vậy thì ai được cũng thoải mái mà ai không được cũng thoải mái.

          – Đợt xét giải thưởng tới này, ông có tiếp tục hay tự rút?

          – Tôi nghĩ thế này, năm nay tôi không buồn, không cay cú gì cả. Trước hết là tôi cám ơn 5 người đã bỏ phiếu cho tôi. Và tôi muốn nói với hai người không bỏ phiếu cho tôi là các anh làm thế là không công bằng.

          Và nếu đợt tới mà hội đồng  xét giải ở cấp cơ sở vẫn 7 người như thế, thì tôi sẽ rút vì nếu ở lại thì tôi cũng vẫn chỉ được 5 phiếu, cho dù từ giờ tới lúc đó tôi có viết thêm bao nhiêu tác phẩm nữa. Ai đã bỏ cho tôi thì vẫn bỏ cho tôi, còn ai không bỏ cho tôi thì vẫn không bỏ cho tôi…

          Còn nếu thành phần hội đồng hợp lý và đích thực và chuẩn hơn, thì tôi tiếp tục tham gia. Nói gì thì nói, tôi vẫn muốn có phương án là ở các hội văn học nghệ thuật thì đợt xét thưởng tới, Nhà nước sẽ cho tất cả các hội viên cùng bầu.

          – Ông có tin rằng trước sau thì ông cũng sẽ được giải?

          – Tôi tin rằng trước sau gì nếu còn những giải thưởng như thế này thì tôi chắc chắn sẽ được giải, mà không chỉ Giải thưởng Nhà nước đâu mà cả Giải thưởng Hồ Chí Minh nữa. Mà cũng có thể là lúc tôi không còn trên cõi đời nữa mới được giải, nhưng chắc chắn sẽ được (cười sảng khoái).

Hữu Ước

Thơ viếng Cụ Tổ

Nhà nghèo sắn độn rau dưa,

Ruột bầu canh cáy cơm đưa mát lòng

Lớn lên thả chí tang bồng,

Cửa quan thì hẹp, lối vòng khó chơi

Mượn men ngang dọc với đời

Hai vai gánh nặng cơ trời dọc ngang

Điếu cày rượu đế xênh xang

Công danh thành đạt bằng tràng vỗ tay

Đôi bờ sóng tím chiều nay,

Lòng người muôn thuở chỉ say nghĩa tình…

Hà Tĩnh, ngày 6/10/2011clip_image001

  Mỹ Trần-Khánh Băng và Minh Huyền thực hiện

(Nguồn: Báo Công an Nhân dân)

  ————————————————–

KHI HỮU ƯỚC “LÊN ĐỒNG” NGHỆ THUẬT

          Đỗ Minh Tuấn

          Tháng 7-2005, khi PV báo Thể thao & Văn hoá hỏi Thiếu tướng-Nhà văn Hữu Ước: “Có lẽ anh chỉ thiếu nhạc và họa nữa sẽ trở thành người “súng bắn hai tay, lựu đạn quăng cả chùm“? Hữu Ước đã trả lời rất hồn nhiên:“Nhạc thì có rồi. Tôi không viết nhưng nhạc sĩ Đăng Nước đã phổ nhạc cho bài thơ Tình là của tôi. Còn hội họa thì tôi chịu thật.”

          Ấy vậy mà hai năm sau Hữu Ước đã lại lên đồng trong cơn say âm nhạc và hội hoạ. Chỉ trong vòng mấy tháng anh đã cho ra đời hơn bốn chục bức tranh sơn dầu cỡ lớn và hàng chục ca khúc được dàn dựng công phu trong các chương trình nghệ thuật từ thiện mang tên Ngẫu hứng Hữu Ước, Tiếng lòng và những giọt mưa xuân được tổ chức rầm rộ suốt bảy ngày liền tại Nhà hát lớn vào trung tuần tháng 3 năm 2008. Dư  chấn nhất là chuyện  bức tranh Mậu Tý xuân của anh kính tặng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và được Thủ tướng tặng lại chương trình đã có người mua với giá 9 tỷ đồng để góp phần mua 1200 con trâu tặng bà con các tỉnh miền núi đã bị thiệt hại trong trận rét lịch sử vừa qua.

          Vị tướng và nghệ sỹ

          Hữu Ứớc là nhà báo giỏi, đã tạo ra thương hiệu An ninh thế giới có tiếng trong làng báo Việt Nam, Hữu Ước là nhà viết kịch có nghề đã tung ra 15 vở kịch gây tiếng vang và rất ăn khách. Nhưng huyền thoại về nghệ sỹ Hữu Ước bắt đầu lớn dậy kể từ khi anh viết nhạc, vẽ tranh và tổ chức các chương trình từ thiện. Ấn tượng ấy lại sinh động rối ren thêm nhờ mối quan hệ “Mình với ta tuy hai mà một-Ta với mình tuy một mà hai” giữa tướng Hữu Ước và chàng nghệ sỹ cùng tên.

          Tagore có kể chuyện về một người mài gươm rất sắc, có thể chém xả đôi một ai đó trước khi người ấy kịp nhận ra, nhưng nếu người bị chém khẽ cựa mình, hai nửa của anh ta sẽ bị tách đôi ngay lập tức. Lưỡi gươm nghệ thụât cũng sắc như vậy đấy, nó đã xả đôi con người Hữu Ước ra thành hai nửa vị tướng và nghệ sỹ từ lúc nào không biết. Thế rồi, vào một ngày đẹp trời, Hữu Ước khẽ rùng mình khi thần hứng nổi lên và con người Hữu Ước tách đôi ra. Người nghệ sỹ-hiệp sỹ bắt đầu chung sống công khai cùng vị tướng-nhà báo.

          Ấy là cái ngày tự nhiên ông Tổng biên tập (TBT) Hữu Ước nổi ngẫu hứng và bắt đầu sáng tác nhạc. Ước bảo quân kiếm cho tài liệu ký xướng âm. Khi mang cuốn Đô rê mi tự học đến cho sếp, tay trợ lý tý ngất khi nghe sếp tuyên bố: “Anh vừa viết xong một ca khúc, cần cái này để ký âm cho chuẩn xác. Món “son fe” này, ngày xưa học ông Lê Đóa mấy tháng, giờ nhiều cái rơi rụng, đã mấy chục năm còn gì”. Quả thực trí nhớ của Ước không tệ, dù đã xa cái thời văn nghệ Biên phòng, nhưng khi lật sách ông cũng vẫn nhận ra những ký hiệu quen thuộc trong cái mớ ký âm như chè đỗ đen thời trai trẻ với cây guitar. Nào là Son trưởng, Pha thăng thứ, rồi thì đảo phách, rồi thì mắt ngỗng. Tuy vậy, vừa “Son fe” vừa tra cứu các ký hiệu, để chép được trôi chảy, phải ôn lại cỡ vài tuần, quá mất thời gian. Mà thì giờ của ông thiếu tướng này luôn bị “âm”, kiếm đâu ra thời gian cho móc đơn móc kép, luyến lên với chả luyến xuống. Cách này không ổn rồi. Ước có sáng kiến ngay, tự cầm máy ghi âm, bấm nút record và cất giọng. Việc còn lại là “chuyển giao công nghệ” cho nhạc sĩ Phạm Ngọc Khôi và nhạc sỹ Lê Tâm chép lại và thu âm. Đương nhiên là năng suất. Vì nó cho ra đời ngay Album “Hát chơi”, CD đầu tay của Hữu ước với tốc độ kỷ lục, chỉ hơn một tháng. Ngay sau đó ít lâu, Album 9 ca khúc Hữu Ước lại tiếp tục trình làng. Bạn bè kéo đến, Ước tặng CD, rót rượu rồi bật Amply, mở nhạc. Cứ y như cái hồi tôi nuôi chim cút cuối thập kỷ 80, ai đến chơi cũng dẫn ra thăm chuồng chim và mời ở lại nhắm rượu cùng chim cút rán! Mọi người nghe nhạc Hữu Ước ngạc nhiên, gật gù, xúc động, rồi hoan hỷ khích lệ chàng nhạc sỹ tay ngang viết tiếp. Không chỉ nghe chiêu đãi nhạc “chín”, Ước còn tự hát rất say sưa. Giọng của Ước có âm vực rộng, vang và ấm, cao độ rất chuẩn xác, không hề phô một tí nào. Mấy ông nhạc công rất ngạc nhiên không hiểu sao chẳng cần nghe dạo đàn mà Hữu Ước cứ hát bài Mẹ tôi là y như rằng đúng giọng Fa thăng thứ.

          Thú thực, lúc đầu tôi nghĩ chắc nhạc Hữu Ước cũng chỉ èng èng thôi. Nhưng khi nghe bài Mẹ tôi, bắt gặp cao trào chuyển điệu bất ngờ từ giọng thứ sang giọng trưởng, từ thủ thỉ nghẹn ngào đến tiếng gọi xé lòng mãnh liệt, cũng tự nhiên gai hết cả người. Song, nếu Hữu Ước cứ sòn sòn đẻ ra các ca khúc mới, không bị bế tắc, thì có lẽ con người hoạ sỹ trong anh sẽ bị chết dấm chết dúi không thể có cơ hội ngóc đầu lên. Vào một ngày xấu trời, Hữu Ước bật máy ghi âm lên mà không nghĩ ra giai điệu nào vừa ý. Thế là ông tướng đa tài tắt phụt cái máy “nhại”, nghĩ ngay cách xoay sang vẽ để mở đường thoát cho con mãnh thú ngẫu hứng đang lồng lộn trong tim. Hữu Ước bảo trợ lý: “Mày mua hộ anh ngay một bộ đồ nghề, họa phẩm. Anh bắt đầu vẽ tranh”. Tuy bị bất ngờ nhưng ai ở báo này cũng biết, sếp Ước đã nói là không đùa. Chỉ sau 2 tiếng đồng hồ, bộ đồ nghề ấy đã được rước về phòng sếp. Và thế là một xưởng họa Hữu Ước ra đời, với tốc độ kỷ lục, có thể ghi vào Ghi-nét. Lướt qua đống đồ vẽ, tướng Ước xua tay: “Những cái toan khổ lớn thì để đây, những cái bé bé này mang hết đi. Anh đã vẽ là chỉ vẽ khổ lớn, cái bé tí tủn mủn vẽ làm gì…À những cái bút nhỏ, màu nước cũng mang cả đi! Vẽ sơn dầu, phải cầm  bay mới phóng tay được…”
Thế là Ước nhảy thẳng vào dùng bay vẽ tranh sơn dầu tấm lớn luôn, y như một cầu thủ chưa hề đá bóng một lần nhưng vừa khai cuộc đã hùng hục lao lên, bắn phá khung thành đối phương theo kiểu bóng đá Anh, không thèm qua giai đoạn tập tành rê dắt rồi tâng bóng…

          Cứ ngỡ chàng nghệ sỹ đa tài vừa  chìm trong cảm hứng âm nhạc về mẹ và đồng đội sẽ cầm bay vẽ một mẹ hiền đứng bên những nấm mồ liệt sĩ giữa rừng xanh, ai ngờ bức đầu tay, anh lại vẽ một một hình ảnh trừu tượng về thế thái nhân tình có tên là Vòng xoáy. Hình ảnh vòng xoáy, vòng đời, vòng vây  đã ám ảnh trong tư duy của Hữu Ước. Trong ba vở của Hữu Ước được Hội nghệ sỹ Sân khấu trao giải thưởng thì có hai vở có cái tên dính đến vòng tròn là Vòng xoáy và Vòng vây cô đơn. Những anh nhìn vào đâu cũng nghĩ đến tiền hẳn là sẽ hồ nghi, chắc Hữu Ước nhận tài trợ quảng cáo đặt vòng của UB dân số Kế hoạch hoá gia đình! Nhưng đọc kịch xem tranh của Ước mới biết đó là cái vòng xoáy cuộc đời quẩn quanh oan nghiệt ám ảnh chàng nghệ sỹ. Có lẽ kịch chỉ nói được cái bề nổi của vòng xoáy cuộc đời, chưa nói được cái vòng tối tăm bí ẩn thẳm sâu, nên vừa mới cầm cọ lần đầu Ước đã  “bụp” luôn trên mặt toan cái vòng xoáy âm u với đôi mắt như nhìn lên từ đáy vực. Trong các bức tranh sau đó của Uớc thường xuyên xuất hiện những vòng tròn, khi hiền hoà trắng muốt như trăng đêm, khi cuồn cuộn tối tăm như xoáy lốc, lúc lại đỏ ngầu như núi lửa sục sôi…Nhưng không có vòng tròn nào bị Ước dơ ngón tay cào xé như vòng tròn trong bức tranh đầu tay. Ước kể với tôi: “Vẽ mãi vẫn không thấy hài lòng, vẫn cảm thấy thiếu thiếu một cái gì, thế là mình dơ tay cào một cái vào mảng màu. Tự nhiên thấy ổn”. Không phải ông tướng này bị vòng xoáy cuộc đời chà xát cho nhiều phen đau đớn nên báo thù bằng cách cào cho nó một cái khi thấy nó hiện hình vênh váo trên toan, mà chàng hoạ sỹ bẩm sinh đã không cưỡng nổi cảm xúc của mối tình đầu nên đã thể hiện tình yêu một cách bản năng như chú hổ già cào yêu trên mặt lũ hổ con! Cái khoảnh khắc cào vào tranh đó chính là lúc Hữu Ước rùng mình làm ông TBT và người Nghệ sỹ trong anh tách đôi ra sau nhát chém ngọt bén của lưỡi gươm sáng tạo. Nhưng hai vị này sau khi tách đôi ra vẫn sống chung trong một căn buồng hơn ba chục mét vuông vừa là buồng họp, buồng  làm việc ký duyệt bài, vừa là xưởng vẽ ở tầng hai 100 phố Yết Kiêu, y như các cặp vợ chồng vẫn sống chung  trong một căn hộ sau lúc ly thân..
Tiếng là sống chung như thế nhưng xem ra ông nghệ sỹ có vẻ hồn nhiên lấn sân ông TBT. Khi vào tìm ông TBT thì lại thấy ông hoạ sỹ tay bê bết sơn dầu đang đứng trước hai ba bức tranh vẽ dở. Ông hoạ sỹ vẽ xong lại có quân của ông TBT hí hoáy ngồi rửa bút, treo tranh, khênh tranh gọn vào một chỗ. Ông hoạ sỹ Hữu Ước bôi cả màu vào sa-lông chỗ ông TBT Hữu Ước thường ngồi. Được cái là cả hai ông cùng có chung cái thú rít cái điếu cày nhoe nhoét màu sơn! Từ khi có ông hoạ sỹ sống chung, ông TBT khó tính lại hay cười hơn, cơ quan tự nhiên hưởng thái bình.

          Tuy làm phiền nhau như vậy, nhưng ông TBT Hữu Ước và ông hoạ sỹ Hữu Ước vẫn chia sẻ ý tưởng sáng tạo với nhau. Ông Tổng biên tập hay nghĩ ra những ý tưởng thâm sâu để “bơm” cho ông hoạ sỹ vẽ tranh. Ông  hoạ sỹ lúc đầu bắt tay vào vẽ thì tâm tâm niệm niệm những ý tưởng đầy chất trí tuệ của ông nhà báo, nào là thân phận nhân dân như thân cò lặn lội phải có bốn chân, nào là ván cờ thế sự chỉ là ván cờ hoà, nào là số phận kẻ sỹ như những kẻ bất khuất ngồi dưới gốc cây xanh trong mộ…Nhưng khi bị sắc màu rủ rê, anh ta lại lao theo những cảm xúc mênh mang cuồng phóng để vung bút chém bay trút lên mặt toan những đường nét dữ dội thâm u với những tảng màu đầy cảm xúc hồn nhiên, tươi mới, thoát hoàn toàn khỏi những ý tưởng khô cứng ban đầu mà nhà báo đã gà cho. Ông nhà báo chẳng biết chàng nghệ sỹ phóng túng đã thăng hoa trong một thế giới mênh mang kỳ diệu khác, vẫn cứ đem những ý tưởng rành rẽ ban đầu ra để giảng giải về tranh của ông bạn cố tri.

          Tôi có đưa cuốn tranh của Ước cho nhà quay phim Trần Hùng, người quay phim Thời xa vắng và Chuyện của Pao xem. Trần Hùng khen lắm, bảo tranh Ước hồn nhiên, có chất dữ dội của Van Gogh, có thể chọn ra sáu bảy bức đẹp. Bức Hoa khôn trông như tranh của  một bậc mét. Tôi a lô hoạ sỹ Thành Chương xem anh đánh giá tranh của Ước thế nào, Thành Chương thẳng thắn: “Xem tranh không nên căn cứ vào chuyện có bài bản không, có tay nghề không để dánh giá những tác phẩm a-ma-tơ như tranh Hữu Ước. Khi Hữu Ước mới vẽ cũng có gọi tôi đến xem để góp ý, quả thật tôi cũng ngại vì không biết ông ấy vẽ ra sao. Đến khi tới xem thì rất thích thú vì tranh Hữu Ước trong sáng, hồn nhiên, nhiệt huyết phơi bày lên mặt toan một cách có nội lực. Sự tươi mới, hồn nhiên ở những người chuyên nghiệp như tôi bị bào mòn đi nhiều nên tranh Hữu Ước dội lại cho mình một suy nghĩ muốn có những cảm xúc đó. Bức tranh Xuân Mậu Tý sắp bán đấu giá ở Nhà hát lớn mình thấy rất đẹp”.

          Quả thực đó là bức tranh đẹp. Khi bản in bạt khổ lớn bức tranh có chữ ký của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thả xuống từ trên trần Nhà hát lớn, nhìn con chuột vàng khổng lồ sống động giữa triền núi đầy hoa tím, tôi chợt thấy đuôi nó giống đuôi voi. Về hình hoạ thì không ổn rồi, nhưng về tâm linh thì lại cực hay. Vì “Đầu chuột đuôi voi”, ứng với sự có hậu của chương trình từ thiện-chương trình đã quyên góp được số tiền mua 1200 con trâu vượt nức so vơi kế hoạch 1000 con lúc đầu.

          Khôn và dại như nhau

Khi đến Nhà hát lớn vào buổi sáng 10-3 để xem duyệt chương trình, tôi nghĩ chắc anh chàng Ước sẽ ngồi thu lu một chỗ cười hiền dịu để chiều mấy em diễn viên xinh xắn và các nghệ sỹ lừng danh đang thể hiện những ca khúc của mình. Không ngờ ông nghệ sỹ tay chơi này “hách” quá, đúng là một ông tướng, quát nhạc công ca sỹ cứ xơi xơi: “Sao em cứ lẩn phía sau mọi người như vậy? Đẹp như thế, sợ gì mà phải nấp đằng sau? Sao mặt mũi vô hồn thế? Bài hát xúc động thế phải  biểu diễn có hồn chứ!” Hữu Ước nói với nhạc trưởng bằng một giọng rất là…ngẫu hứng: “Có lẽ bỏ cái bè cao đi ông ạ! Nghe nó không vào lắm”. Có lúc Ước còn doạ ca sỹ: “Các cậu mà hát không ra là tôi lên hát đấy!” NSND Trần Hiếu tập làm MC cùng hoa hậu Giáng Mi mặt thì hớn hở, nhưng lúng ta lúng túng trông mới tội làm sao! Bác nghệ sỹ vui tính bên người đẹp cũng ra sức làm dáng, cố nói theo trí nhớ cho tự nhiên, thành ra lập bập, bị Hữu Ước đứng lên sì-tốp lại giữa chừng: “Sai rồi anh ơi! Nhạc và lời Hữu Ước chứ không phải sáng tác Hữu Ước. Anh cứ cầm giấy mà đọc cho chính xác!”

          Chất gia trưởng của Hữu Ước hiển nhiên là có phần bản lĩnh của một vị sỹ quan từng trải. Trước đây khi đạo diễn Doãn Hoàng Giang dựng kịch của Ước, khi không hài lòng Ước cũng thẳng thắn đề nghị ông đạo diễn lừng danh kia “ra hình” để mình dàn dựng tiếp. Tôi hiểu cái tự tin của người nghệ sỹ khi nhân danh cảm xúc vì tôi cũng đã từng nhân danh cảm xúc của đạo diễn để đòi các nhạc sỹ Trọng Đài, Đặng Hữu Phúc, Đỗ Hồng Quân sửa lại nhạc khi thu thanh nhạc phim. Nhưng tôi phát hiện thấy trong cái tự tin thẳng thắn của ông tướng này có tư thế của một con người sòng phẳng. Nếu có chút gì chưa minh bạch trong sáng tác, hay ú ớ ngoại đạo, phải luỵ vào ngón nghề của các ca sỹ và nhạc sỹ,  thì Hữu Ước đâu có thể “hô hét” những người đang cộng tác với mình như vậy?

          Cũng hay thật đấy. Cứ nghĩ anh chàng này “thần kinh”, “liều mạng” khi mới tập tọng vẽ vời viết nhạc mà dám vác ca khúc và tranh pháo ra Nhà hát lớn “khủng bố” bà con suốt bảy đêm liền, lại còn bán vé giá trên trời như giá vé chung kết bóng đá Uôn-cắp vậy! Ây vậy mà hàng ngàn người lũ lượt kéo nhau đi xem kín khán phòng, vỗ tay ròng rã bảy đêm, đến màn kết, khán giả vẫn chưa nguội hào hứng. Biết lý giải thế nào nhỉ? Cứ như Tôn Ngộ Không vừa nhổ lông thổi phù thành tranh, thành nhạc, thành sân khấu với hàng trăm nghệ sỹ điệu đàng lộng lẫy, múa may cuồng nhiệt, chơi nhạc say sưa. Mà bảy ông nghệ sỹ nhân dân Thất thập cổ lai cứ hơn ha hớn hở, nhảy nhót tưng tưng hát bài về nghệ sỹ, giai điệu rộn rã là thế, mà ca từ lại vui buồn trĩu nặng. Hữu Ước đã tạo ra một tiền lệ mở toang cánh cửa cho những cuộc chơi nghệ thuật  trước đây chưa hề có. Ước đã chứng tỏ cho đời thấy rằng một người chưa bao giờ vẽ và viết nhạc, nếu muốn, có thể trở thành hoạ sỹ và nhạc sỹ, có thể thực hiện một chương trình 7 đêm liền hoành tráng tại Nhà hát lớn, lại có thể bán tranh với giá hơn nửa triệu đô la!
Tôi khoái cuộc chơi của Ước khi hình dung cha này giống như một anh hùng áo vải làm một cuộc “khởi nghĩa nông dân” trong nghệ thuật, cầm đầu đội quân “nghệ thuật vị nhân sinh”, kéo theo 1200 con trâu và hàng vạn nông dân nghèo khổ tràn vào vương quốc thơ ca nhạc hoạ dẫm bẹp bao nhiêu thứ hàng mã đạo đức và nghệ thuật tháp ngà, cao đạo. Lần đầu tiên tiếng hát xẩm bao đời nay bị coi là nghệ thuật của những kẻ ăn mày được vang lên tại  Nhà hát lớn – một cung điện nghệ thụât hàn lâm. Cha Ước này lấy đâu ra năng lượng để làm những chuyện động trời, phá bỏ những tiền lệ cũ như vậy? Có lẽ vì cha này đã vượt lên chuyện dại khôn, ý thức rõ ràng “khôn và dại như nhau”, tự biết mình “vừa khôn vừa dại”, “vừa dại vừa khôn”? Chẳng phải Khôn và Dại là một trong ba ám ảnh lớn xuyên suốt các tác phẩm nghệ thuật của lão ta bên cạnh ám ảnh về người Mẹ và ám ảnh về vòng xoáy cuộc đời đó sao?
Trong lúc bảy ông NSND đang say sưa hát trên sân khấu: “Ai bảo dại là dại-Ai bảo khôn là khôn” thì tôi lang thang ngoài sảnh Nhà hát lớn xem lại mấy bức tranh, thấy Hữu Ước đứng cạnh cặp tranh Hoa dại và Hoa khôn.
– Hoa dại, hoa khôn là gì hả anh, em không hiểu?- Một cô gái đứng bên nhìn hai bức tranh, hỏi Ước.

          – À, hoa dại nó ngang tàng phóng túng và gai góc, nó như anh nghệ sỹ ấy nhiều khi cứ như chọc vào mắt những người ngắm nó. Còn hoa khôn nó nằm yên hiền lành trong lọ, nhiều người thích nhìn nó. Đây là những con mắt của người đời – Ước chỉ vào  hình những con mắt trên lọ hoa…

          Ước không nói mình là hoa dại hay hoa khôn, nhưng có lẽ tay này coi con người nghệ sỹ hiệp sỹ là con người dại và kiêu hãnh lắm với cái dại này. Theo quan niệm khá phổ biến hiện nay thì người khôn là người không lộ diện, không chường mặt ra chịu trách nhiệm với đời, mà thường là “muốn ăn gắp bỏ cho người”, ném đá giấu tay, ra vẻ khiêm tốn và ngoan ngoãn. Theo quan niệm thế thì Ước là người dại. Không dại mà lại in thơ mình trên báo mình, tự bỏ phiếu cho mình, rồi công khai chuyện ấy để chịu tiếng thị phi? Ước nghĩ giản dị, phải công bằng với chính mình, không thể là “ngụy quân tử”. Với mình còn bất công thì có thể công bằng với ai trên đời nữa? Tại sao mình có thể in thơ cho những người viết không hay bằng mình, mà thơ mình lại in trên báo khác? Tại sao mình thấy mình xứng đáng lại không dám tự bỏ phiếu cho mình vào Ban chấp hành vào các chức danh của Hội nọ, Ban kia? Và cái bản lĩnh hiệp sỹ-nghệ sỹ tự  tin “dại dột” đó, cái tha cũng ít nhiều đem thêm cho Ước những khoảnh khắc cô đơn.

          Mong có nhiều Hữu Ước

          Trước khi chương trình Ngẫu hứng Hữu Ước diễn ra, dư luận đã xì xào râm ran trong nhà ngoài ngõ.Trên chiếc máy bay Boing 777 từ TP Hồ Chí Minh ra Hà Nội tôi tình cờ được gặp NSƯT Bằng Thái, Trưởng đoàn kịch nói Quảng Ninh. Với một giọng cởi mở, bỗ bã, chân tình, anh Thái nói như cãi nhau với  một thái độ nào đó về Hữu Ước: “Nhiều anh cứ lên giọng dè bỉu chê bai, không muốn thừa nhận giá trị nghệ thuật của những tác phẩm anh Ước đã tung ra. Tôi bảo thẳng họ, các anh hãy cứ làm được như anh Ước đi! Anh ấy viết hàng chục vở kịch, vở nào cũng ăn khách. Ăn khách kiểu gì thì kệ người ta. Mình trong nghề không làm được lại cứ chê. Nhạc cũng thế, chê nhạc Hữu Ước, hãy thử viết vài bài như anh ấy viết đi xem có bằng không? Mấy cái Câu lạc bộ cũng vậy, cứ ra vẻ cao đạo, tôi bảo thẳng, cứ mời Hữu Ước vào tham gia đi, anh ấy chỉ có làm sang  thêm cho các anh thôi. Vì anh ấy trân trọng nghệ sỹ và nghệ thuật”.
Xung quanh chuyện bán tranh để làm từ thiện với giá cao ngất trời cũng có nhiều ý kiến bàn ra tán vào, kinh ngạc khen chê, rồi ghen tỵ, ngợi ca, thôi thì đủ kiểu. Người thì bảo tranh của ông tướng ấy thì làm gì mà có giá trị cao đến thế, chẳng qua là người ta mua để lấy lòng ông thôi! Người thì bảo giá cả ấy phá vỡ hết mặt bằng giá trị, nếu so với mức sống của dân và mức thu nhập của người Việt Nam thì giá tranh mà Hữu Ước bán được là cao nhất thế giới rồi. Nghe vậy, hoạ sỹ Thành Chương phẫn nộ: “Trước kia để có tiền chia cho người nghèo các hảo hán giang hồ còn đi ăn cướp của nhà giàu. Cướp của giết người vì người nghèo còn được đời ca ngợi huống chi một chương trình nghệ thuật sạch sẽ công phu như thế! Một con người làm từ thiện như vậy rất đáng quý. Tôi mong đất nước này có nhiều Hữu Ước để bà con nghèo được nhờ. Những người không bao giờ bỏ ra một cắc làm từ thiện lại cứ đố kỵ dè bỉu chê bai những người như ông Ước. Mấy hôm nay tôi cũng phải tranh luận rất nhiều”. Nhạc sỹ Trọng Bằng thì điềm đạm hơn:“Không phải ai cũng làm được như vậy đâu! Phải dày công, công phu, có tâm. Không nên bàn nhiều về nghệ thuật mà nên bàn về hiệu quả”.
Tôi là dân mê Tử vi nên nhìn cuộc chơi của Ước từ góc độ anh thầy bói. Hoá ra lão này bợm thật, lão ấy làm lớn mà thành công được như vậy vì lão đã bày ra các trò theo thế Tam hoá Liên châu cực đẹp trong lá số Tử vi. Này nhé, những ngươì nông dân nghèo khổ và 1200 con trâu ngoe ngẩy đuôi đứng ở trung tâm, vây quanh họ là ba ngôi sao Hoá Khoa (các trí thức văn nghệ sỹ) Hoá quyền (các chính khách) và Hoá lộc (các đại gia, các nhà tài trợ). Trong cái thế Tam Hoá Liên châu ấy, tranh của lão được trưng ra giống như cái bát của các nhà sư khất thực vẫn chìa ra trước mặt thiên hạ để xin tiền. Có điều, cái bát này to đùng lại được vẽ rất công phu. Do đó, tiền từ thiện đổ vào rất lớn, hoành tráng hơn nhiều cuộc khác. Thế là lão ấy tài chứ! Vẽ tranh, viết nhạc thì có thể là do Trời cho lão lên đồng, nhưng cái tài tổ chức, cái tài làm từ thiện, cái uy tín xã hội, cái đầu óc kết nối những tấm lòng, nguồn lực khác nhau thành một cuộc chơi văn hoá, ở đó hàng vạn người nghèo là đích đến, không bị gạt ra bên lề như các cuộc chơi nghệ thuật phù phiếm cao đạo khác thì là đáng kể chứ! Nếu vì đó là các bức tranh tặng Thủ tướng mà nó được trân trọng hơn, giá bán vọt lên ngất ngưởng, các đại gia bỏ ra vài chục tỷ để mua nó mang về thì bà con nông dân càng được quan tâm, họ sẽ được thêm mấy ngàn con trâu nữa, tốt chứ sao? Khối người có quan hệ với các chính khách và các đại gia, nhưng họ giấu kín trong các két bí mật, khoá ba bốn cái khoá để tránh tai tiếng và để riêng mình trục lợi. Hữu Ước thì lại đem chia sẻ công khai những quan hệ ấy với các văn nghệ sỹ và những người nghèo, lại còn hồn nhiên đem những tác phẩm tranh thơ nhạc của mình ra xây một nhịp cầu cho hàng ngàn con trâu xéo qua đi tới các bản làng đói rét nữa chứ!

          Hàng chục năm nay làm từ thiện, Hữu Ước đã huy động cho người nghèo có đến hàng trăm tỷ. Hàng vạn số phận bất hạnh đã được quan tâm. Vì thế, hoạ sỹ Thành Chương mong có nhiều Hữu Ước thì cũng đúng thôi…(Đỗ Minh Tuấn)

(Nguồn: Web hội nhà văn Việt Nam)

Đây là bài viết  về HU, nhiều người khen là rất hay  nhưng nhiều người cho rằng đó là “khen đểu”.Tùy mọi người nhận định

          _______________

Tướng Ước trong Đại hội Nhà văn Việt Nam năm 2010 ngồi trên ghế Chủ tịch đoàn điều khiển Hội nghị rất oách với sắc phục công an mùa hè cấp tướng, áo quần có nẹp đỏ, trắng phớ. Nhiều người thầm thì: “Chắc là tướng Ước sẽ vào Ban chấp hành, sẽ Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam. Dù có cài cắm người của Tổ chức, và dù là Hội nghề nghiệp chính trị đi nữa thì ứng cử viên cũng phải có tí nghề nghiệp, chứ không thể chế độc tài nào dám đưa dao búa đè nẹt phường trò!
Trong Công an hay Tổ chức có nhà văn chân chính nào đó rỉ tai: – Dù công an dẹp trật tự xã hội rất giỏi nhưng không thể giỏi trong văn chương. Anh em không bầu, không chỉ Hữu Ước mất điểm mà ngành công an mất điểm. Thế là tướng Ước rút lui để bảo toàn danh dự.
Đáng ra tướng Ước oai hơn, uy tín hơn khi đã lì xì nhà thơ Tạ Vũ, nhà thơ Pờ Sảo Mìn mỗi người 1 triệu đồng khi đi giải, bị hai nhà thơ nghèo khổ túm được bên Hội trường Học viện Hồ Chí Minh, nhưng tướng Ước muốn oai hơn lại cãi với nhà thơ, nhà bác học lừng danh Trần Mạnh Hảo.  Hai người đôi co trên diễn đàn Hội nghị như hai anh chị ngoài đường.
Tướng Ước nói: – Tôi có gần chục tờ báo, tờ nào cũng mạnh mẽ mà tôi chưa bao giờ đánh anh, dù anh viết lách, phát biểu không nghe được. Tôi viết trên 30 đầu sách anh không biết sao?
Trần Mạnh Hảo lạnh lùng nói: – Ông có viết trăm đầu sách đi nữa nhưng Hữu Ước không bao giờ là nhà văn!

Anh em ngồi dưới lắc đầu khi hai nhà vỹ đại đang chỉ chỏ lẩn nhau!
Huế ngày 11 – 4 -2012
Đỗ Hoàng

—————————————————-

     Đoạn tự thuật ngắn với tâm trạng hồ hởi của một nhà báo sau cuộc gặp mặt cuối năm chiều qua 13/12/2012 tại Bộ Công an. Vỏn vẹn 145 chữ nhưng lột tả được cái tính khí đặc thù rất Hữu Ước, cùng không khí cuối năm bi hề của báo giới.(Trương Duy Nhất)

  Hoan hô anh Ước

          Chiều này đi họp báo CA, mình đến sớm được chứng kiến chiện hay. Anh Hữu Ước vừa vào ghế ngồi được một bạn lễ tân văn phòng Bộ đưa tài liệu, anh xem thấy có bao thơ liền bóc ra ngay rồi nói rất to” Họp báo BCA mà được có mỗi hai lít, kém quá”, một đồng chí văn phòng Bộ đứng dậy thanh minh, Bộ CA thì chỉ có mỗi thế, cuối năm được 2 nhưng bình thường chỉ được có một thôi. Anh Ước bảo thế hem được, cuối năm thì phải hoành tráng, báo công an tài trợ thêm 5 lít một đại biểu heng. Cử tọa vỗ tay rần rần.

Nhiều người nói, viết về anh Ước, mềng thích nhất câu “Súng bắn hai tay, lựu đạn quăng cả chùm” của anh Đỗ Minh Tuấn”

(Nguồn: facebook Tấm Gương)

——————————————————————-

5.Gặp người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập

thứ 2, 30/04/2012 13:26:21- chuyên mụcTin Tức|Sự Kiện Hàng Ngày |

Chúng tôi may mắn có dịp trò chuyện với ông tại Hà Nội trong một hoàn cảnh khá đặc biệt. Đó là buổi chiều cuối tháng Ba, khi ông đang điều dưỡng theo chế độ tại Bệnh viện 354 thuộc Tổng cục Hậu cần.

Ký ức một thời khói lửa

Năm 1966, Bùi Quang Thận nhập ngũ, thuộc Trung đoàn 48, Quân khu Hữu Ngạn, năm 1967, chuyển sang Đại đội 15 pháo tự hành với nhiệm vụ bảo vệ bờ biển Giao Thủy (Nam Định). Năm 1968, ông được cử đi học lớp cán bộ Tiểu đoàn trưởng. Một năm sau, ông quay trở lại đơn vị và được chuyển về Tiểu đoàn xe tăng 202 rồi 201 và cuối cùng là Tiểu đoàn xe tăng 203 vào cuối năm 1970. Đến đầu năm 1971 thì ông vào chiến trường.

Trò chuyện với chúng tôi, Ðại tá Thận bồi hồi nhớ lại thời khắc lịch sử – hành trình tiến vào Dinh Độc Lập ngày 30/4/1975. “Đúng 4h sáng 30/4/1975, đại đội của tôi nhận được lệnh hành quân tham gia đánh căn cứ Long Bình – Biên Hòa. Đó là căn cứ mà lực lượng tàn quân của địch co cụm về, nên chúng chống trả khá yếu ớt rồi bị ta đánh bật rất nhanh”.

Đến 9h30 ngày 30/4, lực lượng địch co cụm về ngã tư Hàng Xanh, đây là điểm tập trung quân địch tương đối mạnh, vì bị dồn vào thế chân tường nên chúng chống trả khá quyết liệt. Lúc này, chúng tôi quyết định vượt cầu Sài Gòn, quyết chiến với địch. Dù quân địch ra sức chống trả, song do là lực lượng tàn quân nên Đại đội của chúng tôi đã tiêu diệt được cả 4 xe chiến đấu của địch”, ông Thận kể.

Sau khi vượt cầu Sài Gòn, đại đội đã gặp phải sự chống trả của 2 xe M41, chiếc xe tăng 843 huyền thoại đã tiêu diệt gọn 2 xe này để tiếp tục tiến vào Dinh Độc Lập.

Gặp người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, Tin tức Việt Nam, Tin tức trong ngày, cam co tren dinh doc lap, giai phong mien nam, 30/4, thong nhat dat nuoc, ngay lich su, dinh doc lap, gianh thang loi, cam co To quoc, bao, tin hay, tin hot, tin tuc

Chiếc xe tăng 843 huyền thoại – Ảnh: TL

Ông Thận nhớ lại: “Khi nhận nhiệm vụ chiến đấu, đồng chí Chính ủy Bùi Vân Tùng dựa vào bản đồ du lịch của TP Sài Gòn giao nhiệm vụ cho tất cả các xe tăng của lữ đoàn: Không phân biệt, nếu xe nào vào tới Dinh Độc Lập trước thì có nhiệm vụ đánh chiếm và cắm cờ trên nóc”. Vì có nhiều đường để tới Dinh Độc Lập, nên xe tăng 843 của ông Thận đã vượt lên trước, đi về hướng ngã tư Hàng Xanh. “Từ cầu Thị Nghè cho đến Dinh Độc Lập, lực lượng của địch không còn chống cự, chúng tôi thẳng tới cổng phía Tây của sở thú Sài Gòn, đến đây thì anh em lúng túng vì không biết Dinh Độc Lập nằm ở chỗ nào. Nhưng rất may, khi xe dừng giữa đường thì có một phụ nữ đi xe Honda chạy qua, chúng tôi hỏi đường thì chị ta nói: “Dinh Độc Lập ở ngay trước mặt các ông”. Hóa ra, mình đang đứng trước cửa Dinh Độc Lập mà không biết”, Đại tá Thận hóm hỉnh cười.

Câu chuyện về lá cờ cất giữ trong xe tăng

Rít một hơi thuốc thật sâu, khẽ nhíu mày nhả khói rồi ông nói tiếp: “Lúc đó, xe chúng tôi cách cổng Dinh Độc Lập chừng 50m thì đồng chí Trung đội trưởng hạ lệnh cho pháo 2 nạp đạn nhằm thẳng Dinh bắn. Nhưng oái oăm thay, pháo không nổ, thế là chúng tôi lại phải tháo ra nạp lại lần thứ 2. Pháo vẫn không nổ! Trung đội trưởng quyết định không bắn nữa, để dành quả cuối cùng, rồi ra lệnh cho lái xe ngắm chính giữa cổng Dinh mà húc”.

“Sau khi húc đổ cổng Dinh, xe 390 đỗ xịch trước Dinh, Chính trị viên Đại đội Vũ Đăng Toàn xách AK nhảy xuống, chờ tôi cầm cờ tiến vào. “Lúc này, không đợi anh em lắp cán, tôi quyết định rút cần ăng-ten làm cán cờ rồi nói: Sau 5 phút không thấy tôi ở trên cột cờ, còn một viên đạn pháo thì nhằm thẳng Dinh bắn nốt”, ông Thận kể. Lúc đó, ông Thận cũng hơi lo khi thấy bên trong lố nhố nhiều người mặc quân phục. Và có lẽ do “cảnh giác cao độ” quá nên ông lao thẳng vào cửa kính, ngã bật ra phía sau nhưng tay vẫn cầm chắc lá cờ. Lúc này, từ trong Dinh, một người bận đồ dân sự chạy ra, thân thiện mời hai anh lính tăng giải phóng vào. Một thoáng bối rối, cuối cùng ông Thận đề nghị Chính trị viên Toàn ở lại “canh chừng” các thành viên nội các và chờ cấp chỉ huy đến, còn mình phải thực hiện cho được nhiệm vụ cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập.

Người được lệnh hướng dẫn ông Thận đi thang máy lên nóc Dinh cắm cờ là Đại tá Chiêm, chỉ huy trưởng lực lượng phòng vệ Phủ Tổng thống Ngụy. Ngoài ra, còn có hai người nữa đi theo ông lên cột cờ là sinh viên Nguyễn Hữu Thái (cựu Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn) và Tiến sĩ báo chí Huỳnh Văn Tòng. Đại tá Chiêm dẫn ba người đến trước thang máy. Đến nơi, ông Thận cảnh giác và nhất quyết không chịu vào. “Lúc đó tôi thấy thang máy giống như… cái hòm. Vào đó nó nhốt mình luôn, biết bao giờ mới ra được!”, ông nhớ lại. Sau khi được sự giải thích của Đại tá Chiêm, ông Thận mới chịu vào nhưng vẫn cảnh giác và yêu cầu 3 người vào trong trước, ông vào sau.

Lên đến cột cờ, ông kéo lá cờ giải phóng lên sau khi viết và ký tên vào lá cờ: “11h30 ngày 30/4. Thận”. Ông chia sẻ: “Thực ra, khi ký tên, mình không nghĩ vấn đề gì cho cá nhân. Vì trong chiến đấu, hy sinh cả mạng sống còn không nề hà chứ chưa nói gì đến tư lợi cá nhân. Lúc đó, tôi chỉ nghĩ đơn giản, nếu chẳng may sau này tôi có hy sinh thì mọi người sẽ biết lá cờ đó là của Trung đoàn 203 và chiếc xe tăng 843 chúng tôi đã lái”. Mọi giãi bày cũng chỉ muốn nói lên một điều: Trong chiến tranh, người lính hết lòng vì Tổ quốc chứ không hề riêng tư một điều gì.

Ông Thận lúc đầu định ném lá cờ ba sọc xuống sân, nhưng sau đó, nghĩ đi nghĩ lại, ông xếp lá cờ lại rồi đem xuống cất vào chiếc xe tăng 843 của mình. Cũng nhờ vậy mà sau này ông Thận mới đưa ra được “bằng chứng” khi cấp trên cho người đi xác minh: Ai là người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập. Lá cờ cất trong xe tăng của ông Thận có một vết rách trùng khớp với phần còn sót lại trên cột cờ.

Gặp người cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập, Tin tức Việt Nam, Tin tức trong ngày, cam co tren dinh doc lap, giai phong mien nam, 30/4, thong nhat dat nuoc, ngay lich su, dinh doc lap, gianh thang loi, cam co To quoc, bao, tin hay, tin hot, tin tuc

Ông Thận cùng vợ trong một lần thăm lại Dinh Độc Lập – Ảnh: TL

Về với đời thường

Cuộc sống vốn dĩ là những chuyến đi mà người ta không thể biết rõ mình sẽ ra sao. Sài Gòn giải phóng, chiến tranh kết thúc, Bùi Quang Thận trở lại phục vụ quân ngũ. Cuối năm 1978, ông được cử đi học ở Liên Xô (cũ), đến năm 1983 ông về nước, làm Lữ đoàn phó Lữ đoàn xe tăng 203, cuối năm 1981, ông được giao làm Lữ trưởng và đến năm 1991, ông giữ trọng trách Chủ nhiệm Tăng thiết giáp Quân đoàn 2. Sau gần 40 năm phục vụ trong quân ngũ, năm 2000, ông về phục viên với quân hàm Đại tá. Như bao cựu chiến binh khác, ông hòa vào cuộc sống đời thường, phụ giúp vợ bán hàng. Ông bảo mình đi xa lâu quá, chẳng đỡ đần nhiều cho vợ con, nay được nghỉ, chính là cơ hội để bù lại.

Gia đình ông có ba con, nay đều thành đạt. Không chịu an phận, ông Thận lao vào kinh doanh để mưu sinh. Lúc đầu ông mở cửa hàng cung ứng gas, rồi buôn bán xe máy… Đã từng trải qua “mưa bom bão đạn”, cho nên đối với ông, áp lực kinh doanh càng khiến cho tinh thần người chiến sĩ cách mạng thêm sắt đá. Không chỉ ở Thụy Xuân (Thái Thụy – Thái Bình), mà khách hàng của ông ở nhiều xã khác đều tín nhiệm ông về phong cách phục vụ.

Như chưa thoả mãn với những gì mình có, gần đây khi phong trào làm đầm nuôi tôm, cua ở quê phát triển, ông đấu thầu 4 sào đầm đầu tư gần 40 triệu đồng xây bờ bãi, nhà coi, mua máy bơm nước… Đầm cách nhà hơn nửa cây số, nhưng không có ngày nào ông vắng mặt tại đầm. “Càng làm càng thấy mình khỏe ra. Nhìn đàn tôm trong đầm lớn lên trông thật sướng mắt. Nhất là đến mùa thu hoạch, chỉ cần 1kg tôm là có bạc trăm rồi”, ông Thận tâm sự.

Hút thêm một hơi thuốc lào, ông Thận kể: “Sự kiện cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập của tôi lịch sử đã ghi nhận. Giây phút ấy thật khó quên trong cuộc đời. Đây là hành động tất yếu của người chiến sĩ ở thời khắc lịch sử thiêng liêng. Bất kỳ ai thời điểm ấy cũng không thể làm khác. Việc làm đó trước hết thuộc về lịch sử dân tộc”. Sau giải phóng miền Nam, hầu hết những người lính đi chiến đấu nhiều năm xa nhà đều muốn về quê như là một khát khao hạnh phúc. Những chiến sĩ trên chiếc xe tăng huyền thoại như Lư Văn Hỏa, Thái Bá Minh, Nguyễn Văn Kỷ trở lại với đời thường, nhưng chắc hẳn, cũng như ông Thận, họ sẽ không thể quên thời khắc lịch sử thiêng liêng – thời khắc do chính những người lính cụ Hồ tạo nên.

Chia tay ông Thận, trong tôi vẫn nhớ như in những lời tâm sự của ông: “So với biết bao đồng đội nằm lại nơi rừng xanh núi đỏ, tôi thấy mình đã may mắn quá nhiều. Chúng tôi đã cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc, giờ đất nước thanh bình phát triển, còn niềm vui nào lớn hơn”.

————————————————————–

Trần Đăng Khoa: Vĩnh biệt người cắm cờ trên Dinh Độc lập

Xin coi mẩu chuyện nhỏ này như một nén tâm hương của những người chép sử bằng âm thanh VOV tưởng nhớ anh. 

Đại tá Bùi Quang Thận đã qua đời đột ngột sáng ngày 24/6/2012 tại Thái Xuân, Thái Thụy, Thái Bình, khi mới tròn 64 tuổi. Tang lễ đã cử hành tại làng quê anh, theo đúng thủ tục của người dân quê.

Trước đây, anh cũng đã từng được đề nghị tuyên dương Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Nhưng theo Bùi Quang Thận, khi làm các thủ tục để xét thì địa phương không đồng ý, vì ông bố anh có biểu hiện mê tín dị đoan. Huyện đội cũng đã can thiệp nhưng vẫn không xong. Anh bảo: “Kể thì cũng hơi buồn. Nhưng mình sống được đến giờ cũng là may mắn lắm, nếu so với những đồng đội của mình còn nằm lại trong các cánh rừng lạnh lẽo mà đến bây giờ cũng vẫn chưa tìm được hài cốt”.

Đại tá Bùi Quang Thận

Năm 2000, Bùi Quang Thận về hưu. Anh cười hiền lành: “Mình xa vợ con biền biệt. Bây giờ mới có điều kiện giúp đỡ vợ con”. Bùi Quang Thận trở về với ruộng đồng. Anh lao động  cật lực như một lão nông. Gần đây, ngoài làm ruộng, anh còn thuê ao, nuôi tôm, thả cá. Rồi vợ chồng anh mở thêm cửa hàng bán gas ở quê. Nhà nào hết gas hay van gas hỏng là anh có mặt thay gas và bảo hành sửa chữa. Anh bảo, thay một van gas hỏng, cái lớn được 5000, cái nhỏ cũng 500 đồng đấy. “Toàn tiền tươi thóc thật cả!”.

Trông anh thợ gas xởi lởi, thật thà, tận tụy và tốt bụng, không ai nghĩ đó là người anh hùng không có trong Danh sách những người anh hùng.

Có lẽ trong chúng ta, ai cũng biết anh đại đội trưởng xe tăng Bùi Quang Thận, người đã cắm lá cờ trận mạc trên nóc Dinh Độc Lập buổi trưa ngày 30/4/1975. Nhưng xung quanh việc cắm cờ này, còn có khối điều thú vị mà không phải ai cũng có thể biết hết. Chính Bùi Quang Thận cũng không thể ngờ được mình đã làm nên kỳ tích lịch sử chỉ bằng có… hai bàn tay không.

Câu chuyện bắt đầu từ lúc 8h sáng ngày 30/4. Khi đó, trận đánh đã diễn ra căng thẳng và khốc liệt. Lữ đoàn trưởng Nguyễn Tất Tài lệnh cho đại đội 4 ở phía sau vượt lên, chiếm đầu cầu, rồi chớp thời cơ, chọc thẳng vào mạng sườn địch. Bị cú đánh bất ngờ, địch thoáng chững lại. Đội hình chúng có phần nhốn nháo. Xe tăng ta tiến đến đầu cầu Thị Nghè thì bất ngờ mấy chiếc tăng địch chẳng biết ở đâu lù lù hiện ra. Hình như chúng muốn chặn ta ở ngay trên cầu. Đại đội trưởng Lê Tiến Hùng, chỉ huy chiếc xe tăng thứ hai bị thương, bắt buộc phải dừng lại. Tình thế khá nguy cấp.

Xe tăng vào Dinh Độc lập

Bùi Quang Thận tức tốc cho xe 843 vượt lên, bắn cháy liền một lúc cả hai xe M.41 và M.113 của địch. Trong xe anh chỉ còn duy nhất 2 viên đạn. Sau này, anh mới biết hai viên đạn thối. Thực tình, lúc đó, chiếc xe đã hết đạn, mà chặng đường còn rất xa, phải vượt qua bao tuyến phòng thủ kiên cố dày đặc của địch mới đến được Dinh Độc Lập. Vừa qua khỏi cầu Thị Nghè, anh lại đụng phải 3 chiếc xe tăng địch xông ra đánh chặn. May sao, Vũ Đăng Toàn, chính trị viên đại đội 4, ngồi trên chiếc tăng 390 đã chỉ huy bắn cháy luôn cả 3 chiếc tăng ấy. Đạn trong xe địch nổ toang toác. Không gian sặc sụa và tanh khét mùi thép cháy. Bọn địch ngồi lố nhố trên mấy chiếc xe bọc thép gần đấy, thấy thế hoảng hốt nhảy khỏi xe, bỏ chạy tán loạn. Thế là tuyến phòng thủ vòng ngoài của địch hoàn toàn tan vỡ.

Được sự giúp đỡ chỉ dẫn của nhân dân và biệt động thành, lữ đoàn tăng 203 đã chia làm 2 mũi, hướng theo đường Hồng Thập Tự tốc thẳng vào Dinh Độc Lập. Lúc 10h15, chiếc xe tăng 843 của Bùi Quang Thận dẫn đầu đã vượt qua các ổ đề kháng, vượt qua khu Nhà Xanh, vượt qua cả những họng súng đang ngơ ngác của địch, lừng lững tiến thẳng vào cửa Dinh Độc Lập. Khi thấy toà nhà trắng loá hiện ra trước cửa xe, Bùi Quang Thận cho lắp một viên đạn nã thẳng vào Dinh để thị uy. Đạn thối, không nổ. Anh cho nạp viên cuối cùng. Cũng lại không nổ. Hú vía cho cái Dinh Thống Nhất bây giờ đã thoát được hai viên đạn của anh.

Một chiếc tăng của ta đã húc thẳng vào cánh cổng Dinh Độc Lập. Bùi Quang Thận cho xe lùi ra, húc tiếp vào cánh cổng bên trái của Dinh. Đó là đòn tấn công cuối cùng của chiếc tăng không còn vũ khí. Cũng thật may cho Bùi Quang Thận và đồng đội anh, một người vô danh nào đó trong Dinh đã kịp cắt cầu dao hàng rào điện tử, nếu không, chỉ chạm vào cổng sắt là chiếc tăng của anh và đồng đội anh sẽ bị nổ tung. Phải đến cú húc thứ ba cánh cổng sắt mới chịu đổ sập. Bùi Quang Thận cho xe tốc thẳng vào sân dinh. Trước mặt anh, lố nhố những xe tăng, xe bọc thép tuyến phòng ngự cuối cùng của địch bảo vệ Dinh với bao nhiêu súng ống đạn dược tối tân, còn anh, chỉ có hai tay trắng và chiếc xe tăng lổng nhổng vỏ đạn.

Bùi Quang Thận giật phắt lá cờ trận mạc cắm trên xe tăng, quay lại bảo lái xe Lữ Văn Hoá, pháo thủ Thái Bá Minh: Các cậu ở lại, mình vào Dinh nhé. Nếu không thấy mình quay ra, cũng không thấy lá cờ này nhô lên, thì tức là mình đã chết ở trong Dinh rồi!

Thế rồi, với hai bàn tay trắng, chỉ có lá cờ trận mạc ố xuộm khói đạn làm vũ khí, Bùi Quang Thận xông thẳng vào sào huyệt cuối cùng của kẻ thù. Qua bậc tam cấp, anh bị đánh bật trở lại. Hàng rào đặc biệt chống đỡ chăng? Bùi Quang Thận ngỡ ngàng một chút, rồi chợt nhận ra đó chỉ là bức tường kính trong suốt mà thoạt đầu anh không nhìn thấy, cũng chẳng biết nó là cái gì.

– Cửa ở đây mà, ông!

Một người đàn ông áo cộc tay trắng chỉ cửa cho Bùi Quang Thận. Trong nhà mát rượi như giữa hang đá. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn cũ đã có mặt đông đủ. Họ ngồi, đứng nhấp nhố quanh bàn. Trông ai cũng rất lịch sự. Áo cộc tay trắng. Tóc chải mượt. Mùi nước hoa thoang thoảng khắp phòng. Họ ngỡ ngàng nhìn người đại diện đầu tiên của Quân giải phóng, một người lính gầy gò, gương mặt đen đúa, hốc hác vì đói ăn và thiếu ngủ.

– Ông nào là Dương Văn Minh?- Bùi Quang Thận quát hỏi. – Cho tôi gặp ngay Dương Văn Minh!

– Dạ thưa, ngài gặp Tổng thống có việc gì ạ?

– Để ông ấy dẫn tôi đi cắm cờ.

– Dạ… dạ, cái việc ấy thì ông này làm được. Chỉ có ông ấy mới biết chỗ…

Một gã béo trắng, da dẻ mỡ màng, áo cộc tay trắng, chỉ vào một người đàn ông cũng mặc áo cộc tay trắng, nhưng gầy mảnh hơn, đứng ngay bên cạnh tôi. – Bùi Quang Thận tiếp tục câu chuyện: – Mãi sau này, khi đọc những trang sử quân đội nói về buổi trưa hôm ấy, tôi mới biết đó là đại tá Vũ Quang Chiêm, chánh văn phòng Phủ Tổng thống. Ông ta lập cập đưa tôi qua một hành lang, rồi vào hút sâu mãi phía trong, qua một gian nhà nữa cũng mát như hang đá. (Đúng là cảm giác của người lính ở rừng. TĐK)

Rồi ông ta chọc một ngón tay vào tường. Bức tường tự nhiên nứt ra thành một cái phòng bé toen hoẻn như cái toa-lét, ba phía đều là tường. Ông ta bước vào, còn tôi thì ngần ngừ, bước vào, rồi lại quay ra ngay lập tức. Tôi nghi quá. Mình đi cắm cờ, chứ có đi toa-lét đâu. Hắn định giở cái trò khỉ gì thế này? Rõ là đồ quỷ thuật. “Dạ thưa, ông vào đi. Đây là cái thang máy. Tôi đưa ông đi cắm cờ mà”. Gã nói lắp bắp, có vẻ như là thành thật.

Nhưng tôi vẫn phải cảnh giác. Bởi tôi không có vũ khí trong tay. Tôi bắt gã úp mặt vào tường, rồi mới bước vào. Gã lại đưa tay lên, chọc một ngón vào cái nút ở trên tường kiểu như là điểm hoả. Tôi chộp ngay tay hắn. Chỉ chút nữa thì tôi cho gã một quả phật thủ. “Không! Không, tôi ấn nút thang máy mà!”. Gã kêu lên thảm thiết. Cánh cửa lập tức sập lại ngay sau lưng tôi. Bây giờ thì bốn phía đều là tường. Thật chẳng còn hiểu ra làm sao cả.

Lên tầng thượng, hắn dẫn tôi đến cột cờ. Hoá ra cờ mình bé quá. Nó là cờ hiệu cắm trên nóc xe tăng. Trong không gian, ở trên đỉnh cái Dinh lồng lộng này, nó chỉ như cái mắt muỗi. Còn cờ địch to lắm, rộng đến mấy chục mét chứ chẳng ít, lại chằng buộc rất kỳ công bằng các nút dây thép, chừng hai mươi phân một nút. Tôi gỡ mãi mới được hai nút. Nhìn xuống dưới sân Dinh, xe tăng và quân ta bắt đầu tiến vào. Thế là tôi xé luôn lá cờ ấy, thay lá cờ của ta rồi kéo lên. Lúc bấy giờ là 11h30’.

Đấy, anh Thận của chúng ta như thế đấy. Dường như anh ấy không chú ý, cũng không có ý thức về vai trò lịch sử của mình. – Trung tá Nguyễn Huy Thông, trung đoàn trưởng trung đoàn 203 mà tiền thân là Lữ đoàn 203 bình luận: – Thực tình, chúng ta đã chuẩn bị rất kỹ cho việc cắm cờ trên nóc Dinh Độc Lập này. Đơn vị được chọn làm công việc cuối cùng của cuộc kháng chiến cứu nước ấy là một Đơn vị Anh hùng. Người được chọn cắm cờ cũng là người có đầy những kỳ tích, cũng như người bay vào vũ trụ sau này phải là anh hùng Phạm Tuân, người đã “bắn cháy” B52, và cái máy bay Mỹ thứ 4.000 cũng phải rơi ngay trên đất tổ 4.000 năm lịch sử của Vua Hùng.

Nhưng rồi chiếc xe tăng chở lá cờ lớn được chuẩn bị rất kỹ ấy lại đi lạc, rồi lại phải đánh nhau rất dữ dội ở mãi ngoài Dinh. Và rồi Giời đã thay người cắm cờ ấy bằng anh lính nông dân Thái Bình Bùi Quang Thận. Mọi việc anh Thận làm đều rất giản dị. Khi dứt lá cờ nguỵ, thoạt đầu anh định ném xuống sân. Nhưng nhìn lại, thấy vứt đi phí quá. Cái cờ chẳng ra quái gì, nhưng vải rất tốt, dày đến mức có thể làm chăn đắp được. Thế là anh cuộn lại, định bụng mang về quê, dùng để lót ổ thay cho rơm rạ hay lá tre khô.

Sau này lịch sử cần biết đích xác người cắm cờ. Lúc ấy mới hay là có quá nhiều người cắm cờ. Sự thật thì họ đều cắm cờ cả. Nhưng cắm ở tiền sảnh, ở góc nhà, ở rất nhiều nơi xung quanh Dinh Độc Lập và ở ngay cả chính Dinh Độc Lập. Nhưng ai là người cắm lá cờ trận mạc, lá cờ Quyết chiến quyết thắng trên nóc Dinh kia. “Thì tôi cắm đấy mà”. – Bùi Quang Thận trả lời thật giản dị. Vậy thì bằng chứng đâu? Phải có gì làm bằng chứng chứ. Lịch sử vốn cần chính xác và cụ thể. Ai bắt Dương Văn Minh? Ai thảo thư đầu hàng cho Tổng thống nguỵ? Sau này cũng phải tranh cãi, xác định mãi. Có đến cả mấy cuộc hội thảo khoa học rồi mà vẫn chưa kết luận được đích xác sự việc ấy.

Bùi Quang Thận chợt nhớ đến cái lá cờ của địch mà anh cuộn lại, định mang về quê Thái Bình trải ổ thay cho rơm rạ. Người ta khớp vết xé với những nút sắt buộc trên cột cờ mới nhận ra anh. Còn anh thì cười hiền lành: “Ôi dào, có gì đâu. Tôi chẳng nghĩ gì khi làm điều đó. Đấy là một việc rất đỗi bình thường của một người lính trận. Anh nào trong hoàn cảnh ấy cũng sẽ làm như tôi. Đơn giản thế thôi. Có gì mà các bố cứ lằng nhằng rắc rối cho nó hoá to chuyện!”.

Bây giờ, Bùi Quang Thân đã là người trong cõi nhớ thương rồi. Xin coi mẩu chuyện nhỏ này như một nén tâm hương của những người chép sử bằng âm thanh VOV tưởng nhớ anh. Kính mong các cơ quan chức năng bàn lại với địa phương để trao lại Danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho anh. Bởi anh hoàn toàn xứng đáng với Danh hiệu cao quý ấy…

Trần Đăng Khoa

 ————————————————-

Trích “Bên Thắng Cuộc” (Huy Đức)

Trong suốt hơn hai mươi năm kể từ ngày 30-4-1975, truyền thông trong nước

đã mặc nhiên thừa nhận chiếc xe 843 của Bùi Quang Thận đã húc đổ cổng Dinh

trong khi sự thật chính là xe 390. Theo Trung tá Bùi Văn Tùng: “Sau khi biết Thận

là người cắm cờ, báo chí vây lấy cậu ấy. Chắc thằng Thận không nói, nhưng các nhà

báo suy ra Thận cắm cờ thì 843 của Thận phải là xe vào trước. Khi về tới Long Bình,

anh em đã báo cáo lên, xe 390 húc đổ cổng Dinh, nhưng khi nghe báo nói xe 843

anh em cũng cho qua. Về sau, do vụ “ai cắm cờ” đã khá bầm dập nên nhiều người

nghĩ, cải chính làm chi cho phức tạp. Sau đó, Việt Nam lại xung đột với Trung Quốc

mà chiếc 390 là T59, viện trợ của Trung Quốc, trong khi chiếc 843, T54, viện trợ

của Liên Xô nên càng không ai nghĩ tới việc làm rõ sự kiện này”.

Lữ đoàn 203 có bốn chiếc tăng bị bắn cháy trước khi vào đến Dinh Độc Lập. Vào

lúc 9 giờ sáng, những chiếc tăng của Lữ 203 đã bị chặn lại trong một trận đọ sức ác

liệt giữa các chiến xa của hai bên. Tiểu đoàn trưởng Tiểu Đoàn 1, Ngô Quang Nhỡ,

mở nắp tháp pháo nhô người ra chỉ huy đã bị bắn xuyên qua trán, chết khi chiến

tranh kết thúc chỉ còn trong gang tấc. Chiếc tăng 866 khi chạy tới Thị Nghè cũng bị

trúng đạn, một người chết ngay tại chỗ, một người bị thương nặng rớt xuống

đường. Những người lính vào giờ phút ấy nhận ra sống sót là tấm huân chương

quan trọng nhất. Trong suốt hai mươi năm, bốn người lính trên chiếc tăng 390 tiếp

tục chiến đấu ở Campuchia, ở phía Bắc rồi lầm lũi mưu sinh chứ không hề tìm kiếm

vinh quang. Khi coi phim tài liệu, thấy Bùi Quang Thận cầm một lá cờ rất to, loại cờ

không chứa trong những chiếc xe tăng tiến vào Dinh trong ngày 30-4, Thiếu úy Lê

Văn Phượng lại tặc lưỡi nghĩ rằng, “lịch sử đôi khi được làm bằng báo chí”.

Sáng 1-5-1975, khi rút về căn cứ Long Bình, Lê Văn Phượng đã viết tường trình

đúng như những gì xảy ra. Anh không biết cấp trên báo cáo ra sao để “lịch sử thành

văn” chỉ nhắc đến chiếc xe của Bùi Quang Thận. Những thước phim, những bức ảnh

“húc đổ cổng Dinh Độc Lập” được phục dựng đã thế chỗ sự thật và số phận của

những người được nói đến thật cách biệt với những người im lặng. Bùi Quang Thận

sau ngày 30-4 được điều về Bộ chỉ huy, còn Thiếu úy Lê Văn Phượng và ê-kíp xe

390 được điều lên biên giới Tây Ninh, chuẩn bị cho cuộc chiến ở Campuchia, rồi

tháng 3-1979 lại được điều ra tham gia cuộc chiến tranh phía Bắc. Ba người trên

chiếc xe tăng 390 xuất ngũ năm 1981, một người, Lê Văn Phượng, xuất ngũ năm

1986. Kể từ đó, bốn anh em không có điều kiện gặp nhau.

Thượng úy Lê Văn Phượng ra quân, về quê; năm 1992 anh học hớt tóc, rồi dựng

lều hành nghề ở bờ hào bên thành nhà Mạc, bị công an đuổi chạy lên, chạy xuống.

Sau, người lính đã cho xe tăng nghiến lên cổng Dinh Độc lập ấy đã phải chạy về mở

lán cắt tóc gần cổng Trường Sĩ quan Lục Quân ở Sơn Tây. Tuy không tranh dành

quyền lợi ở chốn quan trường, nhưng trong thẳm sâu, người lính ấy cũng tự hào về

những gì mà mình đã làm cho đất nước. Anh đem câu chuyện “húc đổ cổng Dinh

Độc Lập” ra kể với các con. Nhưng, ở trường, lịch sử được dạy không giống như

những gì đã xảy ra. Đứa con gái học tiểu học về khóc: “Bố nói bố chỉ huy xe 390

vào Dinh Độc lập trước tiên, con khoe với bạn học và cô, nhưng bài học dạy, bác

Bùi Quang Thận lái xe vào trước và cắm cờ trên Dinh. Chúng bạn trêu con nói phét.

Con xin nghỉ học”. Lê Văn Phượng chỉ biết phân trần với chính quyền địa phương

nhưng nào ai biết là anh đúng hay sách đúng.

Mãi tới năm 1995, khi nữ ký giả Pháp có tên là  Francoise De Mulder đến Việt

Nam, những người lính tăng trên chiếc xe làm nên lịch sử ấy mới có dịp gặp nhau.

Francoise De Mulder là người phụ nữ mà sau khi tăng 390 cán qua cổng Dinh đã

chụp được tấm hình Lê Văn Phượng nhô đầu ra khỏi tháp xe và nhìn thấy bà trong

một khoảng thời gian rất ngắn. Francoise De Mulder sinh năm 1944, sang Việt Nam

làm phóng viên ảnh từ năm 1963, lúc mười chín tuổi. Năm 1976, bà có mặt ở

Lebanon,nơi có hàng trăm người tị nạn Palestine bị hành quyết bởi lực lượng vũ

trang cánh hữu Phalang. Tại trại tị nạn ở quận Quarantaine – Beirut, bà chụp được

cảnh một phụ nữ đang van xin các binh lính tha chết cho chồng trên một đường phố

đang bốc cháy, ngay giữa thủ đô Beirut. Tấm hình này đoạt giải nhất của Giải WPPA

lần thứ 20, là ảnh báo chí xuất sắc nhất thế giới năm 1976. Bà cũng là nữ ký giả

ảnh đầu tiên đoạt giải này. Năm 2003 De Mulderbị bệnh bạch cầu và liệt người.

Năm 2005, bà mất tại Paris, thọ 61 tuổi.

Năm 1995, tại Paris, bà Francoise De Mulder tổ chức triển lãm những tấm ảnh

bà chụp được trong ngày 30-4-1975. Những bức ảnh đã gây chú ý cho một sỹ quan

khi ấy đang làm tùy viên quân sự tại Pháp, anh đã giúp đỡ để đầu tháng 3-1995, bà

Francoise De Mulder về đến Việt Nam. Người đầu tiên mà bà gặp là anhNguyễn

Văn Tập, lái tăng 390, khi ấy đang lái xe ba gác ở Thái Bình. Rồi bà gặp anh Vũ

Đăng Toàn, chính trị viên đại đội, khi ấy đang nuôi heo ở Hưng Yên. Bà không tìm

ra anh Ngô Sỹ Nguyên, pháo thủ I, vì khi ấy anh Nguyên không sống ở địa phương.

Cuối cùng, bà đến Sơn Tây gặp Lê Văn Phượng đúng khi anh đang hành nghề cắt

tóc. Sau cuộc gặp đó, ngày 22-6-1995, Thiếu úy Lê Văn Phượng được mời dự lễ kỷ

niệm ngày thành lập Lữ đoàn 203, bấy giờ đã phiên thành Trung đoàn xe tăng 203.

Ở đó, Lê Văn Phượng gặp lại Nguyễn Văn Tập và Vũ Đăng Toàn rồi cả ba được vào

tham quan Dinh, bấy giờ đã có tên là Dinh Thống Nhất. Khi đó, họ mới biết chiếc

tăng 843 “hiện vật” vẫn được trưng bày tại Bảo tàng Tăng Thiết Giáp, Hà Nội, còn

chiếc “843” sau này trưng bày trong Dinh chỉ là một chiếc tăng cùng loại được sơn

và ghi số hiệu vào. Trong khi chiếc xe của Bùi Quang Thận được sơn phết, bảo

dưỡng, lau chùi, nâng niu từ sau 30-4-1975 đến nay, tăng 390 vẫn rong ruổi trên

chiến trường Campuchia, mãi đến sau 1995 mới được đem về Bảo tàng Tăng Thiết

Giáp.

Chuyến đi của Bà Francoise De Mulder được phát trên VTV và sau đó được thể

hiện lại trong một cuốn phim xúc động. Bốn chiến sĩ xe tăng 390 cũng trở nên nổi

tiếng nhưng là dưới một biệt danh mới do người xem đặt ra:  Ông gác đầm cáVũ

Đăng Toàn; Ông đánh giậmNguyễn Văn Tập; Ông lái xe lamNgô Sĩ Nguyên; Ông

cắt tóc bị công an đuổi ở Bờ HàoLê Văn Phượng. Các học viên Lục Quân sau khi

biết Lê Văn Phượng qua bộ phim “Bốn chiến sĩ xe tăng 390” thường để dành tóc

“đem đầu” đến tiệm cắt tóc của ông; bảo vệ trường sỹ quan cũng thương tình

không đuổi. Sau một thời gian chạy xe lam, Ngô Sĩ Nguyên được một anh bạn

thanh lý cho một chiếc xe Gát 69 làm phương tiện vận chuyển hàng hóa cho các

chủ hàng trên tuyến Hà Nội-Thường Tín. Nhằm giúp Nguyễn Văn Tập giải quyết khó

khăn, Bưu điện huyện Gia Lộc, Hải Dương, đã nhận anh vào làm bưu tá xã. Năm

2003, khi xem một chương trình giao lưu với bốn chiến sĩ xe tăng 390, một trí thức

và là một nhà doanh nghiệp đã liên lạc với bốn chiến sĩ xe tăng 390, viết thư cho

từng anh, tự giới thiệu mình là chủ tịch hội đồng quản trị một công ty, mời các anh

lên thăm. Từ tháng 11-2003, Vũ Đăng Toàn được công ty này mời về phó giám đốc

một xí nghiệp sản xuất sơn giao thông và ông Nguyễn Văn Tập cũng được mời về

đây vừa làm thủ kho, vừa điều khiển xe nâng hàng. Những “người hùng” kể về sự

tiếp nhận của nhà doanh nghiệp này như một sự hàm ơn.

———————————————————–

6.VỀ CÂU CHUYỆN LÊ VĂN TÁM

    tuongdaiBấy giờ là vào đầu những năm 60 của thế kỷ trước, tôi có nhiều dịp làm việc với Giáo sư Trần Huy Liệu trong công trình khoa học do giáo sư chủ trì và tôi được mời tham gia. Lúc đó, GS Trần Huy Liệu là Phó chủ nhiệm Ủy ban Khoa học xã hội, kiêm Viện trưởng Viện sử học. Ngoài những buổi họp ban biên soạn ở cơ quan, tôi có một số buổi làm việc với giáo sư tại nhà riêng.

Ngoài công việc biên soạn công trình, giáo sư thường trao đổi một cách thân tình  những vấn đề thời sự sử học trong và ngoài nước, kể lại một số chuyện trong đời hoạt động cách mạng của mình. Trong những năm 1954 – 1956, khi tôi đang học ở trường Đại học Sư phạm/văn khoa Hà Nội, Giáo sư Trần Huy Liệu có đến giảng một số bài về cách mạng Việt Nam.

Về câu chuyện Lê Văn Tám, tôi xin được tóm lược một cách đầy đủ lời kể và lời dặn của GS Trần Huy Liệu mà tôi đã lĩnh hội như sau : Nhân vụ kho xăng của địch ở Thị Nghè bị đốt cháy vào khoảng tháng 10-1945 và được loan tin rộng rãi trên báo chí trong nước và đài phát thanh của Pháp, đài BBC của Anh ; nhưng không biết ai là người tổ chức và trực tiếp đốt kho xăng nên tôi (GS Trần Huy Liệu) đã “dựng” lên câu chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng vào người rồi xông vào đốt kho xăng địch cách đấy mấy chục mét.

GS Trần Huy Liệu còn cho biết là sau khi ta phát tin này thì đài BBC đưa tin ngay, và hôm sau bình luận : Một cậu bé tẩm xăng vào người rồi tự đốt cháy thì sẽ gục ngay tại chỗ, hay nhiều lắm là chỉ lảo đảo được mấy bước, không thể chạy được mấy chục mét đến kho xăng. GS đã tự trách là vì thiếu cân nhắc về khoa học nên có chỗ chưa hợp lý. Đây là ý kiến của GS Trần Huy Liệu mà sau này tôi có trao đổi với vài bác sĩ để xác nhận thêm.

Tôi nhấn mạnh là GS Trần Huy Liệu không hề “hư cấu” sự kiện kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy mà trên cơ sở sự kiện có thật đó, chỉ “dựng lên”, theo cách nói của GS, chuyện thiếu niên Lê Văn Tám tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch.

Giáo sư giải thích là thời Nam Bộ kháng chiến, có bao nhiêu tấm gương hy sinh vì Tổ quốc, nhưng “dựng” chuyện thiếu niên Lê Văn Tám là nghĩ đến biểu tượng cậu bé anh hùng làng Gióng (Phù Đổng Thiên Vương), còn việc đặt tên Lê Văn Tám là vì họ Lê Văn rất phổ biến ở nước ta và Tám là nghĩ đến Cách mạng tháng Tám.

Lúc bấy giờ, GS Trần Huy Liệu đang giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời, nên giáo sư nói rõ là muốn tạo dựng nên một biểu tượng anh hùng để tuyên truyền, cổ vũ tinh thần chiến đấu của quân dân ta.

Cũng xin lưu ý là GS Trần Huy Liệu giữ chức Bộ trưởng Bộ Thông tin tuyên truyền trong Chính phủ lâm thời từ ngày 28-8-1945 đến ngày 1-1-1946, rồi Bộ trưởng Bộ Tuyên truyền cổ động trong Chính phủ liên hiệp lâm thời từ ngày 1-1-1946 cho đến khi thành lập Chính phủ liên hiệp kháng chiến tại kỳ họp Quốc hội ngày 2-3-1946, nghĩa là trong thời gian xảy ra sự kiện Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy, chứ không phải trong thời gian “1946 – 1948?” sau sự kiện trên.

Điều căn dặn của GS Trần Huy Liệu là : Sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học, nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Trong câu chuyện, giáo sư còn tiên lượng là biết đâu sau này có người đi tìm tung tích nhân vật Lê Văn Tám hay có người lại tự nhận là hậu duệ của gia đình, họ hàng người anh hùng. Đây chính là điều lắng đọng sâu nhất trong tâm trí mà tôi coi là trách nhiệm đối với GS Trần Huy Liệu đã quá cố và đối với lịch sử.

GS Trần Huy Liệu là một con người rất trung thực, không muốn để lại một sự ngộ nhận trong lịch sử do mình tạo nên trong một bối cảnh và yêu cầu bức xúc của cuộc kháng chiến và tôi lĩnh hội lời dặn của GS như một trách nhiệm phải thực hiện một cách nghiêm túc.

Tôi kể lại câu chuyện này một cách trung thực với tất cả trách nhiệm và danh dự của một công dân, một nhà sử học.

Ngày nay, từ đầu thế kỷ XXI nhìn lại, trong hoàn cảnh chiến tranh đã lùi xa vào quá khứ hơn 30 năm, đất nước đã giành lại độc lập, thống nhất, tôi xin đặt ra hai vấn đề sau đây để thế hệ chúng ta cùng bàn luận.

– Xác minh rõ sự kiện Kho xăng địch bị đốt cháy trong tháng 10-1945.
– Thái độ ứng xử đối với biểu tượng Lê Văn Tám.

Vấn đề thứ nhất là cần cố gắng sưu tầm tư liệu đáng tin cậy
để xác định rõ hơn sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè
bị đốt cháy trong tháng 10-1945 :

Tôi nói tư liệu đáng tin cậy trong trường hợp này không phải là các sách báo viết về sau này, mà là tư liệu gốc khai thác từ nhân chứng lịch sử hay những thông tin trực tiếp từ sự kiện thời bấy giờ và dĩ nhiên đều phải đối chiếu, xác minh một cách khoa học.

Nhân chứng lịch sử :

Tôi đã có dịp hỏi GS Trần Văn Giàu – lúc đó giữ chức Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Nam bộ, thì GS khẳng định có sự kiện Kho xăng địch ở Thị Nghè bị đốt cháy và trong tình hình lúc đó là do ta đốt, nhưng không biết ai tổ chức và người nào thực hiện.

Nhà cách mạng lão thành Dương Quang Đông trong hồi ký viết rằng, người đốt Kho đạn Thị Nghè ngày 1-1-1946 không phải là Lê Văn Tám mà là tổ đánh mìn của công nhân nhà máy đèn Chợ Quán (tạp chí Xưa & Nay số 154).

hinhbao

Tư liệu báo chí :

Tư liệu báo chí lúc bấy giờ thì tại Thư viện quốc gia Hà Nội lưu giữ được rất ít, các số báo lại không đủ. Bước đầu tôi mới tìm thấy thông tin liên quan với Kho xăng Thị Nghè bị đốt cháy trong báo Quyết chiến là “cơ quan ủng hộ chính quyền nhân dân”, tòa soạn đặt ở phố Nguyễn Tri Phương, Thuận Hóa ; báo Cờ giải phóng là “cơ quan tuyên truyền cổ động trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương” và báoThời mới do Nguyễn Văn Luận làm Chủ nhiệm; nhưng các số không liên tục, không đủ.

Báo Quyết chiến số ngày thứ sáu, ?-10-1945 đưa tin dưới tít lớn Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình đốt cháy kho dầu Simon Piétri với nội dung như sau :

“ Một gương hi sinh vô cùng dũng cảm. Một chiến sĩ ta tẩm dầu vào mình tự làm mồi lửa đã đốt được kho dầu Simon Piétri, lửa cháy luôn hai đêm hai ngày.
Đài Sài Gòn trong buổi truyền thanh tối 17 – 10 công nhận rằng kho dầu này đã hoàn toàn bị thiêu ra tro, sự thiệt hại đến mấy chục triệu đồng ”.

Ngày phát hành số báo, in ngày “thứ sáu”, số ngày không rõ và có người viết thêm bút mực con số 7, tiếp theo là tháng “10- 45”. Theo lịch năm 1945, trong tháng 10 có 3 ngày thứ sáu là ngày 12, 19 và 26. Trong bản tin có nhắc đến buổi phát thanh của Đài Sài Gòn ngày 17, vậy ngày thứ sáu của tờ báo phải sau ngày đó và có thể xác định là ngày 19 -10-1945.

Báo Thời mới số 6 ngày 28-10-1945, nhân lễ khai mạc Ngày Cứu quốc do Tổng hội sinh viên cứu quốc tổ chức, đăng bài Những chuyện cảm động của dân ta trong cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, có đoạn kể lại câu chuyện đốt kho xăng ở Sài Gòn theo lời kể của một người từ Nam Bộ ra Hà Nội ngày 21-10-1945 như sau :

thoimoi

“ Một người bạn tôi ở Nam Bộ vừa ra đây hôm hai mươi mốt kể cho tôi nghe nhiều điều tai nghe mắt thấy ở Nam Bộ để chứng cho cái tinh thần kháng chiến anh dũng đó. Thứ nhất là chuyện anh dân quân tẩm dầu vào người, đốt cháy kho ét-săng và cao su sống ở Sài Gòn.

Có người nói rằng nhà chiến sĩ tuẫn quốc này tự nguyện xin mặc áo bông giầy tẩm xăng rồi lấy lửa tự châm mình như một cây đinh liệu, xông vào kho cao su sống kia. Không phải thế. Làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho.

Thực ra thì nhà chiến sĩ của chúng ta phải dùng mưu nhiều lắm. Trước khi vào, anh em mọi Pleiku của chúng ta đã phải lừa lúc giặc Pháp canh phòng không cẩn thận, trèo lên những cái cây to ở xung quanh kho cao su, bắn tên độc vào những người gác ở bốn bề. Nhà chiến sĩ, nhằm chính lúc cơ hội thuận tiện đã đến, tẩm dầu vào người, đeo súng liên thanh, bò qua tường vào trong kho cao su tìm bắn những người Pháp. Chúng bâu lại như đàn ruồi.

Chiến sĩ Việt Nam biết không thể làm hơn được nữa, bắn lia lịa vào những thùng ét-săng ở hai bên, ét-săng tràn ra cả nhà. Chiến sĩ ta châm một mồi riêm vào người, nhảy lên đám thùng rỗng, chửi rủa giặc Pháp tàn tệ.

Trong lúc đó, cả mình mẩy anh bừng bừng lên. Anh vẫn chửi rủa giặc Pháp cho đến khi gục nằm xuống như một đấng thiên thần hiện ra rồi mờ đi trong giấc mơ dữ dội. Những người đứng xa ngoài ba mươi cây số còn trông thấy ngọn lửa đám cháy này và trong hai ba ngày đêm liền, giặc Pháp và phái bộ Anh không thể nào rập tắt”.

Báo Cờ giải phóng số ra ngày 25-10-1945, đưa lên trang đầu hình ảnh một người đang bốc cháy xông về phía trước kèm theo lời “ Tinh thần anh dũng của đồng bào Nam Bộ muôn năm ”.

Báo Cờ giải phóng ngày 5-11-1945, trong mục Mặc niệm : “trích đăng một vài tấm gương xung phong anh dũng đã được nêu lên trên mặt báo chí miền Nam”, có đoạn đưa tin :

“Trước kho đạn Thị Nghè có rất đông lính Anh, Ấn, Pháp gác nghiêm ngặt, khó bề đến gần phóng hỏa.

Một em thiếu sinh 16 tuổi, nhất định không nói tên họ, làng, tình nguyện ra lấy thân mình làm mồi dẫn hỏa. Em quấn vải quanh mình, tẩm dầu xăng, sau lưng đeo một cái mồi, đứng im đốt mồi lửa, miệng tung hô “Việt Nam vạn tuế”, chân chạy đâm sầm vào kho đạn. Lính Anh đứng trong bắn ra như mưa. Một lần trúng đạn, em ngã nhào xuống, nhưng rồi ngồi dậy chạy luồn vào.

Lính Anh khiếp đảm bỏ chạy ra ngoài. Một tiếng nổ. Em thiếu sinh tiêu tán cùng với kho đạn Thị Nghè của giặc”.

Dưới bản tin có ghi chú “Kèn gọi lính, ngày 8-10-1945”. Như vậy báo đưa tin theo tin của báo Kèn gọi lính ngày 8-10-1945 và theo đó, kho đạn bị đốt cháy phải trước ngày 8-10- 1945, ít ra là ngày  7-10-1945.

hinhbaob

Trên đây là một số thông tin lấy từ báo chí ở thời điểm gần nhất với sự kiện liên quan đến chuyện Lê Văn Tám. Tôi hi vọng là những người quan tâm đến chuyện này có thể tìm kiếm và thu thập thêm thông tin báo chí mà tôi chưa được tiếp cận.

Còn sự kiện quân ta phá nổ kho đạn của địch ở Sài Gòn ngày 8-4-1946 mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp nói đến trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quên thuộc giai đoạn sau, không liên quan đến chuyện Lê Văn Tám.

Trong những báo trên, thông tin sớm nhất là Kèn gọi lính do báo Cờ giải phóng trích đăng ngày 5-11-1945. Rất tiếc là tôi không tìm thấy báo Kèn gọi lính mà căn cứ theo đoạn trích của Cờ giải phóng. Theo thông tin này thì “một em thiếu nhi 16 tuổi” đốt kho đạn Thị Nghè trước ngày 8-10-1945, chứ không phải kho xăng Thị Nghè.

Báo Quyết Chiến ngày 19?-10-1945 lại đưa tin “ kho dầu Simon Piétri ” bị “ một chiến sĩ ta ” đốt cháy vào trước ngày 17 – 10 – 1945. Kho đạn ở Sở thú và kho xăng ở Thị Nghè là hai địa điểm gần nhau. Như vậy theo những thông tin gần thời điểm xảy ra sự kiện thì vẫn còn phải tìm thêm cứ liệu để xác định là kho đạn hay kho xăng và thời điểm là ngày nào, chắc hẳn trước ngày 17-10-1945.

Rồi người thực hiện là “em thiếu nhi 16 tuổi” (Kèn gọi lính) hay “một chiến sĩ ta” (Quyết chiến) hay “anh dân quân tẩm dầu vào người” (Thời mới). Việc tẩm xăng vào người, lúc đó cũng đã gây ra sự bàn luận.

Thời mới đã bác bỏ chuyện người chiến sĩ tẩm dầu vào người xông vào kho xăng vì “ không phải thế, làm thế thì cố nhiên giặc Pháp ngăn lại ngay từ khi chưa tới cửa kho ” và cho rằng người chiến sĩ phải “ dùng mưu nhiều lắm ” để lẻn vào gần kho xăng rồi mới “ tẩm dầu vào người ”, dùng súng bắn thủng các thùng xăng và châm diêm vào người, nhảy vào đám thùng xăng. Không biết tác giả dựa trên căn cứ nào nhưng về khách quan, cách trình bày này hợp lý hơn.

Với những thông tin đã tập hợp, tuy chưa đủ và còn một số khía cạnh chưa xác minh được (kho xăng hay kho đạn, thời điểm, người đốt) nhưng sự kiện kho xăng (hay đạn) của địch ở Thị Nghè (hay gần Thị Nghè) bị ta đốt cháy là có thật.

Ngay lúc đó, trên báo chí đã xuất hiện những thông tin khác nhau về người đốt và cách đốt kho xăng, tuy nhiên có điểm chung là gắn với hình ảnh một chiến sĩ tẩm xăng đốt cháy kho xăng địch và không có tên Lê Văn Tám hay tính danh của người chiến sĩ đã hi sinh.

Điểm lại những tư liệu đã thu thập được thì càng thấy rõ, trên cơ sở sự kiện có thật và cả dư luận về hình ảnh người chiến sĩ tẩm xăng thời đó, GS Trần Huy Liệu tạo dựng nên biểu tượng “ ngọn đuốc sống ” gắn với tên tuổi thiếu niên Lê Văn Tám.

Vấn đề thứ hai là cách ứng xử đối với 

biểu tượng “ ngọn đuốc sống Lê Văn Tám ” :

 Trong bàn luận, cũng có người nghĩ rằng, “ ngọn đuốc sống Lê Văn Tám ” đã đi vào lòng dân rồi, các nhà sử học không cần xác minh nhân vật đó có thật hay không, làm ảnh hưởng tới một “ biểu tượng ”, một “ tượng đài ” yêu nước. Tôi quan niệm hoàn toàn khác.

Đối với sử học, tôn trọng sự thật, tìm ra sự thật, xác minh sự thật là một nguyên tắc cao cả thuộc về phẩm chất và chức năng của nhà sử học. Dĩ nhiên, với trách nhiệm công dân, có những sự thật trong một bối cảnh cụ thể nào đó liên quan đến bí mật quốc gia hay ảnh hưởng đến lợi ích sống còn của dân tộc, nhà sử học chưa được công bố.

Về nguyên lý, mọi kết quả nghiên cứu sử học càng khách quan và trung thực, càng có tác dụng tích cực xây dựng nhận thức lịch sử đúng đắn và không có gì mâu thuẫn với các biểu tượng lịch sử, các tượng đài yêu nước có giá trị được nhân dân tôn vinh.

Ngay đối với những biểu tượng mang tính huyền thoại, truyền thuyết như Lạc Long Quân – Âu Cơ, Con Rồng – Cháu Tiên, Phù Đổng Thiên Vương, nỏ thần An Dương Vương, vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm…, kết quả nghiên cứu khoa học chỉ góp phần làm sáng tỏ cơ sở khoa học, cốt lõi lịch sử của biểu tượng.

Ví dụ những phát hiện khảo cổ học về đồ sắt trong văn hoá Đông Sơn, kho mũi tên đồng ở Cổ Loa và gần đây, hệ thống lò đúc mũi tên đồng ngay trong thành Nội của thành Cổ Loa, giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn cốt lõi lịch sử của hình ảnh ngựa sắt của Thánh Gióng, vai trò của nỏ thần của An Dương Vương. Chuyện vua Lê trả Gươm thần ở hồ Hoàn Kiếm vẫn nguyên giá trị thiêng liêng, không hề bị ảnh hưởng bởi việc nghiên cứu giống rùa và tuổi thọ của rùa Hồ Gươm…

Biểu tượng “ ngọn đuốc sống Lê Văn Tám ” thực sự đã được quảng bá rộng rãi, đi sâu vào tâm thức của nhân dân, tiêu biểu cho tinh thần hi sinh anh dũng, ý chí xả thân vì nước của quân dân ta trong buổi đầu của Nam kỳ kháng chiến. Một số đường phố, trường học, công viên hiện nay đã mang tên Lê Văn Tám. Lời dặn của GS Trần Huy Liệu là đến lúc đất nước yên ổn, cần phải nói lên sự thật về câu chuyện Lê Văn Tám.

Đó không phải là tên của nhân vật lịch sử có thật, nhưng phản ánh một sự kiện lịch sử có thật, một tinh thần hi sinh vì Tổ quốc có thật. Đó là một biểu tượng đã đi vào lịch sử mang tính phổ biến và thiêng liêng. Trả lại nguồn gốc thật của biểu tượng này là để tạo lập một nền tảng nhận thức khoa học, khách quan về quá trình hình thành biểu tượng Lê Văn Tám.

Tôi nghĩ rằng tất cả các đường phố, trường học, công viên… mang tên Lê Văn Tám vẫn để nguyên, vẫn được tôn trọng như một biểu tượng với nội dung giải thích đúng sự thật và ngăn chặn mọi ý đồ dựng lên lý lịch Lê Văn Tám như một nhân vật có thật rồi có người lại nhận là hậu duệ của nhân vật này.

Đến đây, tôi đã làm tròn trách nhiệm đối với lời dặn của cố GS Trần Huy Liệu, kèm thêm một số đề xuất để xử lý câu chuyện Lê Văn Tám. Tôi hoàn toàn không coi đấy là việc làm trái với phẩm chất trung thực hay lương tâm của nhà sử học, cũng không ảnh hưởng đến uy tín của GS Trần Huy Liệu và càng không làm đổ một biểu tượng hay tượng đài yêu nước. Tôi nhấn mạnh, theo quan điểm của tôi, mọi biểu tượng hay tượng đài lịch sử chỉ có sức sống bền bỉ trong lịch sử và trong lòng dân khi được xây dựng trên cơ sở khoa học khách quan, chân thực.

Phan Huy Lê

 nguồn : Tạp chí Xưa &Nay (tháng 10 năm 2009)

———————————————————–

LÊ VĂN TÁM ANH LÀ AI?

Nguyễn Văn Thịnh( nhà văn- nguyên BS quân y-Theo BBC)

Dư luận từ râm ran đến ngày càng rộ lên về chuyện tấm gương hy sinh anh hùng của một thiếu niên ở Sài gòn trong những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến mà trong tâm trí  của nhiều thế hệ người Việt Nam, hơn nửa thế kỷ qua vẫn coi như ngọn đuốc sống sáng ngời tinh thần yêu nước.

Người ta càng lưu tâm nhiều hơn vì tin ấy chính thức tung ra từ mấy người trong giới sử đã có thương hiệu quá quen thuộc với nhiều người. Trước hết là ông Phan Huy Lê  nói tại cuộc gặp mặt các nhà làm phim ở Hà Nội đầu năm 2005, lại có tạp chí Xưa và nay của ông Dương Trung Quốc đăng hồi ký của nhà hoạt động cách mạng lão thành ở miền Nam là ông Dương Quang Đông xác nhận điều đó. Sự kết hợp nhịp nhàng giữa báo nói, báo viết về một sự kiện thiếu tính chân xác của lịch sử đang thành một chấn động dây truyền trong lòng người lẽ ra không đáng có !

Theo ông Lê, đấy là  điều ông cần phải nói ra, trước hết là trách nhiệm của người làm sử có lương tâm, sau là  trả món nợ với anh Trần Huy Liệu – bậc thầy của ông đồng thời là nhà cách mạng lão thành kiêm sử gia đáng kính.

Dựa vào tin thu trên mạng, tóm lược như sau : Lúc đang làm Bộ trưởng Thông tin tuyên truyền (thời điểm 1946-1948?), ông Trần Huy Liệu đã viết về một nhân vật thiếu nhi Lê Văn Tám tự tẩm xăng vào người và chạy vào đốt kho xăng của giặc Pháp ở Thị Nghè. Ông Lê nói : Lúc sáng tác ra câu chuyện Lê Văn Tám, anh Liệu có nói với tôi rằng : Bây giờ vì nhiệm vụ tuyên truyền nên tôi viết tài liệu này, sau này khi đất nước yên ổn, các anh là nhà sử học nên nói lại giùm tôi, lỡ khi đó tôi không còn nữa. Lúc đó ông Trần Huy Liệu đã là một nhà hoạt động xã hội lớn thì sao có thể thổ lộ gan vàng với cậu bé Lê mươi mười lăm tuổi ?!

Nhà văn Phan Vũ thì kể rằng ông không biết chuyện đốt kho xăng có thật không nhưng theo yêu cầu của công tác tuyên truyền, ông dựng phim truyền hình (?) vào dịp Cách mạng tháng Tám nên lấy tên Tám đặt cho nhân vật là hợp với tập quán của người Nam bộ. Tình tiết này không hợp lý vì mãi tới năm 1973, Hà Nội mới có truyền hình, tuy nhiên cho tới nay chưa từng dựng một phim nào về Lê Văn Tám.

Được biết thời điểm ông Phan Vũ viết vở kịch Lửa cháy lên rồi với nhân vật trung tâm là thiếu nhi Lê Văn Tám vào khoảng 1953-1954 ở chiến khu Nam Bộ và đã diễn cho bà con vùng kháng chiến xem trước khi tập kết ra Bắc. Suốt mấy năm sau, vở kịch được công diễn trên nhiều sân khấu các thành phố lớn và học đường ở miền Bắc mới giải phóng, góp phần nhen lên trong lòng lớp thiếu niên lúc ấy ngọn lửa của lòng yêu nước. Sau đó không thấy vở kịch công diễn nữa, vì sao thì không rõ nhưng hình ảnh ngọn đuốc sống đã in đậm trong lòng nhiều người, nhất là khi cuộc chiến đấu chống Mỹ xâm lược càng vào những thời điểm gay go quyết liệt, tấm gương của những dũng sỹ diệt Mỹ ở miền Nam sáng lên cùng với hình ảnh củangọn đuốc sống Lê Văn Tám như một dòng chảy tự nhiên từ cậu bé Gióng sọ dừa đến Trần Quốc Toản Phá cường địch báo hoàng ân

Nhiều người lớn tuổi kể rằng trong kháng chiến chống Pháp, ở vùng tự do phía Bắc, có viết chuyện nhiều thiếu niên nêu những tấm gương hy sinh dũng cảm, trong đó có chú bé đốt kho xăng ở Sài Gòn. Chuyện do ai viết ra thì không nhớ và cái tên Lê Văn Tám xuất hiện từ lúc nào, do ai khởi xướng cũng không mấy ai để ý. Vậy có tư liệu lưu trữ lại không ?

Trên báo Cựu chiến binh TP.HCM số 269 ngày 20/10/2008, có nêu ý kiến trao đổi của Đại tá, hội viên Hội Cựu chiến binh quận X Võ Thanh Khiết như sau :

Kho xăng dầu Thị Nghè thực ra là một trạm trung chuyển của hãng dầu Shell để xuất hàng cho các khách hàng mua sỉ không lớn lắm, thường đến nhận hàng bằng xe tải hay ghe thuyền. Nó nằm trên bờ tây rạch Văn Thánh, ngay sát đầu cầu trên đường Ngô Tất Tố ngày nay, cách chợ Thị Nghè vài trăm thước, nên thường được gọi là Kho xăng dầu Thị Nghè. Thực hiện chủ trương tiêu thổ kháng chiến, ngày 17/10/1945, Lê Văn Tám được giao nhiệm vụ đột nhập vào kho này, dùng chai xăng đốt phá, bị xăng bắt cháy vào người thành ngọn đuốc sống và anh dũng hy sinh. Gương anh dũng hy sinh trong khi làm nhiệm vụ của Tám đã động viên chúng tôi rất nhiều trong chiến đấu lúc bấy giờ. Đó là chuyện có thật 100 %, không phải hư cấu như người ta nói.

Còn Kho đạn Sở thú, thường gọi như vậy do nó nằm trên đường Docteur Angier (nay là đường Nguyễn Bỉnh Khiêm, ngang với Bảo tàng lịch sử thành phố trong khuôn viên Thảo cầm viên) là một kho đạn quy mô không lớn, nghe nói nó thuộc Trung đoàn thuộc địa số 11 (11e RIC) trước kia, nó cách Kho xăng dầu Thị Nghè hơn 500 mét, bị một đơn vị vũ trang của ta đánh nổ đêm 8/4/1946 nhằm triệt phá tiềm lực chiến tranh của giặc.

Cả hai sự kiện lịch sử trên diễn ra cách nhau về thời gian, không gian và khác biệt nhau cả về tính chất hồi đầu Nam Bộ kháng chiến, được báo chí kháng chiến và báo chí nội thành Sài Gòn lúc ấy phản ánh khá đầy đủ, có thể sưu tra để phản ảnh lịch sử đúng sự thật vốn có của nó.

Vậy là sự kiện mà ông Dương Quang Đông nêu ra mới chỉ đúng nửa phần sự thật vì đó là trận đánh Kho đạn Thị Nghè với sự hy sinh của các chiến sỹ Kakim, Kỷ và Ny, coi như là có thật. Còn đánh cháy Kho xăng Thị Nghè lại là một sự thật khác nhưng người chiến sỹ cảm tử ấy là ai ?

Vậy ngọn đuốc sống là hoàn toàn không có thật hay chỉ cái tên là không thật ? Đặt cho cùng một nhân vật cái tên Tám – Lê Văn Tám có là sự trùng hợp ngẫu nhiên giữa nhà sử học, nhà văn và dư luận ở những thời gian và không gian khác nhau không ? Ai có thể làm rõ ra chuyện này?

Chúng tôi trực tiếp gặp Đại tá Võ Thanh Khiết vào dịp Quốc khánh năm nay (2009) và lược nhanh vài nét trong buổi chuyện trò thân tình vui vẻ.

– Người viết : Xin ông cho biết sơ luợc trích ngang về quá trình tham gia kháng chiến.

– Đại tá VTK : Tôi sinh năm 1929, quê ở xã Tân Bửu, Trung Huyện, tỉnh Chợ Lớn (nay thuộc địa bàn huyện Bình Chánh và Bến Lức). Năm 1940 tôi lên học ở Sài Gòn. Sau ngày Nhật đảo chánh Pháp 9/3/1945, tôi về quê, tham gia Thanh niên Tiền phong. Ngày 24/8/1945, tham gia cướp chính quyền ở tòa Bố tỉnh Chợ Lớn. Sau đó làm liên lạc cho báo Kèn gọi lính của ta. Sau ngày 23/9, Uỷ ban kháng chiến Sài gòn rút ra đóng tại xã tôi thì tôi làm liên lạc cho Uỷ ban, thường xuyên ra vào thành phố lấy tin tức. Lúc đó vùng Thị Nghè còn là ngoại đô, là nơi tranh giành quyết liệt giữa ta và địch, có cả lính Vệ quốc đoàn Nam tiến cùng chiến đấu với các lực lượng võ trang của địa phương. Khoảng cuối tháng 10 năm đó, khi quân của Leclerc tăng viện cho mặt trận Sài gòn thì quân ta rút khỏi Thị Nghè. Năm 1947, tôi vào du kích Hạ Trung Huyện, rồi lên tiểu đoàn 308 Nguyễn An Ninh do anh Huỳnh Văn Một chỉ huy, liên tục chiến đấu ở vùng Chợ Lớn cho đến năm 1950…

– Người viết : Lúc đó ông có biết chuyện cháy Kho xăng Thị Nghè không ?

– Đại tá VTK : Thời gian đó cơ quan Uỷ ban còn đóng sát nách Sài Gòn, tôi ra vào nội đô thường xuyên sao không biết. Tôi nói rõ để anh biết. Khi tôi là học sinh trường Pétrus Ký, điểm chính hiện nay thì quân Nhật biến thành trại lính của nó rồi. Trường tôi chuyển về học tại trường Trưng Vương ngày nay, sát ngay Sở Thú, kế bên là Thị Nghè. Đám học sinh nội trú chúng tôi thường ra đó chơi, đá banh rồi nhảy xuống tắm ở cái hồ kế đó, nước trong và mát lắm. Bởi thế vùng này tôi rành lắm.

– Người viết : Vậy Kho xăng Thị Nghè và Kho đạn Sở Thú là hai căn cứ khác nhau ?

– Đại tá VTK : Đúng ! Khác nhau về địa điểm và cả về tầm cỡ. Thực ra gọi là Trạm xăng Thị Nghè thì đúng hơn vì nó chỉ là một Đại lý bán sỉ xăng dầu của tư nhân thì làm chi có lính bố phòng. Nó nằm kề bên bờ con rạch gần chợ, thuyền ghe hoặc xe ô tô đều ra vô được. Tôi còn nhớ rõ đó là một căn nhà thấp, nền đất, không rộng lắm, mái tôn xập xệ, vách là những tấm gỗ mảnh đóng thưa, trong nhà chứa nhiều thùng phuy, tới nơi sặc hơi dầu. Chung quanh có một lớp rào kẽm gai sơ sài, có ai đột nhập vào cũng không khó khăn gì. Còn Kho đạn Sở Thú là một doanh trại, toàn lính lê dương canh gác, lại gần Tổng hành dinh của tướng Leclerc nên được bố phòng cẩn mật.

bando

– Người viết : Cả hai trận đánh ông đều biết ?

– Đại tá VTK : Đạn nổ điếc tai, lửa khói ngất trời thì cả thành phố ai mà không biết. Hôm sau đồn rầm lên những tin truyền khẩu rồi mới là trên báo chí. Do đơn vị nào đánh thì không biết nhưng thiệt hại của nó và tâm lý địch, ta thì biết. Dù không chính xác nhưng báo chí của nó đã nêu lên một phần sự thật.

– Người viết : Lúc đó ông đã biết người đánh trạm xăng là ai ? tên gì và do đơn vị nào tổ chức chưa ?

– Đại tá VTK : Theo tôi thì trận đánh Kho đạn ngày 18/4/1946 phải có tổ chức chu đáo và có nhiều người phối hợp mới tiến hành được. Các anh chịu khó tìm xem. Trong hồi ký Những năm tháng không thể nào quêncủa Đại tướng Võ Nguyên Giáp do nhà văn Hữu Mai chấp bút có nói đến trận đánh này. Còn cháy Trạm xăng Thị Nghè tháng 10 năm trước thì dù tổ chức hay cá nhân nào có ý đồ đều dễ thực hiện, nhất là lúc đó phong trào tiêu thổ kháng chiến đang cao. Dù chỉ là một trạm chứa nhưng vài chục tới trăm phuy xăng dầu 200 lít cùng cháy rần rần thì cả thành phố đều biết, gây sự phấn chấn trong lòng người lúc đó đang căm thù quân xâm lược. Trận nào báo chí nó cũng chỉ nói là bị Việt Minh đánh. Nhưng vụ cháy trạm xăng, qua tin tức nội bộ nói là do một em bé tên Tám đốt. Em Tám chứ không nêu đủ họ danh Lê Văn Tám như sau này đâu.

– Người viết : Ông có nghe những thông tin trái chiều về ngọn đuốc sống hay không ?

– Đại tá VTK : Tôi có nghe và cảm thấy buồn. Ông Trần Huy Liệu là một sĩ phu tâm huyết, người mà trước sau tôi vẫn rất kính trọng. Tôi chỉ nói được rằng vụ cháy trạm xăng Thị Nghè là có thật, tôi là một chứng nhân ! Còn tiến hành thế nào thì làm sao biết được. Vùng này lúc đó phức tạp, cả ta và tây đều không làm chủ được, tập trung rất nhiều trẻ em lang thang cơ nhỡ và có tinh thần đánh tây hăng lắm. Mà vũ khí chỉ cần một que diêm hay cái hộp quẹt thôi. Khi lửa phật lên, xăng phụt ra bắt cháy, ai cũng phải có phản xạ vọt chạy thoát ra. Gọi là ngọn đuốc sống cũng không có gì là quá. Có thể nào ông Trần Huy Liệu hư cấu ra một chuyện trùng với sự thật đã xảy ra trước đó cả năm trời, ở cách xa ông hàng ngàn kilômét ?! Còn cái tên Tám xuất hiện từ đâu, muốn làm rõ ra cũng không là điều dễ. Hãy coi như một cái tên lịch sử.

Trong cuộc sống, nhất là trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt, nhiều sự kiện bi hùng khó được minh xác cả về hành tung và nhân vật. Khắp thế giới này ở đâu cũng thế, nó thường bị phủ lên màu huyễn hoặc tuỳ thuộc sự kiện ấy lớn hay là nhỏ cùng với bối cảnh xảy ra. Nhất là khi nó được diễn tả bằng những hình tượng văn học thì tuỳ theo tư duy trừu tượng của người nghệ sĩ sáng tạo nên những nhân vật hoặc phi lý thì chết yểu, hoặc hợp với yêu cầu chính đáng của lịch sử nhân vật sẽ thành thần tượng bất tử trong sinh hoạt tinh thần của một cộng đồng. Tại sao người Việt tin Phù Đổng Thiên Vương là có thật dù ai cũng hiểu nó pha nhiều huyền thoại ? Tại sao người Trung Hoa tin ông Quan Vân Trường đức độ, tài ba, uy vũ cả lúc sống đến khi đã chết ? Tại sao ở thế kỷ XV, khi nước Pháp không còn được là cái bóng của chính mình, người ta lại tin cô thôn nữ thất học Jeanne d’Arc, lúc 12 tuổi đã nhận được thiên khải của Chúa truyền cho sứ mệnh thống lãnh quân đội Pháp đánh bại quân xâm chiếm Anh ? Tại sao người nữ chiến binh dũng cảm ấy lúc 18 tuổi cầm quân đã qua mặt bao nhiêu thống lĩnh, được coi như người làm nên chiến thắng cho nước Pháp trong cuộc chiến tranh 100 năm với người Anh ? Năm 19 tuổi, cô bị bắt. Từ bị coi như kẻ dị giáo, bị thiêu trên giàn hoả, rồi lại được giải oan, coi như một tín đồ tử vì đạo, được ban phúc lành, rồi được Giáo hoàng phong thánh, là niềm tự hào của nước Pháp và được các văn nhân nghệ sĩ tài danh như Shakespeare, Voltaire, Schiller, Verdi, Tchaikovsky, Twain, Shaw… lấy làm hình tượng sáng tác tôn vinh.

Thực tế suốt mấy mươi năm chiến đấu kiên cường giải phóng non sông, đồng bào và chiến sĩ ta đã nêu những tấm gương hy sinh chịu đựng để giữ lòng sắt son trung kiên với nước không bút mực nào tả hết, những tấm gương anh hùng dũng cảm không tiếc thân mình cho thắng lợi cuối cùng cũng không sao kể hết ra. Hạnh phúc thay cho nhà văn có nhân vật của mình được hoá thân thành con người thật giữa đời và sống mãi trong lòng nhân dân. Chú bé nào được mang danh Lê Văn Tám tượng trưng cho tuổi trẻ Việt Nam anh hùng chẳng khác gì chú bé Gavroche của kinh thành Paris mà hôm nay tới đó, người ta vẫn tưởng như có bóng chú thấp thoáng trên những ngã phố, quảng trường. Những con người như thế đã làm đẹp cho lịch sử dù không làm nên lịch sử nhưng họ xứng đáng bước vào trang sách những em thơ.

Ngọn đuốc sống là hìmh tượng nghệ thuật mà sự rung cảm xuất thần của nhà văn đã dựng nên và cũng không ngờ nó còn sáng mãi. Sự việc chỉ có một người hành động mà đã không còn. Ai biết được chú bé ấy có một mái nhà ở đâu đó hay chú là đứa trẻ lang thang lấy góc chợ, lề đường làm nhà, lúc đánh giày, lúc bán lạc rang ? Người mẹ kia có thể là má Tư, dì Tám thương tình đứa trẻ bơ vơ và chú ngả vào lòng ? Đời người lính chiến có khi sống chết ngoài quy luật. Đã không là bản báo công thành tích để tuyên dương công trạng thì sao lại đòi phải có thân nhân hay đơn vị đứng ra xác nhận và cần biết chú đúng 10, 12, 15 hay 17 tuổi làm chi ? Có ai vô cảm vô tâm tới mức đi đo đếm quãng đường bé em chạy khi trên mình đầy lửa chính xác là bao nhiêu mét ? Ai đã từng được nhìn tấm hình nổi tiếng bé gái Phúc trần truồng vì phỏng lửa bom của giặc Mỹ vào năm 1972, chỉ có thể nhạt nhoà nước mắt thương tâm chớ ai còn lòng nào hỏi con đường em đã chạy được bao xa ? Mà vị sử gia hàng đầu của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam còn đủ lòng bình thản đi tìm bác sỹ tham vấn xem khi lửa xăng đang bốc cháy trên người một chú bé 10 tuổi, liệu khả năng sẽ chạy được bao xa ?! Để làm gì ?! Tôi rất cảm phục ý kiến của một cư dân mạng luhanhhoangviet : Thật ra thì trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ của nhân dân ta, những hành động anh hùng nhiều lắm, có điều là họ hy sinh vì đất nước nhưng tên tuổi thì không được ai biết đến. Có thể trong số họ không có ai tên là Lê Văn Tám nhưng những việc họ đã làm cũng không kém đâu. Dù Lê Văn Tám là một nhân vật tưởng tượng thì tôn vinh anh cũng là thể hiện lòng nhớ ơn tới những người đã hy sinh vì đất nước, chẳng có gì là sai cả !

Trong cuộc trả lời phỏng vấn qua điện thoại sau đó của nhật báo Người Việt, phóng viên hỏi : Ông Trần Huy Liệu nói ra với ông (PHL) điều đó vào lúc nào ? Ông Lê trả lời : Ông Trần Huy Liệu nói với tôi rất nhiều lần câu chuyện này vào những năm cùa thập kỷ 1960, vài năm trước khi ông Liệu mất, có cả mấy người cùng biết hiện nay đang còn sống. Khác như ông nói ở phần trên ! Lúc này ông Lê mới tốt nghiệp Đại học – Khoa Sử, được giữ lại làm cán bộ giảng tại Trường Đại học, ông Trần Huy Liệu làm Viện trưởng Viện Sử học Việt Nam. Thầy trò lúc phiếm có thể nói với nhau những chuyện trái của nghề viết lách mà trò coi như di ngôn, cần phải thanh minh cho người thầy tiết tháo. Trái lại, những tư tưởng chính kiến sáng rỡ của thầy lưu rành rành trong sách, được nhiều người trân trọng coi như di huấn thì trò lại xé toạc đi ! Ông làm đầu trò kích xúi người ta dựng dậy thây ma của những kẻ bán nước hại dân trong khi ông thâm trầm khôn khéo xô đổ những tượng đài yêu nước ! Hẳn ông biết giữa triều, vua Lê Thánh Tông từng mắng nhiếc mấy sử quan ăn ở hai lòng :… Các ngươi bảo nước ta là hàng phiên bang đời xưa, thế là người theo đạo chết, mang lòng không vua. Các ngươi nay thờ chủ này mai thờ chủ khác chỉ vì lợi lộc, sao trong lòng không tự xấu hổ mà chết ư ?

Muốn trung thực phải trung thành trước đã.

Nói hết ra sự thật để làm xao xuyến lòng người, chưa hẳn là người có lương tâm.

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 5 tháng 9 năm 2009

—————————————————-

7.NGUYỄN TRƯỜNG TÔ – Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang

Tuy chưa được phong danh hiệu Anh hùng gì (chính xác là chưa kịp làm hồ sơ như ông Hồ Xuân Mãn)trong con mắt của người dân, nhưng ông Chủ tịch Tỉnh này cũng xứng danh anh hùng với …”các cháu”.

CHỦ TỊCH TỈNH CỞI TRUỒNG

(Blog Trương Duy Nhất nã phát pháo đầu tiên – Tranhung09)

Đó là những bức ảnh khỏa thân. Ừ mà khỏa thân e chưa trúng, phải nói là cởi truồng lõa lồ. Hình ảnh một ông Chủ tịch tỉnh nằm trần truồng trên giường trong nhiều tư thế rất tục tĩu sau khi hành sự xong.

          Đó là hình ảnh ông Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

          Vụ án mua bán dâm trẻ vị thành niên là học sinh của ông hiệu trưởng Sầm Đức Xương đang gây ầm ĩ dư luận. Cơ quan điều tra, và cả cơ quan Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng cũng đang tiến hành thẩm tra xác minh xem ông Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô có đúng là người mua dâm như lời khai của các bị can trong vụ án?

          Trong khi đang là nghi can trong vụ án mua dâm trẻ vị thành niên, ông Tô lại bị phát hiện có dấu hiệu liên quan đến một vụ mua dâm khác.

          Ngày 22-11-2006, khi Công an thị xã Hà Giang bắt quả tang Nguyễn Thị Dung (Nguyễn Thị Trang) đang bán dâm cho một vị khách tên là Phạm Văn Bằng tại khách sạn Thủy Tiên (tổ 10, phường Minh Khai, thị xã Hà Giang), có lập biên bản thu giữ của Dung một máy điện thoại di động Nokia N73 số thuê bao 0986.623.994. Vụ mua bán dâm này được xử lý hành chính theo qui định.

          Tuy nhiên, qua kiểm tra chiếc điện thoại di động, Công an thị xã Hà Giang phát hiện có nhiều cuộc gọi, tin nhắn và lưu một số hình ảnh của một người đàn ông nằm trần truồng trên giường. Sau khi in phóng 4 kiểu thành 13 ảnh để đối chiếu mới tá hỏa nhận ra người đàn ông trần truồng nằm trên giường kia chính là ông Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang.

          Tại biên bản làm việc với công an, Dung khai nhận vào tháng 11-2005 có ngủ qua đêm với ông Tô Chủ tịch tại một khách sạn ở Hà Nội. Sau khi quan hệ xong, ông Tô cứ… để nguyên thế nằm ngủ mà không hề mặc áo quần. Thấy tư thế lõa lồ của ông Tô kỳ kỳ, “hâm mộ và tò mò”, Dung đã lấy máy điện thoại di động Nokia N7260 (máy điện thoại khi đó Dung sử dụng) chụp theo nhiều tư thế khác nhau. Một thời gian sau, khi đổi máy di động, Dung đã cop chuyển toàn bộ số ảnh trên sang máy di động Nokia N73 bắng cổng hồng ngoại (Bluetooth).

          Kết quả giám định từ Viện khoa học hình sự (Tổng cục cảnh sát phòng chống tội phạm, Bộ Công an) trên cơ sở trưng cầu giám định 13 tấm ảnh nói trên và 2 tấm ảnh của ông Tô làm mẫu, kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết cắt ghép thể hiện trên 13 ảnh gửi giám định, 13 ảnh cần giám định so với 2 tấm ảnh mẫu của ông Tô có những đặc điểm giống nhau.

          Đặc biệt, trong máy di động của Nguyễn Thị Dung còn có những tin nhắn được gửi đến từ máy di động số 0913271133 của Chủ tịch Tô với ký hiệu “TYCT”- Dung lý giải đó là “tình yêu Chủ tịch”.

          Theo báo cáo giải trình của ông Nguyễn Bình Vận, Giám đốc Công an Hà Giang về vụ việc này: “Khi thấy (ảnh) tôi cũng bàng hoàng không tin vào mắt mình người đàn ông đó là anh Nguyễn Trường Tô Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang”. Và sau đó ông Vận đã báo cáo sự việc này cho Bí thư tỉnh ủy. Ông Hòang Minh Nhất, Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang xác nhận trong một báo cáo của mình: “Nghe được tin Công an thị xã Hà Giang bắt quả tang một vụ mua bán dâm tại khách sạn, có ảnh đồng chí Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch UBND tỉnh ở trong điện thoại của cô gái bán dâm. Nghe được vậy, tôi yêu cầu Giám đốc công an tỉnh báo cáo vụ việc. Sau khi giám đốc Công an tỉnh báo cáo xong, tôi có giao nhiệm vụ cho giám đốc công an tỉnh gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô Chủ tịch UBND tỉnh thông báo, nói rõ vụ việc trên, Đồng thời, tôi cũng giao cho đồng chí Nguyễn Huy Nạp, Trưởng Ban Tổ chức Tỉnh ủy (nay đã nghỉ chế độ) gặp đồng chí Nguyễn Trường Tô nói rõ và yêu cầu rút kinh nghiệm. Trong một cuộc hội ý về công việc giữa tôi và đồng chí Nguyễn Trường Tô, tôi có nêu ra vấn đề trên và nhắc nhở đồng chí Nguyễn Trường Tô cần rút kinh nghiệm trong sinh hoạt. Do đồng chí Nguyễn Trường Tô mới bầu giữ chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh được ít tháng, nên tôi dùng hình thức nhắc nhở, không tiến hành kiểm tra kiểm điểm”.

          Những bức ảnh trần truồng của ông Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô trông phản cảm và tục tĩu đến độ tôi không thể và không dám đưa lên trang blog này.

  

Bản chụp phần kết luận của Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng về trưng cầu giám định những bức ảnh cởi truồng của Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô

Bản chụp báo cáo của Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Hoàng Minh Nhất

  

  

Bản chụp báo cáo của Giám đốc Công an tỉnh Hà Giang Nguyễn Bình Vận

Bản chụp báo cáo của Công an thị xã Hà Giang.

         Tin mới nhất : Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng vừa kết thức phiên họp thứ 32 vào cuối giờ chiều nay 5-7-2010. Trong 45 vụ việc được kiểm tra xem xét kỷ luật lần này có trường hợp của Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô. Sáng mai, báo Nhân Dân, Quân Đội Nhân Dân và nhiều báo khác sẽ đăng nguyên văn bản thông báo kết luận này. Xin lược đăng đoạn kết luận về ông Tô Chủ tịch:

          “Qua kiểm tra nhận thấy đồng chí Nguyễn Trường Tô từ năm 2005 đến nay đã có vi phạm: thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, sống buông thả, quan hệ không lành mạnh, vi phạm nghiêm trọng tư cách cấp ủy viên, đảng viên, gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh người cán bộ lãnh đạo, gây dư luận bất bình trong đảng và xã hội. Những sai phạm của đồng chí Tô đã được Chủ nhiệm UBKT TW nhắc nhở nhưng không nghiêm túc tiếp thu, khắc phục và không thành khẩn nhận khuyết điểm. Bí thư Tỉnh ủy và Giám đốc Công an tỉnh biết nhưng không báo cáo xem xét giải quyết. UBKT TW đề nghi Ban Bí thư thi hành kỷ luật đồng chí Nguyễn Trường Tô bằng hình thức cách hết các chức vụ trong Đảng, đề nghị cấp có thẩm quyền bãi nhiệm đại biểu HĐND và cách chức Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang. Bí thư Tỉnh ủy và Giám đốc Công an tỉnh phải kiểm điểm trước Tỉnh ủy về việc này một cách nghiêm khắc”.

——————————————————————–

Ông Nguyễn Trường Tô, Chủ tịch Tỉnh Hà Giang, người xuất hiện trong cả hai danh sách mua dâm em Hằng và Thúy.

Danh sách khách mua dâm của Thúy:

1. Ông Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh – ĐT: 0913271307

2. Ông Tô – Chủ tịch UBND Tỉnh – ĐT: 0913271133

3. Ông Tấn – Công an Tỉnh (em của 1 Giám đốc CA Tỉnh) – ĐT: 0912061622

4. Ông Định – Phó Chủ tịch Huyện Vị Xuyên

5. Ông Thành – Giám đốc Doanh nghiệp – ĐT: 0912144888

6. Ông Dũng – Lái xe Bưu điện Tỉnh

Danh sách khách mua dâm của Hằng:

1. Ông Sầm Đức Xương – Hiệu trưởng trường Việt Lâm.

2. Ông Nguyễn Trường Tô – Chủ tịch Tỉnh Hà Giang

3. Ông Đinh Xuân Hùng – Giám đốc Ngân hàng Chính sách Tỉnh Hà Giang

4. Ông Bích – Trưởng Ban tổ chức Công an Tỉnh

5. Ông Tiến – Công an Tỉnh Hà Giang

6. Ông Hướng – Cán bộ Hải quan của khẩu Thanh Thủy

7. Ông Minh – Cán bộ Công an Tỉnh Hà Giang

Nguồn: Tackeblog

————————————————————–

Lãnh đạo Hà Giang nói về ảnh nóng của chủ tịch tỉnh

08/07/2010

 Ông Hoàng Minh Nhất – Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang cho biết: “… Trong lãnh đạo tỉnh chúng tôi cái gì cũng phải có cân, đo, đong, đếm, xử lý cho hợp lý ở thời điểm nào cho tốt và hài hòa.”

 Nghi vấn bức ảnh khỏa thân phát hiện từ năm 2006

Trao đổi với PV vào sáng ngày 7/7, ông Hoàng Trung Luyến khẳng định, vào thời điểm 2005-2006 ông không hề hay biết sai phạm của ông Nguyễn Trường Tô liên quan đến hàng loạt bức ảnh khỏa thân trong máy điện thoại của một gái mại dâm. Chỉ đến khi Ủy ban Kiểm tra Trung ương (UBKTTƯ) làm việc với Ban thường vụ Tỉnh ủy tháng 6/2010, trên cơ sở tài liệu trong tổ kiểm tra của UBKTTƯ đưa ra, ông và nhiều người mới biết chuyện.

“Trước Ban thường vụ và UBKTTƯ, anh Hoàng Minh Nhất, Bí thư Tỉnh ủy cho biết, năm 2006 anh Nguyễn Bình Vận – Giám đốc Công an tỉnh đã báo cáo vụ việc trên. Do còn suy nghĩ về tính xác thực của bức ảnh và thời điểm đó anh Tô mới làm chủ tịch UBDN tỉnh, nên anh Nhất quyết định chỉ nhắc nhở riêng chứ không đưa ra kiểm điểm trước tập thể”, ông Luyến kể lại.

Cũng theo ông Luyến, tài liệu của tổ công tác cho thấy, ông Nhất cũng đã giao cho ông Vận trực tiếp thông báo sự việc với đồng chí chủ tịch tỉnh. Trả lời trước tập thể, ông Tô nói rằng, chỉ có đồng chí bí thư nhắc nhở chung chứ ông Vận không thông báo về chuyện những tấm ảnh khỏa thân.

Ông Luyến cho biết thêm: “Trong cuộc họp Ban thường vụ Tỉnh ủy, anh Nhất cũng đã nhắc nhở đồng chí Tô về lối sống sinh hoạt. Đi công tác cơ sở, anh em cấp dưới mời cơm, mời rượu cũng không nên ngồi quá lâu rồi tếu táo thái quá”.

Trước câu hỏi của phóng viên đề nghị nói rõ về việc tại sao chỉ nhắc nhở chứ không đưa ra kiểm điểm trước tập thể, như thế có phải là vi phạm điều lệ Đảng(?), ông Luyến cho rằng, nếu sự việc đã được điều tra, xác minh làm rõ thì cách xử lý “nhắc nhở” là sai. Tuy nhiên, trong bối cảnh chưa được làm rõ thì cách xử lý như vậy là hợp lý.

“Kết luận của UBKTTƯ cho biết, qua giám định cơ quan công an xác định đó là ảnh thực. Anh Tô khẳng định: Không biết ai là người chụp tôi và chụp vào lúc nào”.

“Tại sao trường hợp đó không để cơ quan công an tiếp tục làm rõ? Chuyện hệ trọng như vậy, lại liên quan đến người đứng đầu UBND tỉnh thì nhắc nhở có phải là bao che?” – PV hỏi. Ông Luyến trả lời: “Tôi không cho là vậy. Trong trường hợp chỉ nghe báo cáo bước đầu, chưa xác thực được chuyện ảnh chụp trong trường hợp nào thì cách xử lý như vậy là hợp lý”.

Tuy nhiên, ông Luyến cũng nói thêm: “Nếu là tôi thì tôi sẽ cho mời 2 – 3 người trong Ban thường trực Tỉnh ủy cùng làm việc, nhắc nhở anh Tô để thể hiện tính tập thể, tính tổ chức”.

Không giới thiệu người trong “danh sách đen” vào nhân sự cấp ủy

Liên quan đến bản “danh sách đen” mà 2 bị cáo Nguyễn Thúy Hằng, Nguyễn Thanh Thúy khai trước tòa phúc thẩm xét xử vụ án Hiệu trưởng mua dâm học trò, ông Luyến nhấn mạnh: “Trong bản tường trình, các cá nhân có tên trong danh sách đã phủ nhận sự liên quan.

Tuy nhiên, thường vụ Tỉnh ủy vẫn có văn bản nêu rõ: sẽ không giới thiệu những cá nhân này vào nhân sự cấp ủy nhiệm kỳ mới cũng như không đưa vào danh sách đại biểu đi dự Đại hội Đảng cấp trên”. Ông Luyến nêu ví dụ như ông Đ. (một cán bộ lãnh đạo ở UBND huyện Vị Xuyên; ông B. đang công tác tại Công an tỉnh Hà Giang (chúng tôi viết tắt – pv).

Trong số này, ông B. là đại biểu đương nhiên nên chưa có kết luận thì chưa bác được tư cách đại biểu đương nhiên. Tuy nhiên, hôm trước khi trao đổi với anh Vận và Đảng bộ Công an tỉnh, ông B. đã xin rút khỏi đại biểu đương nhiên.

“Với trường hợp anh Tô, trong Hội nghị cán bộ chủ chốt và Hội nghị Ban chấp hành Đảng ủy lần trước vẫn được giới thiệu vào cơ cấu nhân sự nhiệm kỳ mới. Nhưng trong cuộc họp Ban chấp hành sau khi UBKTTƯ có kết luận sai phạm của anh Tô, thì không biết còn ai giới thiệu hay không”, ông Luyến nói.

“Kết quả bỏ phiếu trong thường vụ Tỉnh ủy về việc xử lý những vi phạm của ông Tô thì quá 50% trong số 13 người đã đồng ý có hình thức kỷ luật với đồng chí Chủ tịch tỉnh”, ông Luyến nói thêm.

Về vụ án Hiệu trưởng mua trinh học trò, ông Luyến cho biết, sau khi tòa phúc thẩm giao vụ án về cho cấp sơ thẩm điều tra lại thì thường vụ Tỉnh ủy đã giao cho công an tỉnh điều tra. Tuy nhiên sự việc có nhiều khó khăn và ông Tô lại là người trực tiếp phụ trách Đảng bộ Công an tỉnh, nên đơn vị này đã mời Bộ Công an tham gia điều tra để sự việc được khách quan.

Ông Hoàng Minh Nhất – Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang cho biết: “Trong công bố của UBKTTƯ còn một bước là trình lên Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Khi nào Bộ Chính trị và Ban Bí thư có quyết định thì chúng tôi sẽ xử lý theo quyết định đó”.Trong lãnh đạo tỉnh chúng tôi cái gì cũng phải có cân, đo, đong, đếm, xử lý cho hợp lý ở thời điểm nào cho tốt và hài hòa. Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Hà Giang đã rất công minh. Anh Tô đã thẳng thắn nói hết rồi. UBKTTƯ cũng đã làm rõ vấn đề”.

 Nguồn: Vietnamnet

Ông Tô giải trình những gì? (08/07/2010)
  • Ông Nguyễn Trường Tô có nguyện vọng muốn được…  hạ cánh an toàn bằng cách “điều động đi khỏi Hà Giang”.

Tại “Báo cáo giải trình” (dài 5 trang) của Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô mà báo Đại Đoàn Kết có được, 2 trang đầu là phần lý lịch và thành tích.

Theo đó, ông Tô sinh năm 1953 tại Thái Bình, vào Đảng năm 1983. Trình độ văn hóa 10/10, chuyên môn: đại học kinh tế quốc dân, chính trị: cao cấp… Tháng 12/2005, được cử giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy và tháng 3-2006 được HĐND bầu giữ chức Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang cho tới nay.

Mục kỷ luật, ông Tô khai năm 2008 bị Ủy ban kiểm tra Trung ương Đảng thi hành kỷ luật bằng hình thức khiển trách vì có vi phạm trong thực hiện qui chế hoạt động của Ban cán sự Đảng UBND tỉnh và trách nhiệm giải quyết khiếu nại của Công ty TNHH Sông Lô.

Về khen thưởng, ông Tô khai được Huân chương lao động hạng 3, nhiều bằng khen của Tỉnh ủy, HĐND, UBND, nhiều kỷ niệm chương của các Bộ ngành trung ương. Đặc biệt, phân loại đảng viên trong 5 năm liền từ 2005-2009, ông Tô đều đạt danh hiệu đảng viên đủ tư cách, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, chỉ có một năm 2008 đạt mức “hoàn thành nhiệm vụ” nhưng không có chữ xuất sắc.

Tự nhận xét về ưu điểm, phẩm chất đạo đức chính trị bản thân, ông Tô đánh giá mình là người “dám làm dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân, luôn sâu sát cơ sở, xử lý kịp thời những nảy sinh và những vấn đề mà thực tiễn đặt ra. Bản thân và gia đình luôn gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, không có bất cứ việc làm vụ lợi, lạm dụng chức vụ, quyền hạn để vun vén lợi ích cá nhân, không tham nhũng tiêu cực…, luôn được nhân dân, cán bộ, đảng viên nơi cư trú và làm việc tin cậy, quí mến”.

Giải trình về vụ những bức ảnh khỏa thân của mình được chụp trong máy điện thoại di động của một cô gái mại dâm, ông Tô khẳng định “sự việc trên là không có căn cứ…” và việc đó là nhằm để “hạ uy tín” của ông.

-Việc vợ con ông Tô đánh ghen ở Hà Giang, ông Tô giải trình: “Đó là vụ một số kẻ có môi giới mại dâm ở thị xã dụ các cháu học sinh Trường Trung học Y tế đến khách sạn Việt Trung bán dâm, trong đó có cháu B.T.N. Cháu N không nghe, bỏ về và sau đó nói lại với những người kia nặng lời. Những người kia đã thuê taxi Trường Xuân, đẩy cháu lên xe hành hung và xỉ nhục cháu… và nói là “vợ ông Tô xử lý mày”… Cháu N có báo cho ông C. và tôi. Tôi đã giao cho công an thị xã làm rõ (có báo cáo của công an thị xã kèm theo). Đó là một hành động vi phạm pháp luật nhưng công an thị xã báo cáo lên công an tỉnh không thấy xử lý gì? Và cho rằng chưa cấu thành tội phạm và để dư luận đồn thổi vợ con tôi đánh ghen!”

Vụ án mua bán dâm người vị thành niên liên quan đến Hiệu trưởng Sầm Đức Xương và những nghi án từ lời khai của các bị can cho rằng ông Tô đã mua dâm người vị thành niên, ông Tô đề nghị làm rõ những khuất tất vì sao hoãn phiên tòa phúc thẩm, vì sao Trại giam cho luật sư tự do gặp bị cáo? Và ông Tô đặt dấu hỏi phải chăng đó là việc “bới lông tìm vết, dậu đổ bìm leo…”

Trong phần cuối của báo cáo giải trình, ông Nguyễn Trường Tô nêu nguyện vọng muốn được…. hạ cánh an toàn bằng cách “điều động đi khỏi Hà Giang”. Ông viết “Tôi trọn cả tâm sức, trí tuệ cho đồng bào Hà Giang, dù trí mọn, tài hèn nhưng tôi không hổ thẹn về tư cách, năng lực và trách nhiệm mà tôi đã cống hiến cho Hà Giang. Thời gian công tác của tôi không còn nhiều, tôi không tham quyền cố vị, tôi không tham vọng được giao trách nhiệm lớn hơn; còn việc tiếp tục công tác tại Hà Giang với cương vị được giao như hiện nay hoặc Trung ương điều động tôi đi khỏi Hà Giang là do Đảng, nhà nước phân công, giao bất cứ việc gì tôi cũng luôn hoàn thành nhiệm vu…”

TỔ PHÓNG VIÊN ĐIỀU TRA – Nguồn: Daidoanket

“Cả gia đình luôn bên cạnh anh ấy”

VTC phỏng vấn vợ Nguyễn Trường Tô

… Dù đã ở tuổi 56, nhưng vợ ông Nguyễn Trường Tô vẫn giữ vóc dáng nhỏ nhắn và những đường nét thanh tú trên gương mặt khiến người đối diện dễ cảm nhận về “độ bền” của một nhan sắc trước thách thức đến nghiệt ngã của thời gian. Trong suốt cuộc nói chuyện, bà luôn dành cho vị chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang hai từ: “anh ấy”.

Bà nói: “Tôi nghĩ, với mỗi sự việc, mỗi người sẽ nghĩ khác nhau nhưng điều cần nhất trong mọi trường hợp phải là sự thật… Tôi và anh ấy luôn yêu thương nhau và chia sẻ ngọt bùi suốt 39 năm nay. Tôi tin anh ấy”.

– Vừa qua, Ủy ban Kiểm tra Trung ương Đảng đã có kết luận và đề nghị Ban Bí thư thi hành kỷ luật ông Nguyễn Trường Tô vì những vi phạm từ cuối năm 2005 đến nay. Bà có suy nghĩ gì khi đón nhận thông tin này?
Nếu tôi nói rằng, tôi không buồn thì cũng không phải. Nhưng tôi xác định anh ấy không có lỗi lầm gì. Vợ chồng tôi đã sống với nhau được 39 năm, cháu ngoại tôi cũng đã học lớp 11. Tôi rất tự hào và yêu anh ấy. Anh Tô không chỉ tốt với vợ con mà còn tốt với nhiều người xã hội. Tôi luôn động viên anh ấy là dù có bất cứ việc gì xảy ra với anh thì gia đình luôn luôn đứng bên cạnh anh, luôn động viên anh, cho qua những sóng gió.

– Bà đã từng nghe những câu chuyện đồn thổi xung quanh lối sống “ngoài luồng” của chồng bà không?  Đặc biệt là thông tin về những bức ảnh cho rằng ông Tô nằm khỏa thân, lưu trong máy điện thoại của một cô gái mại dâm?
Tôi rất tin chồng tôi vì anh ấy là người tốt. Tôi cho rằng chuyện đó là không có thật, là do người ta bịa đặt cho anh ấy. Tôi thương anh Tô nên… tôi tin anh ấy là chính.

“Hãy để cơ quan chức năng làm việc”
– Bà có cho rằng cơ quan chức năng đã kết luận sai?
Hiện tại gia đình nhà tôi không có ý kiến gì cả. Giờ tôi có nói tốt cho anh Tô thì mọi người cũng không tin. Hãy để cho các cơ quan chức năng làm việc, tôi tin tưởng các cấp các ngành chức năng sẽ sớm làm sáng tỏ sự việc.

– Nếu cho rằng ông Tô vô tội, gia đình bà có kiến nghị gì với các cơ quan chức năng về sự việc này?
Về phía anh Tô thì tôi không biết. Còn bản thân tôi, tuy là vợ chủ tịch UBND tỉnh nhưng là một người phụ nữ chỉ biết chăm lo cho gia đình nên không dám tham gia ý kiến gì.

– Đã bao giờ bà phát hiện ra các mối quan hệ nam nữ ngoài gia đình của chồng mình chưa?
Tôi chưa bao giờ phát hiện ra việc này.

– Có thông tin rằng, trong bản kiểm điểm của ông Tô gửi Ban Kiểm tra Trung ương đã thừa nhận nhân vật của 4 bức ảnh được phát hiện trong điện thoại di động của một gái mại dâm chính là ông. Bà nghĩ gì về thông tin này?
Bây giờ công nghệ đang rất phát triển, người ta hoàn toàn có thể ghép ảnh chồng tôi vào những bức ảnh xấu nào đó.

“Từ khi dư luận có những nghi ngờ đầu tiên về những việc làm của nhà tôi cho đến bây giờ, tôi chưa bao giờ nghĩ khác đi về anh ấy. Những chuyện đó cũng không thể ảnh hưởng đến đời sống gia đình cũng như tình cảm vợ chồng của chúng tôi. Các con tôi cũng rất hiểu và thương bố” – bà cười buồn nói khi chia tay chúng tôi.

————————————————————————–

Ông Nguyễn Trường Tô bị bãi nhiệm chức chủ tịch Hà Giang

Sáng nay tại cuộc họp bất thường, HĐND Hà Giang đã thông qua nghị quyết bãi nhiệm đại biểu HĐND và chức chủ tịch UBND tỉnh với ông Nguyễn Trường Tô. Ông Tô xin vắng mặt vì lý do sức khỏe.Cuộc họp HĐND bất thường bắt đầu lúc 7h30 và kết thúc sau khoảng 30 phút.

Tại cuộc họp báo ngay sau khi kết thúc phiên họp, ông Hoàng Trung Luyến, Trưởng ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Hà Giang cho biết, 39 trên tổng số 46 đại biểu HĐND tỉnh đã tham dự cuộc họp bất thường. Khi bỏ phiếu thông qua việc bãi nhiệm Chủ tịch tỉnh Nguyễn Trường Tô với lý do “vi phạm kỷ luật”, 36 đại biểu đã tán thành.

Trong 7 đại biểu vắng mặt tại HĐND có ông Nguyễn Trường Tô. Ông Tô có đơn xin phép vắng mặt với lý do sức khỏe không tốt.

Cuộc họp bất thường bắt đầu lúc 7h30, khoảng 30 phút sau khi biểu quyết thông qua nghị quyết bãi nhiệm chức vụ đối với ông Nguyễn Trường Tô, các đại biểu HĐND đã lục tục ra về. Ảnh: Tuấn Anh.

Trước đó, sáng 25/7 Tỉnh ủy Hà Giang đã triệu tập hội nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh. Tại đây, ông Trương Tấn Sang, Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư đã thông báo về việc khai trừ Đảng đối với ông Nguyễn Trường Tô do thiếu gương mẫu trong sinh hoạt, sống buông thả, quan hệ không lành mạnh với gái mại dâm, vi phạm tư cách đảng viên, cấp ủy viên, ảnh hưởng xấu đến hình ảnh người cán bộ lãnh đạo, gây bất bình trong Đảng và xã hội, khi kiểm điểm thiếu thành khẩn. Vi phạm của ông Nguyễn Trường Tô là rất nghiêm trọng.

Theo ông Luyến, tại cuộc họp này, ông Tô đã phát biểu, nhận thức bản thân vi phạm đạo đức lối sống và xin nhận hình thức kỷ luật.

Cũng trong ngày 25/7, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã ký văn bản gửi HĐND tỉnh Hà Giang truyền đạt ý kiến của Thủ tướng yêu cầu HĐND tỉnh bãi nhiệm đại biểu HĐND và chức vụ chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang đối với ông Nguyễn Trường Tô để Thủ tướng xem xét, xử lý theo quy định.

Ngày 21/7, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã ký quyết định đình chỉ chức vụ Chủ tịch UBND tỉnh Hà Giang đối với ông Nguyễn Trường Tô.

——————————————-

Xem dinh cơ hoành tráng của ông Nguyễn Trường Tô

Xuất bản: 21:06, Thứ Hai, 11/03/2013
.

Sau 3 năm kể từ ngày bị miễn nhiệm hết chức vụ vì những lùm xùm xung quanh vụ án Sầm Đức Xương (năm 2010), nguyên Chủ tịch tỉnh Hà Giang Nguyễn Trường Tô trở về cuộc sống của người dân thường với thú vui điền viên. Đó là khu trang trại sinh thái ở ngay mảnh đất cực bắc Hà Giang.

Cách Hà Giang 8 km, trên địa bàn xã Đạo Đức (huyện Vị Xuyên), cánh cổng cầu kỳ và lạ mắt này là nơi dẫn vào khu trang trại của gia đình ông Tô
Cách Hà Giang 8 km, trên địa bàn xã Đạo Đức (huyện Vị Xuyên), cánh cổng cầu kỳ và lạ mắt này là nơi dẫn vào khu trang trại của gia đình ông Tô
 Ông Tô là người gốc “quê lúa Thái Bình” nên ngôi nhà cũng được mô phỏng lại nhà truyền thống ở Đồng bằng Bắc bộ
Ông Tô là người gốc “quê lúa Thái Bình” nên ngôi nhà cũng được mô phỏng lại nhà truyền thống ở Đồng bằng Bắc bộ
Những vì kèo được chạm trổ công phu
Những vì kèo được chạm trổ công phu
 Họa tiết chạm khắc làm ngôi nhà… bừng sáng
Họa tiết chạm khắc làm ngôi nhà… bừng sáng
Cả trang trại ngút ngát cây xanh do bàn tay có nghề về cây xanh và phong thủy kiến tạo
Cả trang trại ngút ngát cây xanh do bàn tay có nghề về cây xanh và phong thủy kiến tạo
Hồ tích thủy, bờ kè chắc chắn cùng sự sắp đặt của các tiểu cảnh bon sai
Hồ tích thủy, bờ kè chắc chắn cùng sự sắp đặt của các tiểu cảnh bon sai
Những hòn giả sơn được gia công hết sức công phu
Những hòn giả sơn được gia công hết sức công phu
Những cây cảnh “độc” được đưa về từ khắp nơi, đang trong thời gian “hồ” để thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng của khu trang trại
Những cây cảnh “độc” được đưa về từ khắp nơi, đang trong thời gian “hồ” để thích nghi với khí hậu, thổ nhưỡng của khu trang trại
Trong đó phải kể đến loài thông tre, một trong những loài khó trồng và khó “chiều” hơn cả thú “vua lan, quan trà”
Trong đó phải kể đến loài thông tre, một trong những loài khó trồng và khó “chiều” hơn cả thú “vua lan, quan trà”
  Ông Tô cũng kỳ công đầu tư xây dựng những ngôi nhà hết sức “Tây” để tiếp khách
Ông Tô cũng kỳ công đầu tư xây dựng những ngôi nhà hết sức “Tây” để tiếp khách

Theo Song Nguyên

—————————————————————–

Một Anh hùng Lao động bị đề nghị thi hành kỷ luật

  • 17/08/2006 20:39 

Theo tin từ tỉnh Sơn La, ngày 17/8, Ban Thường vụ Tỉnh uỷ vừa họp và kiến nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh này thi hành kỷ luật ông Lê Xuân – Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Giám đốc Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, nguyên Bí thư Huyện uỷ Mộc Châu. 

Đã có 12/12 ý kiến tại cuộc họp của  Ban Thường vụ Tỉnh Uỷ Sơn La ngày 18/7 nhất trí biểu quyết đề nghị Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh này kỷ luật ông Xuân bằng hình thức khiển trách. 

Lý do ông Xuân bị đề nghị kỷ luật là: Trên cương vị  Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ phụ trách huyện ( Mộc Châu), ông Xuân đã  “thiếu kiểm tra, đôn đốc, giám sát, không kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những thiếu sót, khuyết điểm của Ban Thường vụ Huyện uỷ Mộc Châu và UBND huyện Mộc Châu trong công tác quy hoạch, quản lý và sử dụng đất đai dẫn đến nhiều sai phạm, gây bức xúc trong dư luận”. Cụ thể  là năm 2003, huyện uỷ Mộc Châu đã ra một thông báo dành ra một quỹ đất “ ưu tiên” để xét cấp duyệt quyền sử dụng đất ở cho cán bộ, công chức, viên chức… không đúng qui định của Luật Đất đai và quyết định của UBND tỉnh Sơn La.Căn cứ trên thông báo này và việc UBND tỉnh cho phép chuyển 9.300 m2 đất nông nghiệp sang đất dân cư, UBND huyện Mộc Châu cũng đã tiến hành xét cấp đất ở mới cho 24/48 trường hợp không đúng đối tượng, không đủ điều kiện xét cấp đất theo quy định. Trong số này có  8 trường hợp là gia đình hoặc người thân của một số cán bộ trong Ban Thường vụ Huyện uỷ, Thường trực Hội đồng nhân dân, UBND huyện và 14 trường hợp khác là cán bộ lãnh đạo một số phòng ban, đơn vị quân đội được cho là lợi dụng việc cấp đất để trục lợi, gây bất bình trong nhân dân. Theo kết quả kiểm tra của Uỷ ban Kiểm tra  Tỉnh uỷ Sơn La, “Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới” Lê Xuân còn có trách nhiệm trong việc buông lỏng quản lý, để xảy ra việc hàng chục hộ gia đình được cấp đất không đúng đối tượng, để cho 127 hộ lấn chiếm đất hồ tại khu vực thị trấn Nông trường Mộc Châu. A.Dũng

Bị kỷ luật Đảng, giám đốc sở vẫn… tự khen thưởng mình
Cập nhật lúc: 15:28 11/03/2013
Mặc dù bị kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng và chính quyền nhưng ông Nguyễn Quốc Định – Tỉnh ủy viên, Giám đốc Sở Xây dựng kiêm Chủ tịch Hội đồng thi đua khen thưởng tỉnh Cà Mau – vẫn tự ký quyết định tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cho… mình.Vụ việc này đang gây xôn xao dư luận tại Cà Mau trong nhiều ngày qua.

Để tìm hiểu, ngày 10/3, chúng tôi có liên hệ trao đổi với ông Nguyễn Quốc Định, ông này nói: “Danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở là do tập thể phong cho tôi bằng cách bỏ phiếu kín, chứ bản thân tôi không ham mấy chuyện đó đâu”.
Trước đó, ông Định đã bị kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng và chính quyền do mắc phải nhiều sai phạm: có biểu hiện mất dân chủ, ban hành quyết định tiếp nhận và điều động viên chức không đúng nguyên tắc, sai qui trình và không đúng thẩm quyền. Đặc biệt, với vai trò làm chủ đầu tư nhưng ông đã mắc sai phạm nghiêm trọng, gây lãng phí rất lớn về nguồn vốn đầu tư…
Trao đổi với chúng tôi về vấn đề này, ông Phạm Trung, Phó Giám đốc Sở Nội vụ Cà Mau cho biết, việc tặng danh hiệu thi đua như vậy là hoàn toàn sai quy định. Bởi ông này đã bị kỷ luật cảnh cáo về mặt Đảng và chính quyền nên theo nguyên tắc không thể bình xét thi đua. Ông Trung thông tin thêm, Sở Nội vụ sẽ có ý kiến bằng văn bản về việc này.
Được biết, không chỉ mình ông Định mà ông Trần Hồng Dân, Phó Giám đốc Sở Xây dựng, người cũng bị kỷ luật khiển trách vể mặt Đảng và chính quyền trong năm 2012, cũng được công nhận danh hiệu chiến sĩ thi đua cơ sở.
Theo Tuấn Thanh/Dân trí

———————————————-

THÂN ĐỨC NAM -TỔNG CIENCO5

Thân Đức Nam: Từ cậu bé bán kem đến ‘ông Tổng’ Cienco 5

Người đàn ông này có sức hấp dẫn đến kỳ lạ, ngay từ cái chất giọng Quảng Nam mạnh mẽ đầy sức thuyết phục cho đến tính cách thẳng thắn và cởi mở dễ cho ta cảm nhận thấy sự nhanh nhạy, quyết đoán của một con người thông minh và từng trải. Và ở anh, người ta thấy tư chất của một doanh nhân hiện đại. Anh là Thân Đức Nam – Tổng Giám đốc Tổng Công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO 5).

Ông Thân Đức Nam – Tổng Giám đốc CIENCO 5

Ký ức tuổi thơ

Thân đức Nam sinh ngày 5/1/1958 tại Điện An, Điện Bàn tỉnh Quảng Nam – mảnh đất quê hương có bề dày truyền thống anh hùng cách mạng. Lớn lên trong một gia đình bần nông, lại đông anh em, vì vậy những năm tháng tuổi thơ của nam cũng đầy cơ cực. Những tháng ngày cắp sách đi học, cũng là những tháng ngày cha anh đạp xích – lô vất vả để kiếm tiền nuôi gia đình. Điều ấy đã nhen lên trong tâm trí cậu bé Nam một ý thức sớm tự lập. Sau những buổi đến trường, Nam không vui chơi như những bạn bè cùng trang lứa mà xin cha cho đi bán kem để kiếm tiền mua giấy bút đi học, cũng là đỡ đần gánh nặng cho cha. Ký ức mà cho đến tận bây giờ vị Tổng Giám đốc này vẫn còn nhớ như in trong tâm trí của mình, đó là:“Những buổi trưa đi bán kem trên những con đường trải nhựa nóng rộp hai bàn chân từ thị xã Hội An về đến Điện An”. Cũng chính vì kí ức tuổi thơ của anh với những tháng ngày cơ cực ấy đã luôn là một động lực để anh vượt qua bao gian lao vất vả của cuộc đời.

Lửa thử vàng…

Anh cũng như bao thanh niên lúc bấy giờ, học xong là lên đường làm nghĩa vụ quân sự. Chính những tháng ngày trong quân ngũ đã trui rèn cho anh một nghị lực biết khao khát vươn lên để chinh phục những đỉnh cao trong cuộc sống. “Không những làm vì mình mà còn làm cho cả mọi người”, đó luôn là niềm trăn trở từ sâu thẳm trái tim anh. Với tố chất nhanh nhạy cộng với bản lĩnh đó, sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, anh đã chọn cho mình con đường lập nghiệp đầy thử thách: “kinh doanh”. Bước đầu chỉ là làm nhỏ lẻ từ những mớ thiết bị nhập ngoại cũ kỹ rồi dần dần anh đã thành lập được Công ty riêng và hoạt động ngày một vươn xa… Cho đến một ngày Công ty của anh vươn ra đến tận Quảng Ninh (nơi anh đã phải vượt qua biết bao thử thách, cũng là nơi đã cho anh những trái ngọt đầu đời…). Thời gian anh làm việc tại Công ty của mình ở Quảng Ninh cũng là lúc anh đã lọt vào tầm ngắm của ông Tuân – Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xây dựng Công trình giao thông 5. Biết anh là người có tài năng thực sự nên ông Tuân đã mời anh về làm giám đốc Chi nhánh CIENCO 5 tại Quảng Ninh. Đây cũng chính là ước nguyện được thử sức mình trong môi trường kinh doanh của Nhà nước bấy lâu của anh. Tuy nhiên mọi việc chẳng dễ dàng chút nào, chỉ với hai bàn tay trắng quả là một thách thức vô cùng lớn đối với anh. Với hàng đống khó khăn trước mắt, một câu hỏi được đặt ra với anh:“Bằng lòng với những gì đã có hay chấp nhận đương đầu với thử thách để tiến xa hơn…?”. Anh vẫn còn một đường rút lui an toàn là trở về công ty tư của anh. Nhưng, như thế đâu phải là tính cách trong con người anh, càng khó càng phải làm cho bằng được, có thế những cái mình làm được mới có ý nghĩa hơn bao giờ hết. Đó cũng còn là ước nguyện của anh, có khó khăn mới biết sức mình. Nghĩ là làm, từ một con số không tròn trịa, với một ý chí sắt đá, anh bắt đầu xây dựng lại đội ngũ CBCNV. Chi nhánh lúc đầu chỉ có 10 người lại chưa có trụ sở nên phải đi thuê để có nơi làm việc. Tất cả tiền thuê trụ sở, tiền trả lương nhân viên lúc bấy giờ anh đều phải một mình lo lắng, vay mượn mới có. Rồi công việc cũng được tiến hành. Sau một thời gian tìm kiếm các dự án, cuối cùng anh cũng nhận được dự án lấn biển Vựng Đâng. Chấp nhận dự án này cũng đồng nghĩa với việc chấp nhận khó khăn, chẳng khác gì nhảy vào lửa bởi dự án này đã có mấy công ty rất mạnh từ Hà Nội, Quảng Ninh đấu thầu nhưng không thực hiện nổi nên đã phải bỏ đi. Với niềm tin, khát khao thử sức trong môi trường mới, cương vị mới cộng với sự tính toán, anh nhận thấy mặc dù khó khăn nhưng nếu tính toán dự liệu tốt thì dự án này vẫn đem lại lợi nhuận cao. Quyết là làm và đúng như dự tính, công ty anh đã thành công ngay từ dự án ban đầu này. Dự án Vựng Đâng thành công, nhiều người cho rằng anh may mắn, cho rằng anh có được địa lợi, thiên thời. Cũng có thể, nhưng với anh, anh luôn nghĩ yếu tố con người là quan trọng, bởi có dễ dàng thì không cớ gì các công ty có tiềm năng mạnh phải chùn bước ra đi. Sau dự án này, anh đã rút ra được nhiều kinh nghiệm quý báu, đồng thời công ty của anh cũng đã dần lấy được uy tín của khách hàng.
Lúc này Công ty 507 (thuộc CIENCO 5) đang có nguy cơ phá sản nên lãnh đạo Tổng Công ty quyết định sáp nhập 507 với chi nhánh Quảng Ninh. Lại một khó khăn thách thức nữa đang chờ đợi và anh trở thành giám đốc 507 từ đó. Dám nghĩ dám làm, năng động trong những bước đi táo bạo, Công ty 507 do anh làm giám đốc đã không chỉ lấy lại được hình ảnh của mình mà còn trở thành một thương hiệu mạnh, một công ty có uy tín không chỉ ở quảng ninh.
Khi 507 của anh đang “ăn nên làm ra” cũng là lúc CIENCO 5 rơi vào khó khăn do sự yếu kém của nhiều đơn vị thành viên. Tổng CTXDCTGT – 5 đứng trước môt phen “nước, lửa”… Trước tình thế đó, nhận thấy anh là người có năng lực nên bộ GTVT đã điều anh về giữ chức vụ TGĐ để giải quyết những khó khăn và đưa Tổng Công ty đi lên. Thêm một cơ hội nữa cho anh nhưng nó không ngọt ngào, không dễ chấp nhận chút nào cả. Đi hay ở lại?… Lãi hay lỗ?… Có nhảy vào lửa một lần nữa hay không? Những câu hỏi không dễ gì trả lời!.. Nhưng không cần trả lời, không cần đắn đo bởi “khó đến mấy cũng phải làm cho bằng được”, đó chính là tính cách của anh.

Làm việc vì danh dự

“Làm trai đứng ở trong trời đất, phải có danh gì với núi sông”… Cái điều mà cụ Nguyễn Công Trứ canh cánh ấp ủ ngày xưa ấy, giờ đây lại đang hiện hữu trong anh. Nhưng để có được cái “danh” hiện hữu ấy không đơn giản một chút nào. Một lần nữa, anh phải bắt tay làm lại chẳng phải từ không nữa mà là từ số âm. Việc đầu tiên anh làm là xác định rõ số lỗ thực của đơn vị chứ không chỉ dựa vào số liệu báo cáo, kịp thời khoanh vùng chính xác những đơn vị làm ăn thua lỗ để có những biện pháp khắc phục cụ thể riêng. Bước tiếp theo là xốc lại đội hình, xắp xếp và ổn định tổ chức từ tổng công ty đến các đơn vị thành viên. Đồng thời, bảo đảm duy trì và khôi phục hoạt động sản xuất – kinh doanh của các đơn vị khó khăn về mặt tài chính. Mặt khác, cũng phải tập trung lực lượng nhanh chóng để hoàn thành dứt điểm một số dự án trọng điểm của bộ để dần khôi phục niềm tin ở trên. Song song với việc tháo gỡ, anh mạnh dạn cho tiến hành triển khai những dự án kinh doanh địa ốc, đã mang lại hiệu quả kinh tế rất cao, giúp đơn vị tháo gỡ, ổn định dần về tài chính và việc làm. Dự án xây dựng thuỷ điện bước đầu cũng đã đem lại nguồn thu, có hiệu quả kinh tế lâu dài… nhờ có những quyết sách đúng đắn nên CIENCO 5 đã dần qua cơn nguy khốn. Nhớ lại những ngày mới đặt chân về CIENCO 5, anh tâm sự: “Khi mới về, anh em trong đơn vị còn chưa tin tưởng, nhiều người nhìn tôi với ánh mắt dò xét. Nhiều anh em khác lại muốn “bỏ của chạy lấy người” vì thấy CIENCO 5 quá khó khăn… Lúc bấy giờ trong tôi chỉ có một suy nghĩ: Trong cuộc đời phải làm được một việc gì có ý nghĩa. Với tôi, nếu chỉ để lo cho cuộc sống gia đình thì không phải là chuyện lớn bởi Công ty Nam Việt Á của gia đình tôi vẫn đang làm ăn rất có hiệu quả. Nhưng cũng như bao người đàn ông khác, đến một lúc nào đó cũng phải làm một việc gì đó không phải vì tiền mà vì… danh dự. Càng khó càng phải làm, muốn vượt qua khó khăn không có cách nào khác là phải nhảy vào nó” – anh bộc bạch.
Ngồi nói chuyện với anh không lâu nhưng tôi thấy anh không bao giờ chịu ngồi yên một chỗ, năm lần bảy lượt anh đứng lên ngồi xuống giải quyết các công việc một cách nhịp nhàng, chính xác. Đúng với tính cách năng động rất… sẵn sàng đương đầu với khó khăn thử thách của anh.

Chất vàng… toả sáng

Khi khó khăn đã dần qua đi, người ta lại thấy anh bận rộn với những dự án mới. Không khí làm việc của CIENCO 5 hôm nay cũng đã có những chuyển biến tích cực. Xây dựng các công trình giao thông là lĩnh vực truyền thống của Tổng Công ty nhưng nó mang lại hiệu quả thấp. Cho nên Tổng Công ty đã có sự chuyển hướng mạnh mẽ sang lĩnh vực kinh doanh điạ ốc. Và chỉ sau một thời gian ngắn, CIENCO 5 đã khởi công và triển khai thực hiện hàng loạt dự án kinh doanh địa ốc như: Khu đô thị Phú Mỹ An (Đà Nẵng), dự án Phước Trạch – Phước Hải (hội An), khu dịch vụ 3,5ha tại đường 3-2 (TP Hồ Chí Minh), khu dân cư trung tâm thương mại phía bắc Phan Thiết (Bình Thuận)… đặc biệt, việc triển khai thực hiện tốt dự án Phú An (Cần Thơ) đã tạo tiếng vang lớn cho Tổng Công ty. Trong những lần tham gia đấu thầu, có không ít vụ đã in đậm tính quyết đoán, nhanh nhạy của anh. Điển hình phải kể đến vụ mở thầu khu dịch vụ 3,5ha tại đường 3 – 2 TP Hồ Chí Minh. Anh nhớ lại:“Nghe tin TP Hồ Chí Minh mở thầu khu vực này, tôi cùng một số anh em trong đơn vị vào ngay để tham gia. Qua tính toán sơ bộ, nếu chấp nhận tham gia đấu thầu ở mức 600 tỷ đồng (tính ra là 17 triệu đồng/mét vuông) thì khi thắng thầu vị trí đó bán ra thấp nhất cũng là 20 triệu đồng/mét vuông. Khi nói ra dự tính của tôi, anh em đều tin rằng bỏ thầu ở mức ấy hy vọng thắng, nhưng lấy đâu ra số tiền lớn như vậy để nộp thầu! Tôi nghĩ ngay nếu thắng thầu chỉ phải nộp trước 10% giá trị, với 60 tỷ đồng ấy cũng có thể lo được. Đúng như dự đoán, chúng tôi đã thắng gói thầu đó và đồng thời cũng vay được 150 tỷ đồng để chuẩn bị triển khai dự án. Lô đất cũng đã nhanh chóng được bán hết với giá thấp nhất là 21triệu đồng/mét vuông. Lợi nhuận đem lại cho công ty là 120 tỷ đồng”.

… Và một trái tim đập nhịp yêu thương

Là người đứng đầu của một Tổng Công ty lớn, điều anh đem lại không chỉ ở những kết quả trong kinh doanh mà anh cũng luôn quan tâm đến yếu tố con người, phát huy và tận dụng tối đa năng lực của toàn thể CBCNV trong tổng công ty. Hiện nay, toàn tổng công ty có 13.500 CBCNV. Tuy còn nhiều khó khăn nhưng lãnh đạo Tổng Công ty cũng đã tạo điều kiện thật tốt để mọi người đảm bảo cuộc sống với thu nhập bình quân 1.100.000đ/người/tháng. Và anh luôn là người gương mẫu cho tình đoàn kết, cho những cố gắng nỗ lực vươn lên. Giờ đây, khi đã là một doanh nhân thành đạt, dù rất bận rộn với công việc của mình song anh vẫn quan tâm đến những hoàn cảnh khó khăn, những gia đình chính sách, những trẻ em lang thang cơ nhỡ… anh tâm sự:“Từ nhỏ tôi đã có một tuổi thơ cơ cực, cái ký ức đó luôn nhắc nhở tôi rằng dù mình có thành đạt đến như thể nào đi chăng nữa cũng phải nhớ đến những con người, những số phận không may mắn trong đời”.
Có được một vị Tổng Giám đốc như anh, tôi tin rằng CIENCO 5 không chỉ sớm khẳng định lại được thương hiệu của mình mà còn không ngừng phát triển mạnh hơn và tôi cũng tin rằng cá nhân anh còn tiến những bước dài hơn nữa!…

Hữu Cường

Doanh nhân Việt Nam xưa & nay

——————————————

Anh hùng Lao động Thân Đức Nam: Thầm lặng tri ân với cuộc đời (30/04/2011)

Giờ đây, cái tên Thân Đức Nam cùng Cienco5 (Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5) đã  trở nên quá quen thuộc với cộng đồng bởi nhiều hoạt động của Cienco 5 cũng như công tác xã hội từ thiện nổi trội của cá nhân ông và doanh nghiệp.

Điều đáng nói là gần như các chương trình ủng hộ nạn nhân chất độc màu da cam, đồng bào vùng lũ lụt, thiên tai, các trường hợp có hoàn cảnh éo le… ông Thân Đức Nam và Cienco5 đều có mặt. Ông quan niệm rằng, “làm từ thiện không phải là “đánh bóng” cá nhân và doanh nghiệp. Nếu coi đó là việc làm “thương hiệu” thì là sự vô nghĩa. Tất cả những nghĩa cử giúp người phải xuất phát từ tấm lòng, từ cái tâm của mình”.

 

Trăn trở với chữ Tâm 

Thành tích vực dậy của Cienco5 đang trên bờ vực phá sản trở thành doanh nghiệp mạnh của ngành giao thông vận tải đã đưa tên tuổi của doanh nhân Thân Đức Nam lên vị trí của một Anh hùng. Ngay trong giai đoạn đang khủng hoảng kinh tế, Cienco5 dưới sự lãnh đạo của ông Nam vẫn đạt được nhiều thành tích xuất sắc trong sản xuất kinh doanh. Năm 2010, Cienco5 đạt doanh thu 4.057 tỷ đồng, nộp ngân sách 550 tỷ đồng. Không chỉ chú  trọng đến hoạt động sản xuất kinh doanh, Cienco5 còn là một trong những đơn vị luôn đi đầu trong công tác xã hội, từ thiện. Điều đáng quý ở Tổng giám đốc Thân Đức Nam đó là ông biết khơi dậy tinh thần tương thân tương ái, biết nghĩ và sống cho người khác trong tập thể CBCNV toàn đơn vị. Để làm việc thiện không chỉ là chuyện của ôngNam mà là chuyện của mọi người, chuyện của cả công ty. Điển hình phải kể đến là Cienco5 đã tài trợ và tổ chức chương trình Đại lễ cầu siêu cho các Anh hùng liệt sĩ hy sinh vì sự nghiệp mở đường Trường Sơn trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, đóng góp xây nhà tình nghĩa cho thanh niên xung phong và hỗ trợ cho các chương trình xã hội, nhân đạo khác với tổng số tiền lên đến trên 10 tỷ đồng. Đánh giá cao những đóng góp và thành tích của CBCNV Cienco5, Chủ tịch nước đã trao tặng Huân chương Lao động hạng 3 cho 3 đơn vị thành viên là Cty 501, 585, 510 và 2 cá nhân lãnh đạo xuất sắc là ông Lê Tự Tâm – Giám đốc Cty 501 và ông Thân Đức Cường – Giám đốc Cty 585. Thủ tướng Chính phủ cũng đã tặng Cờ thi đua xuất sắc năm 2009 cho Tổng công ty cùng 2 đơn vị thành viên là Cty 545, Cty 585 và 6 cá nhân khác.

Với vai trò đơn vị chủ quản, Bộ trưởng Bộ GT-VT Hồ Nghĩa Dũng từng nhìn nhận, Cienco5 là một doanh nghiệp điển hình của ngành giao thông đã vượt qua những tác động nặng nề của cuộc khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế toàn cầu cùng những khó khăn thách thức giai đoạn trước năm 2005 để lại và đã gặt hái những kết quả khích lệ, thực hiện hoàn thành vượt mức các chỉ tiêu đề ra, trở thành đơn vị mạnh, khẳng định được uy tín vị thế trong cộng đồng doanh nghiệp. Bên cạnh những nỗ lực trong hoạt động sản xuất kinh doanh, tập thể cán bộ, công nhân lao động Tổng công ty cùng với các đơn vị thành viên đã tích cực tham gia các hoạt động xã hội từ thiện, công tác đền ơn đáp nghĩa, nhận phụng dưỡng 10 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng; thăm viếng, tu bổ thường xuyên phần mộ của 1.108 liệt sĩ Ban xây dựng 67 – tiền thân của Tổng công ty.

Ông Thân Đức Nam được vinh danh là một gương mặt doanh nhân xuất sắc, là một Anh hùng, tài năng, trí tuệ của ông càng được tỏa sáng khi gắn liền với một trái tim nhân ái, với những đóng góp thầm lặng vì người nghèo. Ghi nhận những công lao của doanh nhân Thân Đức Nam trong kinh doanh và những cống hiến cho xã hội, ông đã được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu cao quý: “Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới” vào ngày 7-1-2011.

 Sự bình dị của người Anh hùng

Vẫn với bản tính của người chân chất, là một Anh hùng khi nói về mình, ông Thân Đức Nam vẫn hết sức khiêm tốn: “Tôi đã trải qua nhiều thăng trầm trong cuộc đời, xuất phát điểm cũng chỉ là một cậu bé trong một gia đình nghèo khó, đến khi thành danh giúp đỡ người khác cũng là cách để tôi tri ân với cuộc đời…”. Sự vô tư, giúp đời, giúp người như dòng chảy vốn có trong con người ông. Đó là lẽ sống của đời ông chứ không phải vì cái gì đó phù phiếm, hay mong được hồi báo. Thiết nghĩ nếu như doanh nhân Việt Nam nào cũng có tấm lòng “vàng” như ông thì cộng đồng xung quanh trở nên tốt đẹp biết bao.

Quốc hội lần thứ XIII, ông Thân Đức Nam được lựa chọn, giới thiệu ứng cử đại biểu Quốc hội. Ngày 2-4-2011 vừa qua, Ủy ban MTTQ tỉnh phối hợp với UBND tỉnh tổ chức hội nghị lấy ý kiến cử tri nơi cư trú đối với ông Thân Đức Nam, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Bí thư Đảng ủy kiêm Tổng giám đốc Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5. Tại hội nghị, cùng với đại diện của Cienco5, các ý kiến cử tri đều thống nhất nhận xét: ông Thân Đức Nam có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, lối sống khiêm tốn, giản dị, có năng lực lãnh đạo. Ông đã cùng tập thể lãnh đạo Tổng công ty lãnh đạo, điều hành đơn vị hoàn thành tốt nhiệm vụ sản xuất kinh doanh;  đã có nhiều đóng góp tích cực cho cộng đồng. Bản thân ông và gia đình luôn gương mẫu chấp hành chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, tích cực tham gia các hoạt động của địa phương; luôn sống gần gũi, chân tình, quan tâm tạo điều kiện giúp đỡ bà con nơi cư trú. 100% cử tri tham gia hội nghị nhất trí biểu quyết giới thiệu ông Thân Đức Nam ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XIII. Ông Thân ĐứcNam bày tỏ lời cảm ơn trước tình cảm và sự tín nhiệm của cử tri và hứa cố gắng phấn đấu hết mình hoàn thành tốt nhiệm vụ được phân công, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Ông luôn tâm niệm: Tôi làm tất cả để tri ân với cuộc đời, với xã hội.

Kim Thanh – LÊ BẢO KHANH

—————-

Một nhân vật khá đặc biệt, học hành không đến nơi đến chốn, khởi nghiệp từ bán đồ bành (áo quần cũ) thành một đại gia lẫy lừng lúc nào cũng cặp kè sát nách và sai khiến cả nguyên thủ.

BBT Dân Luận: Chúng tôi không có điều kiện để kiểm chứng các thông tin tác giả nêu trong bài, do đó xin đăng lại bài này với sự dè dặt cần thiết, và rất mong độc giả nào là người trong cuộc có thể cung cấp thêm thông tin để làm sáng tỏ sự việc.

Khởi nghiệp

Sinh trưởng tại một làng quê nghèo khó thuộc huyện Điện Bàn (Quảng Nam), Thân Đức Nam thuộc tạng chữ không chui được vào đầu, học hành không đến nơi đến chốn. Ít học, không vào được biên chế nhà nước, Nam chọn cách khởi nghiệp dân giã và cũng ít tốn chất xám nhất là bán đồ bành (áo quần cũ, cũng thường được gọi là đồ sida). Sang Campuchia gom áo quần cũ đánh về, trải mấy tấm bạt nơi vỉa hè phố đồ bành Đà Nẵng bán từng cái áo cũ, từng chiếc quần đùi và chăm chỉ cần mẫn đếm từng tờ tiền lẻ nhàu nát.

Tên tục là Thời, bán đồ bành, nên cái tên Thời Đồ Bành có từ đó. Từ một gã bán đồ bành vỉa hè, Thời đã tiến thân vào hàng chúa đất và đại gia như thế nào?

Chúa đất & đại gia

Khi đó, ông Phạm Tuân (không phải tướng Phạm Tuân anh hùng quân đội bay vào vũ trụ), Tổng giám đốc Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 5 (CIENCO 5) khởi xướng một mô hình khá táo bạo mang tên “doanh nghiệp nhà nước không cần vốn nhà nước”. Tên chữ to tát thế, nhưng nôm na diễn ra cho dễ hiểu là: Ông kêu gọi mấy thằng tư nhân có tiền góp vốn vào, cho tư cách pháp nhân, lập công ty nhà nước thành viên của CIENCO 5, chúng làm gì kệ, miễn hàng tháng hàng năm nộp đúng đủ mức tiền “khoán” cho tổng công ty là được.

Chộp được cơ hội này, Thời bỏ hàng đồ bành, góp tiền nộp ông Tuân và ôm một công ty thành viên của CIENCO 5 đóng tại Quảng Ninh. Khi đó Quảng Ninh còn mông muội trong tư duy đất đô thị.

Nhạy. Là đứa biết nhìn đất ra tiền, Thời mạnh bạo gõ cửa “xúi” lãnh đạo Quảng Ninh chơi bài: đổi đất lấy cơ sở hạ tầng. Nghèo túng, không biết dựa vào đâu để phát triển đô thị, lại lười suy nghĩ, nghe Thời xúi, quan chức Quảng Ninh sướng rơn lên, như tìm được vị cứu tinh cho tỉnh.

Mà Thời thành vị cứu tinh cho Quảng Ninh thật. Bao nhiêu đất đai béo bở ngon ăn tỉnh giao hết cho Thời. Thời cắt véo bán, xây khu đô thị để rồi lại bán. Thời làm thay đổi cơ bản diện mạo đô thị Quảng Ninh, thay đổi cả diện mạo các tư dinh quan chức chính quyền Quảng Ninh và túi tiền của họ. Và hơn cả là thay đổi cả chính con người Thời. Thời bỗng chốc thành ông chúa đất. Khoanh đất bán lấy tiền, rồi lại khoanh tiếp, lại bán tiếp, bán tiếp, bán miệt mài, thu tiền miệt mài…

Thời thành đại gia từ đây, thành ông chúa đất từ đây.

Mua ghế Tổng CIENCO 5 & biến CIENCO 5 thành một Tổng công ty gia đình họ Thân

Cùng lúc đó, ông Phạm Tuân lâm nạn. Mô hình “tổng công ty nhà nước không cần vốn nhà nước” của ông đã hại chính sự nghiệp ông. CIENCO 5 đứng trên miệng vực phá sản. Ông Tuân phải ra đi, nhường ghế tạm quyền cho thuộc cấp từ dưới đôn lên.

Thêm một cơ hội cho Thời. Ôm một núi tiền “đổi” được từ đất ở Quảng Ninh, Thời thừa sức kiếm cho mình được cái ghế Tổng trong lúc giao thời đảo điên này. Nghe đồn để có được cái ghế Tổng CIENCO 5, khi đó Thời đã bỏ ra không dưới 500 tỷ đồng.

500 tỷ đồng để ôm ghế Tổng CIENCO 5 có phiêu lưu quá không, hoặc có đắt quá không?

Không. Quá rẻ và không hề phiêu lưu. Bởi chỉ trong vòng vài năm sau khi ngồi ghế Tổng, Thời đã mau chóng biến CIENCO 5 (Tổng công ty 90 của nhà nước, thuộc Bộ Giao thông- Vận tải) thành một tổng công ty của gia đình họ Thân. Toàn bộ các ghế chủ chốt, rường cột của CIENCO 5 vào tay những người họ Thân, bất kể người đó có học và có chữ hay không, bất kể trước đó họ có nghề ngỗng gì hay chỉ là một thằng phụ hồ, chăn vịt trong quê.

Mặt khác, hàng loạt công ty thành viên của CIENCO 5 được lập với chiến lược mở mang ngành nghề và khuyếch trương thương hiệu, mà thực chất là các công ty của gia đình họ Thân. Đây là những công ty vệ tinh do anh em con cháu họ Thân nắm giữ để chia xẻ, bòn rút công trình, dự án và tiền bạc từ Tổng công ty về. Điển hình như: Công ty 545 do Thân Hóa (anh ruột Thân Thời) làm giám đốc; Công ty 507 do Thân Hoàng làm giám đốc; Công ty Cổ phần Phát triển Địa ốc Cienco5 (Cienco5 Land) do Thân Lâm làm giám đốc; Công ty Nam Việt Á do Thân An (em ruột Thời) làm giám đốc…

Từ đó, chỉ trong vòng vài năm, Thời, Hóa, Lâm, Hoàng, An… thành những đại gia thâu tóm mọi quyền lực, dự án đường xá, cầu cống và vô khối các dự án đất đai đô thị của CIENCO 5 trên khắp nước.

CIENCO 5 bề ngoài được đẩy thành Tổng công ty nhà nước hạng mạnh, nhưng thực chất trong ruột hoàn toàn mục rỗng. Hàng chục nghìn tỷ nợ nần. Trong khi các công ty vệ tinh gia đình họ Thân mỗi ngày một giàu lên, túi tiền nhà họ Thân ngày một chất cao hơn núi.

Quyền lực họ Thân: sai khiến cả nguyên thủ!

Câu nói nổi tiếng của trùm du đãng Năm Cam “cái gì không mua được bằng tiền thì có thể mua được bằng rất nhiều tiền” ứng vào Thời và anh em nhà họ Thân cực kỳ chính xác.

Nếu ngày trước khối người phải kiêng nể khi hay tin Thời bỏ ra không dưới 500 tỷ mua ghế Tổng CIENCO5, thì những năm sau này, việc Thời và anh em nhà họ Thân vung tay hàng trăm nghìn tỷ để mưu việc này nọ chỉ là chuyện… nhỏ như con thỏ!

Không phải ngẫu nhiên các dự án khổng lồ và béo bở như: đường trục phía Nam tỉnh Hà Tây, các khu đô thị hoàn vốn Thanh Hà – Cienco 5, Mỹ Hưng – Cienco 5; dự án đường nối với đường Hoàng Quốc Việt kéo dài, dự án khu nhà ở xã Tân Lập, huyện Đan Phượng, TP Hà Nội… đều rơi vào tay Cienco5 Land. Thậm chí, thiên hạ kháo nhau rằng Thời chính là nhân vật chính trong top đại gia “buộc thế” được Chính phủ và Quốc hội phải thông qua chủ trương mở rộng thủ đô Hà Nội vì lợi ích của các khu đô thị vùng ngoại ô CIENCO5 đang nắm giữ.

Cũng không phải ngẫu nhiên mà anh em nhà họ Thân liên tục cắp cặp tháp tùng bộ tứ nguyên thủ quốc gia ra công cán nước ngoài. Hình ảnh Thân Thời sát kè Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thân An sát kè Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thường thấy trên VTV 1. Thậm chí, mọi dự án khởi công, động thổ, khánh thành dù to hay nhỏ của anh em nhà họ Thân đều luôn có sự hiện diện của ít nhất một trong 4 vị bộ tứ nguyên thủ. Chuyện không ai có thể tin, nhưng là sự thật, sự thật 100%: Ngày 30 Tết, dù bận trăm công nghìn việc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không về thăm chúc Tết dân chúng nghèo khó địa phương, bỏ cả việc của Chính phủ đã sắp đặt trước ở Hà Nội để bay vào Đà Nẵng thăm, tặng quà và chúc Tết công nhân đang xây dựng khách sạn gia đình họ Thân.

Còn nữa, trong một chuyến thăm và làm việc với Đà Nẵng, toàn bộ lãnh đạo của Thành ủy, HĐND, UBND, UBMT TP Đà Nẵng phải ngồi đợi gần 2 tiếng vì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được Thân Thời dắt về quê để thắp hương cho ông bố họ Thân.

Thậm chí, trong một dịp làm đại lễ dâng hương cho hương hồn các liệt sĩ tại tỉnh Quảng Bình, Thời đã cho mời Chủ tịch Nguyễn Minh Triết vào. Tại đây, Thời đạo diễn cho “nhà ngoại cảm” Hằng diễn trò đứa con của ông Triết chết từ thời chiến tranh hiện về làm náo động Quảng Bình, ồn khắp nước và đánh động lòng mê tín dị đoan cổ hủ trong con người vị Chủ tịch nước. Từ đó, ông Triết gắn chặt với Thời hơn, thương Thời hơn và dễ bị Thời sai khiến hơn.

Tại Hà Nội, quan chức hàng Bộ trưởng, Ủy viên trung ương Đảng, thậm chí toàn bộ 15 vị trong Bộ Chính trị không ai là không biết, thậm chí thân quen với cái tên Thân Đức Nam (Thân Thời). Một số ghế Ủy viên trung ương Đảng được chính Thời dựng lên. Điển hình nhất là Nguyễn Xuân Phúc. Từ Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, ông Phúc được Thời lót đô la cho vào trung ương, ngồi ghế Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Thiên hạ đồn rằng, bây giờ Thời bảo Bộ trưởng Phúc đứng là đứng, ngồi là ngồi, bảo đi là phải đi, bảo ỉa là phải rặn ra mà ỉa!

Trước ông Phúc, một nhân vật quyền uy trong Bộ Chính trị cũng bị Thời dắt mũi sai khiến- đó là ông Phan Diễn (người đồng hương huyện Điện Bàn với Thời). Khi đó ông Diễn đang là Thường trực Bộ Chính trị (nhân vật thứ hai trong Đảng, sau Tổng Bí thư). Nghe đồn ông Diễn xem Thời như con nuôi.

Người như ông Phúc, ông Diễn nằm trong tay Thời không phải số ít.

Trước thềm đại hội Đảng, lại nghe đồn Thân Thời đang ráo riết một chiến dịch sắp xếp nhân sự theo ý Thời. Đêm đêm, tại Hà Nội, người ta thấy Thời cắp cặp gõ cửa hết ông này đến bà nọ, hầu như không sót ai trong danh sách 15 vị Ủy viên Bộ Chính trị. Xe Thời đến là những gã cảnh sát gác cổng liền cúi rạp mình chào.

Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà Thời và anh em nhà họ Thân đều đi xe biển xanh 80 – loại biển số dành riêng cho quan chức Chính phủ và trung ương Đảng.

Người Hà Nội

Chuyện lạ Việt nam: Khi có người bình thường sai khiến được nguyên thủ

Nhân đọc bài “Thời đồ bành” trên trang danluan.org nói về sự thành công ngoạn mục, đáng kính nể của nhân vật có tên Thân Đức Nam

mà theo bài viết cho rằng là “một đại gia lẫy lừng lúc nào cũng cặp kè sát nách và sai khiến cả nguyên thủ quốc gia”. Thú thực với tôi cái tên Thân Đức Nam thì lần đầu được nghe tên nhưng qua bài viết sự nghiệp đặc biệt là sự khởi nghiệp của ông ta thật quả là đáng khâm phục.

Bởi từ một anh chàng “Sinh trưởng tại một làng quê nghèo khó thuộc huyện Điện Bàn (Quảng Nam), Thân Đức Nam thuộc tạng chữ không chui được vào đầu, học hành không đến nơi đến chốn. Ít học, không vào được biên chế nhà nước, Nam chọn cách khởi nghiệp dân giã và cũng ít tốn chất xám nhất là bán đồ bành (áo quần cũ, cũng thường được gọi là đồ sida). Sang Campuchia gom áo quần cũ đánh về, trải mấy tấm bạt nơi vỉa hè phố đồ bành Đà Nẵng bán từng cái áo cũ, từng chiếc quần đùi và chăm chỉ cần mẫn đếm từng tờ tiền lẻ nhàu nát…”
Khởi nghiệp của ông Thân Đức Nam là như vậy vậy mà chỉ hơn chục năm từ một anh chàng bán quần áo si-đa bên lề đường, mà bây giờ có khả năng tới mức khó thể tin rằng (trích)“Cũng không phải ngẫu nhiên mà anh em nhà họ Thân liên tục cắp cặp tháp tùng bộ tứ nguyên thủ quốc gia ra công cán nước ngoài. Hình ảnh Thân Thời sát kè Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết, Thân An sát kè Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thường thấy trên VTV 1. Thậm chí, mọi dự án khởi công, động thổ, khánh thành dù to hay nhỏ của anh em nhà họ Thân đều luôn có sự hiện diện của ít nhất một trong 4 vị bộ tứ nguyên thủ. Chuyện không ai có thể tin, nhưng là sự thật, sự thật 100%: Ngày 30 Tết, dù bận trăm công nghìn việc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng không về thăm chúc Tết dân chúng nghèo khó địa phương, bỏ cả việc của Chính phủ đã sắp đặt trước ở Hà Nội để bay vào Đà Nẵng thăm, tặng quà và chúc Tết công nhân đang xây dựng khách sạn gia đình họ Thân.

Còn nữa, trong một chuyến thăm và làm việc với Đà Nẵng, toàn bộ lãnh đạo của Thành ủy, HĐND, UBND, UBMT TP Đà Nẵng phải ngồi đợi gần 2 tiếng vì Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết được Thân Thời dắt về quê để thắp hương cho ông bố họ Thân…”
Không hết ông Thân Đức Nam và anh em của ông con có nội công thâm hậu đạt tới mức (trích) “… quan chức hàng Bộ trưởng, Ủy viên trung ương Đảng, thậm chí toàn bộ 15 vị trong Bộ Chính trị không ai là không biết, thậm chí thân quen với cái tên Thân Đức Nam (Thân Thời). Một số ghế Ủy viên trung ương Đảng được chính Thời dựng lên. Điển hình nhất là Nguyễn Xuân Phúc. Từ Chủ tịch UBND tỉnh Quảng Nam, ông Phúc được Thời lót đô la cho vào trung ương, ngồi ghế Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ. Thiên hạ đồn rằng, bây giờ Thời bảo Bộ trưởng Phúc đứng là đứng, ngồi là ngồi, bảo đi là phải đi, bảo ỉa là phải rặn ra mà ỉa!

Trước ông Phúc, một nhân vật quyền uy trong Bộ Chính trị cũng bị Thời dắt mũi sai khiến-đó là ông Phan Diễn (người đồng hương huyện Điện Bàn với Thời). Khi đó ông Diễn đang là Thường trực Bộ Chính trị (nhân vật thứ hai trong Đảng, sau Tổng Bí thư). Nghe đồn ông Diễn xem Thời như con nuôi.

Người như ông Phúc, ông Diễn nằm trong tay Thời không phải số ít…”

Tuy nhiên những chuyện kể trên về ông Thân Đức Nam nói theo kiểu văn vẻ thì chỉ là chuyện của thời quá khứ, còn thời tương lai (trước thềm Đại hội XI Đảng CSVN) thì (trích)”…nghe đồn Thân Thời đang ráo riết một chiến dịch sắp xếp nhân sự theo ý Thời. Đêm đêm, tại Hà Nội, người ta thấy Thời cắp cặp gõ cửa hết ông này đến bà nọ, hầu như không sót ai trong danh sách 15 vị Ủy viên Bộ Chính trị. Xe Thời đến là những gã cảnh sát gác cổng liền cúi rạp mình chào….”

Ctich1_1Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đến thăm công tyXDCT 545 (Cienco5) của Thân Đức Nam

Đến đây cho thấy thành quả của cách mạng do đảng CSVN  lãnh đạo đã tạo điều kiện đối với những người dân nghèo ít học như anh em ông Thân Đức An như vậy đấy, có gì để đáng kêu ca đâu nhỉ. Nếu như chúng ta không tìm hiểu rằng vì sao anh em một số người như anh em dòng họ Thân thời lại giàu nhanh với tốc độ “vũ trụ” như vậy?

Câu trả lời là nhờ “Chủ trương lớn của đảng-Đổi đất lấy hạ tầng“, mà không chỉ làm cho những người như anh em ông Thân Thời chỉ là một số trong vài ngàn những kẻ cơ hội là trung gian cho vụ cướp đất của dân tộc Việt nam chia chác nhau để “chúng ta cùng làm giàu” như các cán bộ đảng viên thường “xầm xì”.

Đất đai trong thời kỳ đổi mới còn giá trị hơn vàng, đúng như người xưa thường nói “Tấc đất tấc vàng”, thời phong kiến mỗi triều đại sau khi giành được quyền cai trị đất nước thì ông Vua thường công khai “cấp đất phong thần” cho các quan tướng có công với triều đình coi như bổng lộc vua ban. Không giống như những người cộng sản, đặc biệt là giới lãnh đạo sau ngày chiến thắng giành chính quyền họ chỉ có đôi dép râu và vài bộ quần áo. Đất đai, nhà cửa ruộng vườn hầu như trắng tay hoặc chỉ là rất ít ỏi đất hương hỏa của tổ tiên để lại. Vậy mà chỉ sau vài chục năm, như một giấc mơ tiên hôm nay khó ai nhận ra họ từ anh bộ đội cụ Hồ thủa nào nay trở thành các ông tư bản “đỏ” tiền bạc như núi, biệt thự xa hoa với những chiếc xe hơi đắt tiền.

Họ lấy những cái đó từ đâu ra? Xin thưa đa phần là từ tham nhũng và nhận hối lộ từ những vấn đề liên quan tới đất đai và tài nguyên khác của đất nước.

Ta cùng nhau dò theo hành trình luẩn quẩn của đất đai, ví dụ như đất canh tác thì sau cách mạng đảng CSVN lấy đất người giàu chia cho người nghèo dân chúng vui mừng tưởng được đổi đời. Nhưng chỉ được vài ba năm họ tiến hành Hợp tác hóa nông nghiệp, lấy đất của mọi người cho vào Hợp tác xã nông nghiệp và sau đó tuyên bố đất đai là tài sản thuộc sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý, thực chất là chỉ có một thiểu số lãnh đạo có quyền cấp đất. Chỉ bấy nhiêu động tác mang tính “kỹ thuật” cực kỳ thâm hiểm và rất nhẹ nhàng đảng CSVN đã “tịch thu” xong toàn bộ sở hữu đất đai của hơn 80 triệu người Việt nam vào trong tay một số quan chức. Có quyền quản lý đất đai trong tay, nhưng không thể chia chác một cách công khai lộ liễu như thời phong kiến được? Công cuộc xà xẻo đất đai của toàn dân bỏ túi vài quan chức có quyền bắt đầu.

Nhưng bằng cách nào để các quan chức nuốt chửng một cách ngon lành miếng mồi đất đai? Xin thưa họ phải dùng trung gian thông qua các doanh nghiệp (thực chất là các Cty sân sau của họ) núp dưới chiêu bài “Đổi đất lấy cơ sở hạ tầng”. Nghĩa là bán đất của nhà nước cho tư nhân, lấy tiền để xây cơ sở hạ tầng mà thực chất người bán, kẻ mua và nhà đầu tư chỉ là một group đá qua đá lại kiểu vừa đá bóng vừa thổi còi như thể làm ảo thuật. Tiền bán đất được bao nhiêu, xây cơ sở hạ tầng hết bao nhiêu, còn lại là lãi chuyển vào các công ty sân sau của bọn họ, nhà nước được chút xíu. Đó chính là lý do vì sao tổng giá trị GDP của Việt nam chỉ khoảng trên dưới 80 tỷ USD với bình quân đầu người khoảng 1.000USD/người nhưng thu nhập của một số người không nhỏ lên tới hàng triệu USD/năm, cứ nhìn những chiếc xe hơi triệu đô, những chiếc máy bay riêng của bọn họ sử dụng thử hỏi tiền đâu ra? Đó là tiền lòng vòng bán đất bán rừng lấy của công thành của tư mà ra.

Nhưng những vụ làm ăn đó không phải ăn chia dấm dúi một vài nhóm, một vài người mà đây là cuộc ăn chia tập thể, tuy là ăn vụng ăn trộm tài nguyên quốc gia, nhưng được hoạch định bằng một chủ trương lớn, mang tính tập thể của Đảng trên phạm vi toàn quốc, các tỉnh các ngành từ trung ương tới địa phương, từ tỉnh tới huyện và các xã đồng loạt, đồng lòng, cùng đồng khởi ra quân xẻ đất công bán lấy tiền.

Các doanh nghiệp nhà nước ở Việt nam, ngoài một vài Tập đoàn nhà nước mạnh như Dầu khí, TKV chuyên đào, hút và bán tài nguyên khoáng sản, dầu thô… thực ra có doanh nghiệp nào làm đúng chuyên môn mà giàu mạnh được đâu. Còn lại các Tập đoàn nhà nước khác muốn mạnh, muốn giàu, muốn có tiền lãi nhanh thì cách duy nhất phải tìm đến là phải tìm cửa sau đi là đi buôn đất buôn đất lấy lời. Bởi chẳng cần tài cán gì, với một cái giấy phép “thần” là có quyền lấy không đất nông nghiệp của nông dân với giá đền bù rẻ mạt, sau đó bán khống dự án lấy tiền đặt cọc của người mua nhà dựng khu chung cư bán với giá cao ngất trời hơn cả bên Mỹ, làm ăn kiểu chụp giật kiểu “tay không bắt giặc” hay làm ruộng kiểu “không cấy cũng gặt” như dân gian thường nói, vậy làm sao mà không mau giàu.

Việc làm và chủ trương này chỉ làm cho một số người giàu lên nhanh chóng, nhưng nông dân lại nghèo và xã hội bị cùng kiệt do nông dân sau khi bị lấy đất không có việc làm đổ ra các đô thị và dần dà trở thành mầm mống gây tệ nạn xã hội, buôn bán ma tuý, mại dâm và lâu dài sẽ là nhưng băng đảng. Quan trọng hơn chủ trương đó làm gia tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội trái với mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh”.

Tiền bán đất được một phần xây dựng cơ sở hạ tầng phần lớn dành ra để đút lót quan chức lấy giấy phép, còn lại được chia chác nhau dưới hình thức bằng đất giá rẻ hoạc tiền bạc. Đó chính là lý do vì sao giá nhà ở VN cao đến như vậy mà bán vẫn có người mua, lý do là vì đó chỉ là một nhóm mấy quan tham nhũng, đầu cơ buôn đất làm và bán với nhau kiểu “mỡ nó rán nó”. Thử hỏi những người công nhân và nông dân thu nhập không đủ ăn thì làm đến bao giờ mới có tiền mua nhà, mua biệt thự, căn hộ xa xỉ như vậy?

Đó là nguyên nhân và lý do vì sao chỉ một thời gian ngắn sau đổi mới trên đất nước Việt nam đã xuất hiện các đại gia vô hoặc ít học như  Thời đồ bành, Bầu Đức thợ mộc..v.v..không hề một chút tài giỏi (đúng nghĩa) mà chỉ bằng lợi dụng quan hệ, đút lót hối lộ để trục lợi cho cá nhân mình và các quan chức có chức có quyền ở mọi cấp. Đó là lý do mà những kẻ đó có uy quyền có thể điều hành từ TBT, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch nước tới các Bộ trưởng tới chủ tịch xã..v.v.. tới mức độ mỉa mai “Bảo đứng là đứng, ngồi là ngồi, bảo đi là phải đi, bảo ỉa là phải rặn ra mà ỉa!”

Tôi không được sống ở chế độ cũ trước đây ở Miền nam, không hiểu thời chính quyền Việt Nam Cộng Hòa (trước năm 1975) thời mà Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và thuộc hạ của ông ta nổi tiếng tham nhũng vơ vét như đảng ta tuyên truyền có tới mức độ như bây giờ, thời “Thời đồ bành” hay không?

Dẫu là tham nhũng là quốc nạn thì nước nào, chính quyền nào cũng có, chỉ khác nhau về mức độ, nhưng kể cả tới mức tham nhũng trầm trọng đi chăng nữa, nhưng chưa bao giờ nghe các nguyên thủ quốc gia, Thủ tướng chính phủ, Chủ tịch nước và các Bộ trưởng của chính quyền nào để mấy ông vô học như Thời đồ bành dắt mũi tới mức “Bảo đứng là đứng, bảo ngồi là ngồi, bảo đi là phải đi, bảo ỉa là phải rặn ra mà ỉa!” như Việt nam ta được.

Cũng còn may mà ông “Thời đồ bành” Thân Đức Nam không ác như Trạng Quỳnh ngày xưa “Bắt Bộ trưởng ỉa nhưng cấm đái”. Nhưng dù sao cũng “tự hào” vì ông cũng là người dân bình thường duy nhất trên thế giới làm được điều phi thường đó.

Không hiểu ông Thân Đức Nam “Thời đồ bành” phi thường hay mấy ông Bộ trưởng nhà ta quá tầm thường?

Nguồn : Kami blog

———————————-

LÊ VĂN KIỂM – ANH HÙNG  LĐ (ĐỒNG HƯƠNG ÔNG MÃN)

Anh có một lý lịch ngắn gọn: Quê ở Thành phố Huế. Sau 1945, khi còn nhỏ, anh đã theo cha mẹ lên chiến khu Thừa Thiên. Ba tham gia bộ đội chủ lực khu 4 đóng quân tại Thanh Hoá. Hồi đó miền Tây Thanh Hoá còn đồn Pháp. Đơn vị của ba anh đã tiêu diệt đồn Cổ Lũng. Và người chiến sĩ Lê Văn Lân – ba của Kiểm đã ngã xuống và được chôn cất ở nghĩa trang xã Xuân Thành huyện Thọ Xuân năm 1949 khi anh mới 4 tuổi. Lê Văn Kiểm không nhớ mặt cha nhưng được sống trong vòng tay ấm áp của bạn cha, của mẹ. Họ đã nhường cho anh từng miếng cơm, củ sắn – những phần ăn ít ỏi và quý giá ở chiến khu. Sau ngày hoà bình lập lại trên miền Bắc, hai mẹ con về thăm mộ liệt sĩ Lê Văn Lân.

Lê Văn Kiểâm đi học trên miền Bắc. Đó là thời học sinh miền Nam được Bác Hồ và nhân dân chăm sóc tận tình từ miếng ăn đến việc học hành. Cũng không ít học sinh do “công thần” từ cha mẹ nên có lúc gây phiền hà cho các cô chú.

Miền Nam ngày càng vất vả trong chống Mỹ. Lời kêu gọi từ miền Nam vọng ra thôi thúc bao thanh niên yêu nước sống trên miền Bắc – đặc biệt là con em miền Nam đang được nuôi dưỡng khá chu đáo. Năm 1971 Lê Văn Kiểm xin về miền Namchiến đấu theo gót người cha thân yêu… Anh đã bị từ chối vì là con duy nhất của liệt sĩ, lỡ có bề gì thì gây thêm đau đớn cho gia đình.

Lê Văn Kiêm đã cắn tay lấy máu viết thư xin Trung ương cho anh về miền Nam chiến đấu. Lời đề nghị trong lá thư viết bằng máu đã làm xúc động nhiều người. Năm 1973 anh đã được phép vào bộ đội và sau đó tham gia đoàn cán bộ kinh tế về Nam để xây dựng vùng giải phóng và chuẩn bị cho trận đánh cuối cùng. Năm 1973 Lê Văn Kiểm đã vượt Trường Sơn về Nam công tác ở Ban giao thông Trung ương Cục. Anh đã cùng anh em lái xe, khuân vác đưa hàng từ Trường Sơn về các chiến trường. Đơn vị anh đóng ở vùng rừng thưa gần cầu Cần Đăng (Tân Biên – Tây Ninh). Một lần hành quân trên biên giới Việt Nam – Campuchia tổ công tác của anh đã bị địch phục kích, song các anh đã chống trả và thoát hiểm. Có lẽ với chiến công đó, anh được mời tham gia Hội Hữu nghị Việt Nam – Campuchia để đánh dấu những ngày chiến đấu trên đất bạn.

Sau ngày giải phóng, Lê Văn Kiểm mở cơ sở may Huy Hoàng trên đường vào trung tâm Thành phố Hồ Chí Minh phía tay mặt. Người dân Thành phố và cả nước biết tên anh khi Lê Văn Kiểm tham gia xây dựng vòng xoay Hàng Xanh. Tại Lễ khai trương, Ban giao thông vận tải miền Nam trao tặng anh lá cờ truyền thống của ngành giao thông giải phóng. Tại buổi lễ có Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Phan Văn Khải và đông đảo bạn bè học sinh miền Nam, đồng đội trong chiến tranh và đồng bào, Lê Văn Kiểm lần đầu tiên đóng góp tiền bạc để xây dựng một công trình công ích chào mừng ngày thành phố giải phóng.

Từ ngày đó, Lê Văn Kiêm luôn tìm cách đóng góp cho công việc chung những lúc anh “ăn nên làm ra”. Bước vào thời kỳ đổi mới, Lê Văn Kiểm đã mạnh dạn đầu tư phát triển may xuất khẩu. Công việc mới mẻ lại vào thời kỳ “thăm dò”, không tránh khỏi có vấp váp, khó khăn, nợ nần. Anh đã phải trả giá khá nặng nề có lúc khá nguy hiểm cho cá nhân và phải hy sinh cả vị trí chính trị mà anh đã tạo nên để theo con đường của người cha liệt sĩ. Song các đồng chí lãnh đạo đã tin vào tấm lòng người con liệt sĩ, người cựu chiến binh với tấm lòng chân thật, năng nổ làm ăn theo chủ trương của Đảng.

Anh lầm lủi tìm cách làm ăn đúng hướng và luôn được các đồng chí lãnh đạo ở Trung ương và Thành phố Hồ Chí Minh hỗ trợ. Anh đã vượt qua khó khăn, làm ăn có lời, trả được nợ nần cũ và bước vào thời kỳ kinh doanh mới. Anh đầu tư cho con gái Thuỳ Dương mở khu du lịch biển ở Vũng Tàu. Anh cho con trai Huy Hoàng mở rộng xưởng may xuất khẩu theo đúng hướng Nhà nước đang mở ra cho các doanh nghiệp ngành may. Còn anh và vợ là chị Trần Cẩm Nhung “bắt nhịp” với xu hướng của khu vực, xin xây dựng sân gold đầu tiên ở nước ta tại khu Long Thành. Đây là một nghề kinh doanh mới mẻ nhưng Lê Văn Kiểm cố gắng học hỏi ở bạn bè khu vực, mời chuyên gia nước ngoài để đưa sân gold Long Thành trở thành cơ sở lớn nhất nước ta.

Khi vượt qua được “hiểm nguy”, khi làm ăn có lãi, Lê Văn Kiểm tin rằng các anh hùng liệt sĩ, đồng bào đã “phù hộ” cho anh. Từ đó anh nghĩ đến việc “đền ơn đáp nghĩa” đối với bao người đã hy sinh, bao gia đình đã mất con, bao gia đình nạn nhân chiến tranh đang sống vất vả nghèo khó do chiến tranh gây ra. Anh đã tự nguyện đóng góp một phần tiền lời vào quỹ “Vì người nghèo”, quỹ “Đền ơn đáp nghĩa” đối với bộ đội, thanh niên xung phong, đồng bào trong cả nước. Lê Văn Kiểm đã trở thành người đóng góp cho các quỹ nhiều nhất ở nước ta.

Từ đó cuộc đời Lê Văn Kiểm được mọi người chú ý trên cả hai mặt: mạnh dạn kinh doanh bằng cách vượt lên khó khăn, trói buộc và tấm lòng vì đồng đội, vì những người có công và vì người nghèo.

Về kinh doanh, Lê Văn Kiểm đã mạnh dạn vay vốn để làm ăn và chưa lời thì đã thua lỗ. Cũng vì việc làm ăn táo bạo mà anh được liệt vào các “đại gia nguy hiểm” – khi các quy định còn ngặt nghèo. Nhờ sự cổ vũ và cởi mở trong cao trào đổi mới, Lê Văn Kiểm vượt qua được “hiểm nghèo” vươn lên làm ăn có lời. Bấy giờ trên khu đất hoang 340 ha, vốn là rừng hoang và đầm lầy, chua phèn – đã trở thành một danh lam thắng cảnh và một sân gold 36 lỗ. Đi trên đường uốn lượn vào trung tâm sân gold, chúng ta gặp các cây cổ thụ, cây dừa, cây cọ và những thảm xanh mát mắt. Lê Văn Kiểm đang tiếp tục đầu tư để nâng sân gold lên 72 lỗ – trở thành sân gold lớn nhất Đông Nam Á.

Lê Văn Kiểm vốn có một tấm lòng nhân ái đáng quý. Anh làm ăn có dư tiền của nhưng lại luôn nghĩ đến việc “bớt tiền sinh lợi dành cho gia đình liệt sĩ, thương binh, đồng đội và bà con nghèo, giúp đỡ các đồng bào bị thiên tai hoả hoạn”. Anh tâm sự: Đã qua những ngày chiến đấu và hiểu biết về gia đình mình, anh luôn biết ơn cha, biết ơn các cô chú, đồng đội và đồng bào đã nuôi dưỡng dìu dắt anh nên người. Anh nhớ củ sắn lùi mà các chú nhường cho anh ở chiến khu Bình Trị Thiên, anh nhớ đồng bào miền Bắc dù thiếu thốn vẫn hết lòng nuôi dưỡng học sinh miền Nam. Anh tâm niệm: sẽ dành một phần lợi nhuận để đền ơn đáp nghĩa, để làm từ thiện. Đó là tấm lòng đáng quý, không phải ai cũng nghĩ và làm như Lê Văn Kiểm. Không thiếu gì người ăn nên làm ra, không thiếu gì người bán đất, bán nhà do cách mạng cấp… nhưng rất khó khăn khi mời họ đóng góp cho quỹ từ thiện, giúp người nghèo… Lê Văn Kiểm thì khác, luôn nghĩ đến người khó khăn. Anh đóng góp cho các quỹ từ thiện dành cho người nhiễm chất độc da cam, người khuyết tật, trẻ em mồ côi, anh tặng nhà tình nghĩa, tình thương, tặng bò cho người nghèo, góp tiền mổ mắt cho người mù…

Một lần vợ chồng Lê Văn Kiểm về huyện Tân Biên (Tây Ninh) – nơi anh sống những ngày cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ – để tặng nhà và tặng bò cho bà con nghèo. Hằng trăm bà con vây lấy vợ chồng người cựu chiến binh để chúc mừng 15 gia đình nghèo, mỗi người được tặng một con bò. Người nông dân nghèo vùng căn cứ “bỗng dưng” có một con bò để đổi đời thì quả “nằm mơ cũng không có”.

Anh cùng Trung tướng Nguyễn Việt Thành (Tư Bốn) vốn là lính bảo vệ khu căn cứ Trung ương Cục về thăm anh em đang bảo vệ khu di tích Trung ương Cục. Anh tặng quà, tặng tiền để cải thiện điều kiện sinh hoạt cho anh em đang sống, làm việc giữa rừng, để anh em bảo vệ tốt nơi các đồng chí lãnh đạo Trung ương Cục và nhiều anh em đã từng sống.

Anh mời bà con nghèo ở Đồng Nai đến thăm sân gold và tại đây anh đã tặng bà con nhà tình nghĩa, tình thương, quà mong bà con vượt qua khó khăn.

Anh về Ngã ba Đồng Lộc thắp nhang cám ơn các cô gái đã hy sinh bảo vệ con đường vào Nam – trong đó có anh đã đi qua. Anh đóng góp tiền xây dựng Khu tưởng niệm để nêu gương cho cháu con.

Anh đã gặp các cựu chiến binh, cựu Thanh niên xung phong ở Nghệ An, Thanh Hoá và các nơi khác, giúp đỡ anh em đang gặp khó khăn.

Lê Văn Kiểm gửi về Thừa Thiên-Huế hàng tỷ đồng để xây dựng 2400 căn nhà cho đồng bào Pakoh ở Ahươi, cho bà con nghèo ở quê hương.

Hôm đó, một cuộc giao lưu với những người công an có công và những người dân giúp công tác an ninh trật tự do báo Công an Thành phố tổ chức. Biết trong cuộc họp, có cha người công an đã vì chống ma tuý nên nhiễm AIDS và đã mất, Lê Văn Kiểm đã chạy đến ôm chặt người cha già và tặng 10 triệu đồng để ông an dưỡng tuổi già.

Ở Khu Tưởng niệm Bến Dược (Củ Chi) Lê Văn Kiểm cũng đã góp phần tạo nên vườn cây xanh mát những người yên nghỉ và người đến thăm. Anh cùng góp sức để mổ mắt cho 1.000 người bị mù, tặng áo ấm cho chiến sĩ biên cương, tặng trâu bò cho bà con bị tai nạn giá rét…

*        *

*

Doanh nhân Lê Văn Kiểm đã được phong tặng danh hiệu Anh hùng lao động thời kỳ đổi mới. Trong lễ trao danh hiệu cao quý này cho Lê Văn Kiểm, Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã nói: “Khi trở thành doanh nhân thành đạt, Lê Văn Kiểm luôn chia sẻ với cộng đồng, sống có nghĩa có tình với đồng bào, đồng chí, cũng có trách nhiệm cao đối với xã hội. Tấm lòng và việc làm từ thiện của anh còn vươn rộng tầm xa hơn đến với cựu chiến binh Lào, Cu-ba… giúp họ có điều kiện vươn lên trong cuộc sống. Nghĩa cử cao đẹp ấy chứa đựng tinh thần quốc tế vô sản thể hiện đạo lý tốt đẹp, tình nghĩa của người Việt Nam”.

Chủ tịch Nguyễn Minh Triết đã gọi Lê Văn Kiểm là “Sứ giả của lòng nhân ái”./.

Đinh Phong

Học bổng mang tên Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm

Thanh Niên –

Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm, cựu sinh viên Trường ĐH Thủy lợi đã trao 50 suất học bổng (trị giá 750 triệu đồng) cho sinh viên trường nói trên (ảnh). Số tiền này nằm trong Quỹ Khuyến học “Lê Văn Kiểm và gia đình”

Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm, cựu sinh viên Trường ĐH Thủy lợi đã trao 50 suất học bổng (trị giá 750 triệu đồng) cho sinh viên trường nói trên (ảnh). Số tiền này nằm trong Quỹ Khuyến học “Lê Văn Kiểm và gia đình”.

Trước đó, gia đình ông Kiểm đã lập quỹ học bổng trị giá 10 tỉ đồng cho những sinh viên có thành tích học tập xuất sắc và sinh viên nghèo vượt khó. Số tiền này được gửi vào ngân hàng lấy lãi hằng năm để trao học bổng cho các sinh viên nghèo học giỏi nói trên. Đây là năm thứ ba, các suất học bổng từ Quỹ Khuyến học “Lê Văn Kiểm và gia đình” được trao cho sinh viên ĐH Thủy lợi.

Cũng nhân dịp ngày Nhà giáo Việt Nam, Anh hùng lao động Lê Văn Kiểm đã dành 300 triệu đồng tặng các thầy cô giáo trường ĐH Thủy lợi, mái trường mà hơn 40 năm trước ông đã theo học.

Thiên Linh

Minh Diện: DƯỚI MỘT VÒM TRỜI

Vào những thập niên cuối thế kỷ 20, trong làng doanh nhân Việt Nam có hai người cùng tuổi Dậu, có nhiều điểm tương đồng nhưng số phận lại mỉm cười với người này và quá nghiệt ngã với người kia. Đó là Tăng Minh Phụng và Lê Văn Kiểm.
Lê Văn Kiểm tuổi Ất Dậu (1945) Tăng Minh Phụng tuổi Đinh Dậu, (1957), tuy hơn kém nhau một giáp nhưng cùng khởi nghiêp  vào năm Đinh Tỵ (1977 ). Đó là năm tam hợp, tương sinh với Tăng Minh Phụng và Lê Văn Kiểm.

Tăng Minh Phụng bắt đầu bằng việc thành lập Tổ sản suất Minh Phụng và nhờ  phát hiện ra một loại bột nổi để chế biến nhựa phế thải làm dép râu tiêu thụ trong nước và thị trường Đông âu buổi giao thời mà phất lên như diều gặp gió.

Lê Văn Kiểm từ một cán bộ nhà nước ra, thành lập tổ sản xuất Huy Hoàng và nhờ phát hiện hạt cao su có hàm lựợng tinh dầu cao, đã thu mua chế biến làm sơn quét tường bán ra thị trường mà tiền chảy vào như nước
Năm 1987 Công ty Minh Phụng và Công ty Huy Hoàng cùng chuyển sang may quần áo xuất khẩu  sang các nước SNG, đặc biệt là thị trường Liên bang Nga qua những hợp đồng Nghị định thư và cả hai công ty cực thịnh vào năm 1991. Thời điểm đó Huy Hoàng có ba xưởng may ở Thủ Đức, Gò Vấp, Phú Nhuận, số công nhân hai ngàn người,  Minh Phụng có 15 xưởng may, một trung tâm tạo mẫu, một xưởng nhựa, số công nhân mười hai ngàn.

Năm 1992,  Minh Phụng, Huy Hoàng cùng nhảy sang kinh doanh bất động sản, để rồi 5 năm sau,  phải trả giá vì thị trường bất động sản đóng băng. Đến đây “số phận” quá nghiệt ngã với Tăng Minh Phụng, trong khi lại mỉm cười với Lê Văn Kiểm.
Gần trưa ngày ngày 24-2-1997, Tăng Minh Phụng bị bắt khi vừa ở Vũng Tàu về đến phường Bến Thành, Sài Gòn. Lúc đó Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chính Minh đang xét xử vụ Tamexco. Tôi  và nhà báo Thế Gia, phóng viên báo Nhân dân ngồi ở phòng làm việc cùa ông Năm Hồng, Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, cách nơi xử án mấy bước chân. Ông Năm Hồng nói với chúng tôi: “Tóm cổ Tăng Minh Phụng rồi, để coi hắn còn đòi nhân quyền nhân ngãi không ?”. Năm Hồng cho biết, cách đó không lâu ông ta đã gửi công văn yêu cầu  Sở công an thu hồi hộ chiếu của Tăng Minh Phụng, không cho phép xuất ngoại, vì vậy Tăng Minh Phụng làm đơn gửi lên trên  khiếu nại, nói ông ta vi phạm nhân quyền! Thời kỳ đó Năm Hồng đầy thế lực, nên khi nghe khẩu khí của ông ta như vậy tôi biết Tăng Minh Phung nguy rồi.
Và quả như vậy thật, các phiên tòa sơ thẩm rồi phúc thẩm xét xử Tăng Minh Phụng với tội danh “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xã hội chủ nghĩa gây hậu quả nghiêm trọng” và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhà nước”, nhiều tình tiết có lợi cho bị cáo không được xem xét, những yếu tố bất lợi bị nhấn sâu tăng nặng thêm, báo chí  hầu hết viết theo tài liệu lấy từ bản cáo trạng của Viện kiểm sát do Năm Hồng làm viện trưởng, có nhà báo từng thân quen Tăng Minh Phụng còn kết tội bị cáo trước tòa.
Tài sản của Tăng Minh Phụng gồm 390 danh mục và 476 đơn vị, phải thành lập một hội đồng tiếp nhận do Phó chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố trực tiếp phụ trách. Ngoài các xưởng may, xưởng nhựa với  hàng ngàn máy may và máy chuyên dùng nhập khẩu từ Nhật, Mỹ  trị giá hàng chục triêu đô la, còn  một khối bất động sản khổng lồ, đó là 170 biệt thự cao cấp, hơn 80 kho tàng nhà xưởng, gần 1,2 triệu mét vuông đất ở, 2,6 triệu mét vuông đất chuyên dụng và 5,2 triệu mét vuông đất nông nghiêp. Nhà đất của Minh Phụng đều nằm ở những vị trí đắc địa như quận 2, quận 3, quân 9  (thành phố Hồ Chí Minh), đường Lê Hồng Phong,  Hoàng Hoa Thám (Vũng Tàu), Sóng Thần (Bình Dương) hoặc khu biệt thự Đà Lạt. Những khu đất ở Thủ  Đức, Minh Phụng đã hoàn thành xây dựng cơ sở hạ tầng, khi ngân hàng tiếp quản mang đấu thầu, giá khởi điểm đã tới 15 triệu đô la. Đất ở quận 2, khu vực đường Trần Não, Thủ Thiêm sau này không dưới 40 triệu một mét vuông. Đặc biệt dãy cừa hàng Minh Phụng sang nhượng của Công ty lương thực thành phố ở mặt tiền đường Nguyễn Đình Chiểu, Quân 3, mỗi mét vuông giá không dưới 200 triệu. Toàn bộ số tài sản khổng lồ đó được định giá 2.330 tỷ đồng. Tại Tòa, luật sư Nguyễn Thị Loan bào chữa cho Tăng Minh Phụng đã bật khóc khi nghe kết quả thẩm định giá tài sản, vì mỗi mét vuông đất của Tăng Minh Phụng chỉ có giá bằng ba que kem!? Trong khi đó các ngân hàng thương mại thổi thêm các khoản nợ của Tăng Minh Phụng lên 7.000 tỷ đồng và 30 triệu đô la. Sự chênh lệch quá lớn đó là nguyên nhân chính để Hội đồng xét xử tuyên phạt Tăng Minh Phụng mức án cao nhất.

Ngày 12-5-2003, Chủ tịch nước đã bác đơn xin ân xá của Tăng Minh Phụng và ngày 17-7-2003 doanh nhân này đã bị thi hành án khi mới 46 tuổi.
Trong thời gian ấy công ty Huy Hoàng cũng trong cảnh nước sôi lủa bỏng với những khoản tiền nợ ngân hàng hơn một ngàn tỷ không thể thanh toán vì bất động sản đóng băng, hàng hòa không bán được, hàng trăm công nhân thất nghiêp. Nhưng ông Lê Văn Kiểm không bị khởi tố, mà Bộ chính trị và Thủ tướng Chính phủ cho ông được giãn nợ, hoãn nợ trong ba năm để ổn định sản xuất, khắc phục hậu quả. Đó là một giải pháp đúng, vì nó vừa tránh thất thoát tiền nhà nước, vừa giữ được công ăn việc làm cho người lao động và cứu doanh nghiệp khỏi  phá sản. Nhưng phải nói thực, nếu chỉ dựa vào sản xuất thì ba năm chứ mười năm, Lê Văn Kiểm cũng không trả được vốn và lãi ngân hàng, chứ đừng nói còn làm lợi cho nhà nước 500 tỷ đồng như ông công bố. Sở dĩ Lê Văn Kiểm trả được nợ, khắc phục được hậu quả là nhờ đất. Sau chu kỳ đóng băng bất động sản nóng lên, nóng lên dữ dội như một đợt trào phun của núi lửa. Mỗi mét vuông đất được tính bằng vàng. Mỗi ngày mỗi giá. Thậm chí giờ mỗi giá. Người xếp hàng đăng ký mua nền nhà như xếp hàng đong gạo thời bao cấp. Từng bao bố tiền quăng trước những chiếc máy đếm tiền. Xe hơi, xe máy nối đuôi nhau trên những con đường lầm bụi vào những khu quy hoạch dự án…Ông Lê Văn Kiểm đã phát biểu với báo giới: “Nếu không có chính sách giãn nợ của Chính phủ năm xưa, nếu lúc đó bị phá sản hoặc các quan hệ kinh tế bị hình sự hoá, thì có lẽ ông đã không còn đủ sức để tiếp tục đam mê kinh doanh, đẩy mạnh làm kinh tế và trở thành Anh hùng lao động được như hôm nay”…

Công ty Huy Hoàng chẳng những được cải tử hoàn sinh mà lớn bổng lên như Thánh gióng nhờ đất.  Tại Thủ Đức, Quận II, mỗi mét  vuông đất của Minh Phụng khi xử án  định giá bằng ba que kem,  bây giờ, ở đó, mỗi mét vuông đất  Huy Hoàng bán từ 40 đến 60 triệu. Không cần biết vị trí lô đất nằm ở chỗ nào trên thực địa, cũng chẳng hiểu tương lai sẽ ra sao, cứ  ném tiền vào để mua mảnh giấy ghi  một trăm, hai trăm mét vuông đất có con dấu tròn trịa cùa công ty Huy Hoàng. Những cái phiếu ấy có khi còn buôn bán  qua tay nhiều người. Báo chí  được trả tiền để  kích cầu, cò đất nhảy vào chen lấn  tạo ra sự khan hiếm giả tạo. Lê Văn Kiểm không cần tới ba năm đã rũ sạch nợ nần, thở phào bước qua giai đoạn mới, trở thành chủ sân gôn Long Thành và vinh quang thay, ông được tuyên dương Anh hùng lao động thời đổi mới.

Ông Lê Văn Kiểm khoe rằng đã làm từ thiện hơn một trăm tỷ và có công xây dựng vòng xoay Hàng Xanh.Tăng Minh Phụng đã âm thầm làm từ thiện hàng trăm tỷ và góp phần làm đẹp thành phố bằng việc bỏ tiền  lát gạch hàng loạt lề đường.
Ông Kiểm nhờ được hoãn nợ, giãn nợ mà trả hết nợ, tránh thất thoát cho nhà nước 500 tỷ đồng. Giả sử như Tăng Minh Phụng  cũng  được hoãn nợ, giãn nợ như ông Kiểm thì chắc chắn cũng như vậy. Bởi vì, chỉ với 3,8 triệu mét vuông đất ở và đất chuyên dụng của Tăng Minh Phụng bán với giá 40 triệu một mét đã  thu được 144 nghìn tỷ đồng, gấp hai lấn số tiền Minh Phụng nợ ngân hàng.
Điều khác biệt gì khiến Tăng Minh Phụng  không được hưởng ưu ái như ông Lê Văn Kiểm mà phải chết? Phải chăng Lê Văn Kiểm, là con liệt sỹ, là đảng viên đảng cộng sản, còn Tăng Minh Phụng  không có gốc gác như thế ?  Phải chăng Lê Văn Kiểm có những mối quan hệ đặc biệt? Phải chăng Tăng Minh Phụng không trở thành “mắt xích” quan trọng cho nhóm lợi ích đầy quyền lực, hoặc không biết cách tranh thủ chia sẻ lợi nhuận? Phải chăng có những người không muốn để Tăng Minh Phụng có cơ hội nói ra điều thầm kín?  Nhiều, nhiều  lắm những câu hỏi rồi sẽ có ngày được giải đáp, nhưng bây giờ  bạn hãy lấy số phận để an ủi người đã khuất. Dưới vòm trời này Tăng Minh Phụng đâu phải là cá biệt.

—————————————

“Ai cũng muốn dùng dao sắc nhưng đều sợ đứt tay”

 (Dân trí) – “Trong đời mình, tôi mắc không ít sai lầm đâu. Nhất là nghề báo, tôi đã từng ba lần được giải thưởng báo chí quốc gia loại cao nhất thì trong đó có tới 2 lần giải thưởng sai”.

21 đầu sách và hàng ngàn lần trả lời phỏng vấn của hàng trăm cơ quan báo chí đã nói lên một sự thật như chính ông thổ lộ: “Nói nhiều rồi, những điều cần nói đã nói hết cả rồi”. Thế nhưng không hiểu sao mỗi lần nghĩ về nghề báo, người đầu tiên tôi nghĩ đến bao giờ cũng là ông, dù tôi cũng đã hơn một lần phỏng vấn và cả viết về ông. Vẫn biết làm nghề báo điều kỵ nhất là viết về cái người ta đã biết, đã viết nhưng tôi không thể không viết về ông vì với tôi, ông là một ám ảnh. Ông là nhà báo Hữu Thọ.

Tôi sợ nhất những câu hỏi… nhạt!

Thưa nhà báo Hữu Thọ, ông từng gắn bó với nghề báo gần 60 năm, đã viết hầu hết các thể loại báo chí, ông sợ thể loại nào nhất?

Tôi sợ nhất là làm phỏng vấn. Đó là thể loại ác liệt nhất vì nó là cuộc đấu trí, cân não của người hỏi và người trả lời buộc cả hai phải thể hiện quan điểm của mình. Khi người ta hỏi, anh phải trả lời và đó là lúc bộc lộ rõ nhất quan điểm của anh. Kể cả anh không trả lời thì đó cũng là một thông điệp. Nhiều khi với nhà báo, đưa ra câu hỏi cũng tức là chuyển tải một nội hàm thông tin.

Vậy khi phải trả lời phỏng vấn, ông sợ nhất điều gì?

Tôi sợ nhất là gặp những câu hỏi… nhạt. Những câu hỏi không có hoặc rất ít thông tin. Gặp những câu hỏi như thế, người trả lời phỏng vấn không có cơ hội để bộc lộ, để “thi thố” tài năng. Còn gì nhàm chán hơn là phải làm một công việc vô bổ, là nói những điều ai cũng biết hoặc biết cũng chẳng để làm gì.

Đã trả lời hàng ngàn cuộc phỏng vấn, câu hỏi nào ông cho là “ác liệt” nhất và khiến ông thú vị nhất?

Đó là tại SV 1996, trong cuộc truyền hình trực tiếp đầu tiên của Đài Truyền hình VN, khi ấy tôi vừa là TBT báo Nhân dân chuyển sang làm Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa TW, một sinh viên đã hỏi tôi rằng hôm qua ông là nhà báo, hôm nay ông là Trưởng ban, tức là người cầm đèn xanh, đèn đỏ cho báo chí, văn chương… Một câu hỏi rất thú vị nhưng cũng khá hóc.

Và ông đã “xoay xở” như thế nào?

Tôi đã trả lời rằng nếu đúng chức Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa TW là để cầm đèn xanh, đèn đỏ thì cũng tốt vì khi có đèn chỉ dẫn, giao thông sẽ thuận tiện hơn, thông suốt hơn, tránh được ách tắc và đặc biệt là sẽ hạn chế những tai nạn giao thông đáng tiếc.

Nói đi rồi lại nói lại là hèn

Nhiều người nói rằng họ sợ nhất là phải trả lời trực tiếp trên truyền hình vì “sảy chân thì đỡ được…”. Tại sao ông không có nỗi sợ này?

Đúng là không ít người sợ thể loại này nhưng với tôi thì đây là một thách thức mà mình phải vượt qua. Ở nơi đó không có thời gian cho anh chuẩn bị, không có chỗ cho anh sửa chữa, nghĩa là anh phải bộc lộ mình một cách thành thật nhất. Không phải vô lý khi các nền báo chí hiện đại luôn coi phỏng vấn trực tiếp, đối thoại trực tiếp là hình thái báo chí dân chủ nhất.

Nhưng theo quy định thì người phỏng vấn phải đưa cho người trả lời phỏng vấn “duyệt” lại trước khi đăng báo. Và không ít người khi “xem lại” đã sửa chữa câu trả lời, thậm chí thay đổi hẳn nội dung…?

Quy định này là để tạo cơ hội cho người trả lời có sự suy nghĩ chín chắn hơn và khi xem lại, người trả lời phỏng vấn có thể sửa hoặc không sửa. Với tôi thì dù có đọc lại nhưng tôi không sửa hoặc có sửa thì cũng rất ít.

Vì sao vậy?

Vì hai lẽ. Thứ nhất là nếu sửa chữa lại thì chứng tỏ tôi chưa tin người phỏng vấn mình và có gì đó như chưa thật tôn trọng anh em. Thứ hai, đã nói thì phải chịu trách nhiệm, nói đi rồi lại nói lại là hèn, là không trung thực.

Cổ vũ cho cái sai còn nguy hiểm hơn nhiều

Sai – đúng cũng là lẽ thường tình ở đời. Chẳng lẽ cuộc đời làm báo lúc nào ông cũng đúng mà không có sai lầm?

Trong đời mình, tôi mắc không ít sai lầm đâu. Nhất là nghề báo, tôi đã từng ba lần được giải thưởng báo chí quốc gia loại cao nhất thì trong đó có tới 2 lần giải thưởng sai.

Giải thưởng báo chí quốc gia cũng không chính xác?

Đúng thế đấy. Lần thứ nhất, tôi ca ngợi công cuộc phá rừng khai hoang ở Phú Thọ. Lần thứ hai, cũng ở đây, tôi ca ngợi việc đưa cây chuối lên đồi. Chỉ đến lần thứ ba, tôi cổ vũ cho việc giao đất, giao rừng thì tôi mới đúng. Và cả ba lần ấy, tôi đều đoạt giải nhất báo chí toàn quốc.

Không phải bao biện nhưng có nhiều động cơ để dẫn đến sai lầm…? 

Đúng là có nhiều động cơ dẫn đến việc nói sai, làm sai, viết sai như vì miếng cơm manh áo, quyền lực, danh vọng… Còn cái sai của tôi khi đó là do thiếu hiểu biết và thiếu dũng khí, năng lực, tri thức để nhìn nhận, đánh giá đúng sự việc.

Nhưng nhà báo thì cũng chỉ tuyên truyền, cổ vũ chứ đâu có đề ra được chủ trương, chính sách. Vì vậy, có sai cũng chỉ là tuyên truyền, cổ vũ sai thôi?

Đấy, cái nguy hiểm là ở chỗ ấy. Anh trực tiếp làm sai có khi chỉ một mình anh sai, một đơn vị sai, một địa phương sai. Nhưng anh tuyên truyền cho cái sai, cổ vũ cho cái sai thì nguy hiểm hơn nhiều. Cái sai nào thì hậu quả cũng đều là hậu quả, chỉ có điều an ủi rằng mình thành thật tưởng như thế là đúng nên đỡ hơn thôi.

Tôi đã phải xin lỗi phóng viên

Ông có bao giờ viết bài mà gặp sự phản ứng từ phía độc giả không?

Một bài báo để vừa lòng tất cả là một bài báo hỏng. Tôi luôn tâm niệm một điều rằng tôi chưa biết viết thế nào cho thành công vì mỗi bài báo là một thử thách nhưng tôi chắc chắn bài báo thất bại nếu đưa ra câu trả lời làm vừa lòng tất cả mọi người.

Vâng, với nhà báo thì thế còn ở vị trí quản lý báo chí, là TBT có bao giờ ông phạm sai lầm?

Có chứ. Khi ông Phạm Sỹ Chiến còn là Viện trưởng Viện Kiểm sát tỉnh Quảng Ninh, chị Kim Anh (phóng viên của báo Nhân dân) đã phát hiện ra một số sai phạm của ông này. Có người ở VKS Quảng Ninh xin, song chúng tôi vẫn kiên quyết. Nhưng đến khi một vị lãnh đạo nói với tôi rằng anh ta (Phạm Sỹ Chiến) là công nhân, tự học hành rồi trở thành luật sư… Tôi động lòng nói với chị Kim Anh. Sau này Phạm Sỹ Chiến bị bắt, tôi rất ân hận và đã trực tiếp xin lỗi chị Kim Anh. Khi in sách, tôi cũng đưa cả lời xin lỗi “giấy trắng, mực đen” này vào.

Từng bị mang tiếng “ăn tiền”

Là người cầm “đèn xanh, đèn đỏ”, có khi nào ông dùng quyền lực của mình để đáng lý đèn đỏ lại bật đèn xanh và ngược lại?

Có chứ. Xin đơn cử hai vụ. Thứ nhất là vụ Ngân hàng Việt Hoa. Khi đó, anh em các báo đều nhận được thông tin ngân hàng này mất khả năng thanh khoản và sự thật cũng là như thế. Nếu đưa tin này, đương nhiên ngân hàng sẽ sụp đổ ngay lập tức. Và hậu quả sẽ rất lớn. Tôi yêu cầu các báo dừng lại, chưa đưa tin vội. Anh em tin cậy tôi nên cũng nghe lời. Và sau đó, đơn vị này phục hồi, hoạt động tốt đến tận bây giờ.

Vụ thứ hai là Công ty Huy Hoàng của ông Lê Văn Kiểm. Đúng là nó đang trên bờ vực phá sản nhưng nếu làm ầm ĩ lên, anh ta đi tù nhưng hậu quả thì ai chịu. Ngày ấy, có người còn bảo tôi ăn tiền. Khổ, cái cậu Kiểm ấy, bao thuốc nó chả mời thì làm gì có lấy chai rượu. 

Quyền lực luôn hấp dẫn người ta như một ma lực. Là người nắm quyền lực cao nhất trong lĩnh vực lãnh đạo văn nghệ sĩ, báo chí nhưng lại có lần ông nói đại để quyền lực giống như cái áo vắt trên thành ghế. Tại sao ông có vẻ bi quan vậy?

Về chuyện quyền lực, mới đây ông Vương Mông, một nhà văn lớn của Trung Quốc, người từng bị đi đày trong Cách mạng văn hóa rồi về làm Chủ tịch Hội nhà văn Trung Quốc, đã viết rất hay trong hồi ký, đại ý rằng về hưu mới biết mình ít bạn, khi có quyền mới biết mình không đủ quyền. Cái cơ chế nhằng nhịt trong các mối quan hệ nên quyền lực nhiều khi rất mơ hồ.

Mất ngủ vì trăn trở đúng sai!

Đánh giá về nhà lãnh đạo công tác Tư tưởng Văn hoá Hữu Thọ, không ít văn nghệ sĩ, nhà văn, nhà báo cho rằng ông là một Trưởng ban rất sáng giá. Ông nhận xét gì về đánh giá này?

Đó là ý kiến của anh em và tôi cảm ơn về những lời tốt đẹp đó. Chỉ xin kể câu chuyện lúc bàn giao cho anh Điềm (Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm – Trưởng ban Tư tưởng – Văn hóa TW), tôi có tâm sự với ông Điềm rằng khi từ báo Nhân dân về Ban Tư tương – Văn hóa, tôi ngộ nhận là đang từ “chợ” lên “chùa”.

Thật ra khi làm TBT báo, chưa bao giờ tôi phải mất ngủ nhưng từ khi làm Trưởng ban, nhiều đêm thức trắng vì không biết cái quyết định của mình đưa ra ngày hôm đó đúng hay sai? Nói thế để thấy rằng mỗi khi phải đưa ra một quyết định, tôi đều suy nghĩ và cân nhắc rất kỹ.

Ông được coi là nhà báo của những chiêm nghiệm. Nếu muốn nói một câu chiêm nghiệm về cuộc đời này, ông sẽ nói câu gì?

Chiêm nghiệm ư? Tôi cứ nghĩ nó đơn giản rằng: Người ta, ai cũng muốn dùng dao sắc nhưng ai cũng sợ đứt tay.

Xin cám ơn ông!                                            

Bùi Hoàng Tám

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s