TÌM HIỂU VỀ GIÁO HỘI VÀ GIÁO HOÀNG

Nhân việc Đức Giáo hoàng Benedict XVI đọc tuyên bố từ nhiệm tại Vatican và Giáo hội Công giáo Rô ma đã bầu ra  Giáo hoàng mới. Vị Hồng y giáo chủ đầu tiên của Châu Mỹ La tinh ( Jorge Mario Bergoglio người Achentina) – sau cuộc bỏ phiếu vừa qua – đã trở thành Tân Giáo Hoàng . Ngài mang danh hiệu  Francis I.Chúng ta cùng tìm hiểu vài nét về tổ chức Công giáo đặc biệt này.

GIÁO HỘI VÀ ĐỨC GIÁO HOÀNG

Là vị Vua chuyên chế duy nhất trên thế giới ngày nay, Giáo hoàng là người được bảo vệ bởi pháp luật của Liên Hiệp Quốc và các công ước quốc tế, đó là không một tòa án nào trên thế giới được xét xử Giáo hoàng một khi ông không muốn (không cho phép). Theo Giáo hội Công giáo Rôma, Giáo hoàng là người kế vị Thánh Phêrô và là người đại diện Thiên Chúa ở trần gian, Giáo hoàng có quyền tối thượng đối với Giáo hội Công giáo Rôma của mình trên khắp thế giới; là vị chủ chăn, người Cha tinh thần của toàn bộ hơn 1,3 tỉ người Công giáo Rôma.

Chỉ có duy nhất Giáo hoàng mới có quyền bổ nhiệm các Giám mục ở mọi giáo phận trên thế giới.

Giáo hoàng được bầu bởi Mật nghị Hồng y (conclave) sau khi vị Giáo hoàng đương nhiệm băng hà. Ngày nay, có lẽ Giáo hoàng là người có vị thế nhất trên trái đất, tiếng nói của Giáo hoàng cũng là tiếng nói có uy lực.Quyền lực của Giáo hoàng và Tòa Thánh Vatican, bất chấp diện tích nhỏ bé nhất địa cầu của đất nước và nền kinh tế phi thương mại duy nhất hành tinh, đã thâu tóm ảnh hưởng thế giới trên nhiều bình diện từ trong lịch sử xa xưa của loài người cho đến kỷ nguyên hiện đại hôm nay nhờ vào vô số những đóng góp vĩ đại xuất phát từ Giáo hội Công giáo cũng như các thành viên của họ cho nhân loại mà con người ngày nay đang thụ hưởng.

Giáo hoàng luôn được xếp trong danh sách những người có quyền lực và ảnh hưởng nhất hành tinh do các tạp chí danh tiếng thế giới như TIME, Forbes bình chọn. Giáo hoàng luôn nằm trong danh sách vì thỏa mãn đủ cả bốn tiêu chí căn bản của việc bình chọn, đó là, người có ảnh hưởng tới rất nhiều người; người kiểm soát một nguồn tài chính lớn; người có quyền lực lớn ở nhiều lĩnh vực khác nhau; và, người thực sự dùng quyền lực đó để thi hành chức vụ mình đảm nhiệm. Một trong những vị Giáo hoàng thời hiện đại, Chân phước Gioan Phaolô II, được TIME bình chọn là một trong bốn người có ảnh hưởng lớn nhất với nhân loại của thế kỷ 20 và cả những năm đầu thế kỷ 21.

Tòa Thánh Vatican nhìn từ Quảng trường St. Peter’s, nơi thu hút hàng chục triệu khách du lịch và người hành hương mỗi nmă, là Kinh đô của Giáo hội Công giáo Rôma, là nơi cư ngụ và biểu trưng quyền lực vươn ra thế giới của Tòa Thánh và các vị Giáo hoàng

Chính nhờ những cống hiến của Giáo hội Công giáo, đứng đầu là Giáo hoàng, cho nhân loại mà góp phần làm tăng thêm quyền lực thực sự cũng như cácquyền lực mềm và quyền lực tinh thần cho Giáo hoàng, trong đó tiêu biểu như:

  • Giáo hội Công giáo đã đặt tiền đề cho các ngành khoa học căn bản là: thiên văn học, khoa học vũ trụ, sinh học, di truyền học, hình học, đại số, toán học,khoa học địa lý và ngành bản đồ học, các ngành khoa học tự nhiên nghiên cứu về thiên nhiên và trái đất, v.v. qua những nhà bác học lỗi lạc của Giáo hội như Linh mục Gregor Mendel, cha đẻ của ngành di truyền học hiện đại, người đề ra định luật Meldel và các nguyên tắc phân ly độc lập, di truyền giống, biến đổi gen; nhà bác học đa tài Nicolaus Copernicus; nhà bác học Blaise Pascal; nhà bác học Linh mục Matteo Ricci ; v.v.
  • Giáo hội Công giáo hình thành hai ngành khoa học cơ bản là triết học và thần học vào buổi bình minh của lịch sử, đặt nền tảng cho các lý luận của con người tới tận ngày nay nhằm giải quyết các vấn đề của bản thể luận, nhận thức luận, tôn giáo, đức tin và linh hồn.
  • Giáo hội Công giáo giúp hình thành và phát triển nền nghệ thuật, âm nhạc và kiến trúc phương Tây với các nhà soạn nhạc vĩ đại như Beethoven, Mozart,Bach, các họa sĩ và kiến trúc sư lừng danh mọi thời đại như Michelangelo, Bernini, Raphael, Caravaggio, Antoni Gaudí, Leonardo da Vinci, v.v.
  • Giáo hội Công giáo sở hữu và điều hành hơn 1/4 (26%) số bệnh viện và cơ sở chăm sóc y tế trên toàn thế giới, nhiều hơn bất kỳ quốc gia, tổ chức hay định chế nào, bao gồm: hơn 117.000 cơ sở chăm sóc y tế; 5.428 bệnh viện lớn; 18.025 phòng khám đa khoa và chuyên khoa; 15.985 trại tế bần, viện dưỡng lão, trung tâm chăm sóc người tàn tật; 9.962 cô nhi viện; 11.902 trường đào tạo y bác sĩ; 13.945 trung tâm tư vấn hôn nhân gia đình; 529 trung tâm chăm sóc người phong cùi, hủi; hơn 18.000 xưởng sản xuất thuốc và nhà thuốc; và hơn 34.250 cơ sở chăm sóc người nhiễm HIV/AIDS và cơ sở y tế các loại khác…

Bologna, trường Đại học đầu tiên trên thế giới, được thành lập bởi sắc chỉ của Giáo hoàng Urban II năm 1088, và vẫn hoạt động cho đến ngày nay.

  • Giáo hội Công giáo sở hữu và điều hành khoảng 1/5 (25%) hệ thống giáo dục toàn cầu gồm: 67.848 nhà trẻ và trường mẫu giáo; 93.315 trường tiểu học; 42.234 trường trung học; hàng ngàn trường đại học, viện đại học và học viện trên khắp thế giới với số lượng lên tới hơn 50 triệu sinh viên. Giáo hội Công giáo còn điều hành hàng trăm tổ chức và viện nghiên cứu cao cấp về các lĩnh vực khác nhau khắp thế giới, 01 viện hàn lâm khoa học và nhiều viện nghiên cứu sinh học, vật lý, thiên thể, vũ trụ, lượng tử, toán học, hóa học, hạt nhân… Giáo hội Công giáo đã phát triển và đặt nền tảng cho hệ thống giáo dục đại học hiện đại bằng việc mở các trường đại học đầu tiên trên thế giới như Đại Học Bologna (thành lập năm 1088, là trường đại học đầu tiên trên thế giới và vẫn hoạt động đến ngày nay); Đại Học Paris (1150), Đại Học Oxford (1167); Đại Học Salerno (1173); Đại Học Vicenza (1204), Đại Học Cambridge (1209); Đại Học Salamanca (1218-1219); Đại Học Padua (1222); Đại Học Naples (1224); Đại Học Vercelli (1228); Đại Học La Sapienza(1303, là trường đại học có đông sinh viên nhất thế giới với gần 150.000 sinh viên), v.v. Đến giữa thế kỷ XV (khoảng 70 năm trước khi thời kỳ Cải Cách), đã có hơn 50 trường đại học Công giáo trên toàn châu Âu.
  • Giáo hội Công giáo thiết lập nền tảng của hệ thống Pháp Luật và ngành Luật học. Vào đầu thế kỷ thứ 12, các giáo sĩ Công giáo đã tạo ra một bộ luật hoàn chỉnh và có tính khoa học đầu tiên trên thế giới mà trong đó tất cả điều khoản, các phần tương hợp với nhau trong một tổng thể chung. Vào năm 1088, Giáo hoàng Urban II thể nghiệm ngành luật bằng cách cho thành lập Đại Học Bologna với phân khoa luật, từ đó nghề luật nổi lên, và khái niệm như “tổ chức pháp nhân”, “cơ quan”, “tổ chức”, “cơ sở pháp lý”, “công ty”, “quỹ tín thác”… ra đời.Và một loạt các nguyên tắc về luật học như tôn trọng quyền lợi các bên, bình đẳng trước pháp luật, luật pháp quốc tế, xét xử, bồi thẩm đoàn, lệnh đình chỉ bắt giam và việc bắt buộc phải chứng minh sự hồ nghi tội phạm vượt quá khả năng phạm tội… cũng được các tu sĩ Công giáo hình thành. Đây chính là sự thành hình cho các ngành luật hiện đại.
  • Giáo hội Công giáo điều hành một trong những tổ chức từ thiện lớn nhất hành tinh là Caritas. Caritas Quốc tế (Caritas Internationalis) là một hiệp hội của 164 tổ chức cứu trợ nhân đạo quốc tế và phục vụ phát triển xã hội do Giáo hội Công giáo Rôma điều hành, hoạt động tại hơn 200 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới. Caritas cùng với Cơ Quan Cứu Trợ Nhân Đạo Liên Hiệp Quốc (UNRRA) là hai tổ chức cứu trợ lớn nhất thế giới. Tại Việt Nam, Caritas được Hội đồng Giám mục Miền Nam Việt Nam thành lập ở cấp Trung Ương vào năm 1965. Do biến động thời cuộc, tháng 6 năm 1976,Caritas Việt Nam bị Nhà nước Việt Nam yêu cầu phải giải thể. Với sự kiên trì của Hội đồng Giám mục Việt Nam, Caritas Việt Nam đã được tái lập vào ngày 2 tháng 7 năm 2008. Caritas Việt Nam đã tái hòa nhập làm một thành viên của Caritas Quốc tế, tuy nhiên, Chính phủ Việt Nam vẫn chưa cho phép để Caritas Quốc tế đặt chi nhánh ở Việt Nam.

Đại học Oxford, tiền thân là ngôi trường do Thánh nữ Hilda lập, lấy châm ngôn là:Thiên Chúa là Nguồn sáng của tôi (tiếng Latinh: Dominus Illuminatio Mea, tiếng Anh: The Lord is my Light), Thánh vịnh 

  • Giáo hội Công giáo khởi xướng phong trào đề cao phụ nữ và nữ quyền. Trái với định kiến trọng nam khinh nữvào thời xưa, Giáo hội đánh giá cao người phụ nữ và đã tôn vinh nhiều vị Thánh nữ, nâng một số Thánh nữ lên hàng Tiến sĩ Giáo Hội, một tước hiệu cao quý chỉ được trao cho một vài vị Thánh lỗi lạc của Giáo hội Công giáo, và tỏ lòng quý trọng các nữ tu. Sỡ dĩ nữ tu không được làm linh mục trong Giáo hội là vì truyền thống do Chúa Giêsu đặt để chỉ chọn người nam làm linh mục, Giáo hội không có thẩm quyền sửa đổi truyền thống này. Nhiều phụ nữ đã để lại vết son trong sử sách Giáo hội như Thánh nữ Hilda là người đã thành lập Đại Học Oxford, Hoàng hậu Matilda và Nữ hoàng đầu tiên của nước Anh Mary Tudor, là những người nữ tiên phong trong lĩnh vực chính trị. Công giáo cũng mang đến cho nền văn minh con người nhiều nhà khoa học và giáo sư là phụ nữ đầu tiên trên thế giới như nữ giáo sư vật lý Italia Trotula ở Salermo trong thế kỷ 11, và nữ giáo sư vật lý Dorotea Bucca, người đã giữ ghế giáo sư y khoa trưởng tại Đại Học Bologna, nữ triết gia Elena Lucrezia Piscopia, người phụ nữ đầu tiên trên thế giới nhận bằng tiến sĩ triết học (1678) và Maria Agnesi(1799), một triết gia, nhà giả kim học, nhà ngôn ngữ học và nhà toán học là người phụ nữ được Giáo hoàng Benedict XIV chỉ định trở thành giáo sư toán học đầu tiên tại Italia vào năm 1750. Vào tháng 3 năm 2004, Mary Ann Glendon, giáo sư luật học tại Đại học Harvard, cựu Đại sứ Hoa Kỳ tại Tòa Thánh, chủ tịch Hội đồng Đạo đức Sinh học của tổng thống Mỹ được Giáo hoàng Gioan Phaolô II chỉ định làm Chủ tịch Viện Hàn Lâm Khoa Học Giáo Hoàng và là người phụ nữ đầu tiên trên thế giới đảm trách chức vụ này; trước đó vào năm 1995, Giáo hoàng Gioan Phaolô II cũng đã chọn bà là người đại diện Vatican tham dự Hội nghị Quốc tế về các Quyền của Phụ nữ tại Bắc Kinh (Trung Quốc) do Liên Hiệp Quốc tổ chức.

Cũng như các Giáo hoàng trước, Benedict XVI là một học giả thần học uyên thâm và thông thạo nhiều ngôn ngữ nhưtiếng Đức, tiếng Ý, tiếng Pháp, tiếng Anh,tiếng Tây Ban Nha, tiếng Latinh, tiếng Bồ Đào Nha, tiếng Hy Lạp và tiếng Do Thái…

  • Giáo hội Công giáo kiến tạo và phong phú hóa các hệ thống ngôn ngữ căn bản của con người như tiếng Hy Lạp, Latinh và bảng chữ cái alphabet. Giáo hội cũng sáng tạo ra hệ thống chữ nổi Braille dành cho người mù. Vào năm 1784, Valentin Haüy, anh trai của Abbé Haüy, một linh mục Công giáo người Pháp, người phát minh ra tinh thể học, đã thành lập ngôi trường đầu tiên trên thế giới dành cho người mù mang tên Viện Khiếm thị Hoàng gia thanh thiếu niên tại Paris (ngày nay gọi là Viện Quốc gia người khiếm thị, INJA). Sinh viên nổi tiếng nhất của trường này, Louis Braille, vào học năm 1819, với sự hướng dẫn của Valentin Haüy đã phát triển một hệ thống chữ nổi cho người mù đọc mà ngày nay trên toàn thế giới hệ thống chữ Braille này mang tên ông. Tại Việt Nam, vào thế kỷ thứ 17, nhà truyền giáo Dòng Tên Alexandre de Rhodes người Pháp là người đầu tiên sáng tạo, biên soạn và truyền bá chữ quốc ngữ mà người Việt Nam sử dụng ngày nay. Chữ quốc ngữ Việt Nam hiện đại có một số cải tiến theo thời gian, nhưng chủ yếu vẫn lấy nền tảng là công trình tự điển Việt-Bồ-La xuất bản ở Rôma năm 1651 và hệ thống hóa cách ghi âm tiếng Việt bằng mẫu tự Latinh do linh mục Alexandre de Rhodes biên soạn.
  • Giáo hội Công giáo sáng tạo và thiết lập niên lịch mà con người ngày nay sử dụng hằng ngày. Lịch được sử dụng như là một phần của hệ thống duy trì thời gian hoàn hảo mà trong đó ngày tháng và thời gian của một ngày cùng nhau chỉ ra các thời điểm theo thời gian. Bộ lịch được sử dụng rộng rãi nhất trên thế giới ngày nay là lịch Gregory, hay còn gọi là Dương Lịch. Bộ lịch này là tiêu chuẩn quốc tế đo lường thời gian và được sử dụng ở khắp thế giới cho các mục đích khác nhau, bao gồm cả Trung Quốc và Ấn Độ, vốn là những quốc gia trước đây sử dụng lịch khác. Lịch Gregory là bộ lịch do Giáo hoàng Grêgôriô XIII ban hành vào năm 1582 lấy mốc thời gian Chúa Giêsu sinh ra làm năm số 0, còn gọi là Công nguyên, và khoảng thời gian trước năm 0 gọi là trước Công nguyên (Before Christ), sau năm 0 gọi là sau Công nguyên (Anno Domini) và chia lại các thời kỳ của lịch sử con người. Bộ lịch này chia năm thành 12 tháng với 365 ngày, cứ mỗi chu kỳ hết 3 năm thì thêm một ngày vào cuối tháng 2 tạo thành năm nhuận.

An ninh

Giáo hoàng được đánh giá là người được bảo vệ nghiêm nghặt nhất trên thế giới.

Theo Reuters, sau Hiệp ước Lateran được ký vào năm 1929 với phần quy định về đảm bảo an ninh cho Vatican và người đứng đầu Tòa Thánh, thì bên cạnh hơn 100 Vệ binh Thụy Sỹ luôn túc trực, Giáo hoàng còn được bảo vệ bởi khoảng 2000 nhân viên thuộc các cơ quan an ninh và phản gián như CIA, FBI, đặc nhiệm và mật vụ Italia, cảnh sát Italia, đội hiến binh Vatican, các đặc vụ gián điệp chìm… Khi ra nước ngoài công du, thì theo luật quốc tế, Giáo hoàng được bảo vệ bằng mọi giá bởi các cơ quan an ninh chuyên nghiệp nhất của quốc gia mà ông đến.

Giáo hoàng là một yếu nhân có khả năng quy tụ công chúng đông đảo hiếm thấy trên thế giới. Các buổi lễ do Giáo hoàng cử hành dù ở Vatican hay ở nước ngoài đều lôi kéo được một số lượng khổng lồ các tín hữu, các nguyên thủ quốc gia và ngoại giao đoàn đến tham dự dẫn đến những quan ngại về an ninh cực lớn đối với các giới chức. Thông thường một buổi lễ hay nghi thức phụng vụ ngoài trời do Giáo hoàng chủ sự có đến hàng trăm ngàn người cho tới nhiều triệu người tham dự tùy vào địa điểm tổ chức có thể quy tụ được số lượng bao nhiêu. Vào ngày 1 tháng 5 năm 2011, có hơn 2 triệu người, đông gấp đôi dân số thành phố Rôma, và 23 nguyên thủ quốc gia, 5 gia đình hoàng gia châu Âu đến Đền thờ Thánh Phêrô ở Vatican tham dự Lễ Phong Chân phước cho Giáo hoàng Gioan Phaolô II do Giáo hoàng Benedict XVI cử hành. Các kỳ Đại hội Giới trẻ Thế giới được tổ chức 3 năm một lần cũng là dịp Giáo hoàng quy tụ hàng triệu người trẻ khắp năm châu về tham dự, dẫn đến các công tác an ninh càng được thắt chặt. Tại lễ bế mạc Đại hội Giới trẻ Thế giới đầu tiên được tổ chức tại Á châu là ở Philippines vào tháng 1 năm 1995 đã có hơn 5 triệu người tham dự nghi thức do Giáo hoàng Gioan Phaolô II cử hành.

  • An ninh cho các chuyến công du của Giáo hoàng

Hơn hai triệu người đổ ra đường chào đón Giáo hoàng Benedict XVI trong chuyến công du Brazil của ông vào tháng 5 năm 2007.

Cảnh sát và Mật vụ Hoa Kỳ hộ tống Giáo hoàng Benedict XVI trong chiếc Popemobile đi qua Central Park ở New York, ngày 19 tháng 4 năm 2008.

Gần đây, như chuyến tông du của Giáo hoàng Benedict XVI tới Israel vào tháng 5 năm 2009, quân đội nước này đã mở chiến dịch quân sự lớn chưa từng có trong lịch sử quốc gia mang tên “Chiếc Áo Choàng Trắng” (Operation White Cloak), huy động đến 80.000 nhân viên an ninh gồm mật vụ, đặc nhiệm, cơ động phản ứng nhanh, cảnh sát, binh sĩ thuộc quân đội và hàng chục ngàn nhân viên an ninh chìm, phản gián để bảo vệ người đứng đầu Tòa Thánh Vatican. Trong đó lên tới 60.000 sĩ quan cảnh sát, còn lại 20.000 là các nhân viên mật vụ, đặc nhiệm và quân đội. Trước đó, hai cuộc viếng thăm cấp nhà nước của hai tổng thống Mỹ là George W. Bush và Barack H. Obama vào năm 2008 đến Israel được quốc gia này bảo đảm an ninh lần lượt bằng 3.500 và 5000 nhân viên cảnh sát, nhỏ hơn khoảng 20 lần về quy mô so với an ninh dành cho Giáo hoàng Benedict XVI.

Trong chuyến công du vào tháng 4 năm 2008 của Giáo hoàng Benedict XVI tới Mỹ, để đảm bảo an toàn cho thủ lĩnh các tín đồ Công giáo, tổng thống George W. Bush lúc ấy đã huy động lực lượng an ninh lên mức cao nhất theo thang sự kiện quốc gia là 15.000 cảnh sát và mật vụ, ngang bằng với an ninh mà Lầu Năm Góc áp dụng để bảo vệ các kỳ họp Đại Hội Đồng Liên Hiệp Quốc với sự tham dự của hàng trăm nguyên thủ quốc gia khắp thế giới và an ninh cho lễ nhậm chức của tổng thống Barack Obama.

Vào tháng 9 năm 2010, trong chuyến thăm chính thức Anh Quốc của Giáo hoàng, các giới chức chính phủ nước này cũng đã điều động một lực lượng an ninh hùng hậu lên đến gần 16.000 cảnh sát, mật vụ làm nhiệm vụ bảo vệ.

Thông thường, an ninh áp dụng để bảo vệ Giáo hoàng trong các chuyến đi ra khỏi Vatican hay tông du nước ngoài được thắt chặt tối đa, bao gồm: Nhân viên nhiều bộ ngành được triển khai để phân tích tổng hợp các nguy cơ và ngăn chặn, đối phó với bất kỳ cuộc tấn công khủng bố nào. Một lực lượng cảnh sát khổng lồ mặc quân phục cũng như thường phục được bố trí trên khắp các đường phố. Chó nghiệp vụ được huy động để phát hiện bom. Cảnh sát phong tỏa toàn bộ giao thông và các tuyến đường, cấm mọi loại xe cộ đi lại trong những khu vực bán kính Giáo hoàng di chuyển bằng việc thiết lập “vùng đóng băng” ở các tuyến phố trung tâm. Phải có giấy phép hay vé tham dự và phải qua kiểm tra quét toàn thân trước khi được vào những nơi này. Hàng nghìn máy quay được thiết lập ở các góc đường và quảng trường. Các tay thiện xạ, bắn tỉa được bố trí trên các điểm cao. Trực thăng cảnh sát tuần tiểu trên trời trong không phận Giáo hoàng hiện diện hay đi ngang qua và thiết lập vùng cấm bay bằng các chiến đấu cơ phản lực tuần tra vùng trời, vùng biển. Cảnh sát cũng triển khai các hệ thống vũ khí đất đối không. Tại các bến cảng, cảnh sát thợ lặn tuần tra dọc các con sông và bên dưới mặt nước, tàu thuyền được trang bị súng máy. Chuẩn bị cho các tấn công bất ngờ bằng vũ khí hóa học và sinh học. Hệ thống y tế lưu động cũng được thiết lập trên quy mô lớn trong trường hợp xảy ra tấn công vào Giáo hoàng hoặc đám đông.

Một chuyến công du của Giáo hoàng phải mất tối thiểu hàng chục triệu đô la chi phí, và được coi là người tốn nhiều tiền nhất cho việc công du trên thế giới, hơn hẳn tổng thống các quốc gia hay các vua và nữ hoàng. Mỗi lần Giáo hoàng đi công du thì các cơ quan an ninh Vatican, và Bộ Nội vụ Italia phải phối hợp với các cơ quan an ninh nước chủ nhà để tính toán chuyến hành trình của Giáo hoàng trước đó nhiều tháng trời, thậm chí là nhiều năm. Các cơ quan này muốn có càng nhiều thời gian chuẩn bị càng tốt để hoạch định cho một chuyến đi nước ngoài như vậy của Giáo hoàng. Nhưng trong một số trường hợp đặc biệt, họ phải làm việc khẩn trương. Đó cũng là lý do mà Vatican cho duy trì một bộ phận nghiên cứu bảo vệ an ninh trên diện rộng, chuyên nghiên cứu và đánh giá những mối đe dọa toàn cầu.

  • An ninh cho Lễ An táng và Đăng quang Giáo hoàng

Từ trái sang: Tổng thống Mỹ George W. Bush, Đệ nhất phu nhân Laura Bush, các cựu tổng thống George H. W. Bush và Bill Clinton, Ngoại trưởng Mỹ Condoleezza Rice, Chánh văn phòng Nhà Trắng Andrew Card quỳ cầu nguyện trước linh cữu Giáo hoàng Gioan Phaolô II ở Vương Cung Thánh Đường Thánh Phêrô tại Vatican, ngày 6 tháng 4 năm 2005.

Vào tháng 4 năm 2005, một sự kiện đảm bảo an ninh chưa từng có trong lịch sử hiện đại đã diễn ra tại Vatican. Thời điểm đó, có hơn 200 nguyên thủ quốc gia và phái đoàn ngoại giao khắp thế giới, 117 Hồng y bầu chọn Giáo hoàng mới, các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn trên thế giới và gần 5 triệu tín đồ Công giáo tuôn về Vatican dự Lễ An táng Giáo hoàng Gioan Phaolô II, lễ tang lớn nhất trong lịch sử loài người và quy tụ nhiều lãnh đạo thế giới nhất. Trong đó có nhiều gia đình hoàng gia khắp năm châu, nhiều vua chúa, nữ hoàng và các nhà quý tộc. Phái đoàn của Mỹ là rầm rộ nhất với 3 vị tổng thống George W. Bush, George H. W. Bush, Bill Clinton, ngoại trưởngCondoleezza Rice, đệ nhất phu nhân Laura Bush và Tổng thư ký Liên hiệp quốc Kofi Annan. Điều này khiến choHồng Y Đoàn, có nhiệm vụ điều hành Vatican khi Giáo hoàng băng hà, quan ngại và yêu cầu sự giúp đỡ từ bên ngoài. Vì tang lễ của cố Giáo hoàng, cơ mật viện bầu Giáo hoàng mới và lễ đăng quang của tân Giáo hoàng sẽ biến Vatican thành mục tiêu của khủng bố.

Bản đồ các quốc gia (màu tím) có nguyên thủ quốc gia, hoàng gia và phái đoàn ngoại giao chính thức đến dự tang lễ Giáo hoàng Gioan Phaolô II tại Vatican.

Trước tang lễ vào sáng thứ sáu ngày 8 tháng 4 năm 2005, NATOvà không quân Italia (Aeronautica Militare Italiana) đã cho thiết lậpvùng cấm bay trên không phận toàn thành phố Rôma và bán kính 5 dặm xung quanh đó. Các máy bay chiến đấu cường kích có gắntên lửa hành trình và tên lửa không đối không cùng hệ thống tên lửa không đối đất của NATO được triển khai. Dưới mặt đất quân đội cũng lắp đặt các hệ thống tên lửa phòng thủ, bệ phóng tên lửa chống hạm và đất đối không xung quanh thành phố Vatican với sự cho phép miễn cưỡng của Hồng Y Đoàn vì tình thế quá khẩn trương. Dọc bờ biển Địa Trung Hải, các tàu chiến của hải quân Italia (Marina Militare) được bố trí tuần tra ngày đêm cùng hệ thống tàu ngầm có ngư lôi tìm diệt và tên lửa hành trình. Trên các con sông bao bọc thành phố Rôma, cảnh sát tuần tra dày đặc bằng thuyền máy và canô, nhất là dòng sông Tiberhuyền thoại chảy ngang qua Vatican. Hơn 1000 tay súng bắn tỉa được lệnh án ngữ mọi điểm cao và hỗ trợ cho hàng chục ngàn cảnh sát rà phá bom mìn trên đường phố. Các trực thăng chiến đấu và trinh sát cũng được huy động để quan sát, bảo vệ Rôma từ trên không. Rôma với 2 triệu người dường như quá tải bởi dòng người gấp 3 lần dân số của nó đổ về. Chiều hôm trước ngày lễ an táng, chính phủ đã cho đóng cửa 2 sân bay bận rộn nhất nước là sân bay quốc tế Leonardo da Vinci (Fiumicino) và sân bay quân sự Ciampino ở Rôma. Các tuyến tàu điện ngầm và xe buýt cũng bị buộc phải ngưng hoạt động đến hết lễ tang.

Những biện pháp an ninh trên cũng được áp dụng cho lễ đăng quang của Giáo hoàng Benedict XVI vào ngày 24 tháng 4 năm 2005.

Quyền bính

Giáo hoàng với Triều thiên Ba tầng (Papal Tiara) tượng trưng cho việc cai quản, thánh hóa, chăm sóc các tín hữu. Gậy Mục tử (Crosier) tượng trưng cho quyền bính. Dây Pallium được làm bằng lông cừu để nói lên Giáo hoàng là chủ chiên lành thay Chúa Kitô vác chiên trên vai; nhẫn Ngư phủ (Ring of the Fisherman) trên mặt có hình Thánh Phêrô đang đánh cá. Khi Giáo hoàng băng hà thì nhẫn đó được hồng y giáo chủ nhiếp chính đập vỡ đi để tránh giả mạo.

  • Triều thiên Ba tầng

  • Gậy Mục tử

  • Dây Pallium

  • Nhẫn Ngư Phủ

    ————————————–

    Tổ chức và quản trị

    Giáo huấn và Giáo Triều

    Hệ thống phẩm trật của Giáo hội Công giáo đứng đầu là vị giám mục Giáo phận Rôma, chức danh là giáo hoàng. Ông được tín hữu coi là đại diện cao nhất của Thiên Chúa ở trần gian, người có quyền uy, ảnh hưởng lớn nhất trong Giáo hội Công giáo toàn cầu (trong đó bao gồm cả giáo hội theo nghi lễ Latinh và những giáo hội Công giáo theo nghi lễ Đông phương nhưng có hiệp thông trọn vẹn với Rôma). Thuật ngữ “Đông Phương” và “Tây Phương” mà Giáo hội Công giáo sử dụng không hàm ý chỉ về châu Á hay châu Âu nhưng chỉ về khu vực lãnh thổ của giáo hội trong lịch sử và văn hóa, với hai trung tâm là Rôma(Tây Phương) và Constantinopolis (Đông Phương).

    Giáo hoàng hiện nay là Biển Đức XVI, người được bầu trong một cuộc Mật nghị Hồng y vào ngày 19 tháng 4 năm 2005. Thẩm quyền của giáo hoàng gọi là Giáo huấn (Papacy), nghĩa là quyền giảng dạy tín hữu. Cơ quan trung ương giáo huấn thường được gọi là “Tòa Thánh” (Sancta Sedes trong tiếng Latinh), hoặc “Tông Tòa” (Apostolic See) nghĩa là “ngai tòa của Thánh Phêrô Tông đồ”. Trực tiếp cộng tác với giáo hoàng là Giáo triều Rôma, tức cơ quan quản lý và điều hành hoạt động của Giáo hội Công giáo. Giáo hoàng cũng là nguyên thủ quốc gia của Thành Vatican, một quốc gia có chủ quyền đầy đủ trên một lãnh thổ nằm trong thành phố Rôma, thủ đô nước Ý.

    Sau khi một vị giáo hoàng qua đời hoặc từ chức, chỉ có các thành viên dưới 80 tuổi trong Hồng y Đoàn mới có quyền họp tại Nhà nguyện Sistina ở Rôma để bầu ra giáo hoàng mới. Mặc dù cuộc bầu chọn này, thực tế chỉ dành riêng cho các hồng y bầu chọn cho nhau, nhưng về mặt lý thuyết, bất kỳ người nam nào theo đạo Công giáo cũng có thể được chọn làm giáo hoàng. Kể từ 1389, chỉ có hồng y mới được nâng lên vị trí đó. Hồng y là một tước hiệu danh dự mà giáo hoàng ban cho một số giáo sĩ Công giáo, phần lớn là các vị lãnh đạo trong Giáo triều Rôma, các giám mục của các thành phố lớn và các nhà thần học lỗi lạc, phụ giúp giáo hoàng quản trị Giáo hội.

    Các phương tự trị đặc biệt

    Nhà thờ Truyền Tin – nhà thờ lớn nhất ở Trung Đông dưới sự giám sát của Thánh Bộ các Giáo Hội Đông Phương

    Giáo hội Công giáo gồm có 23 phương tự trị đặc biệt (sui iuris), mỗi phương tự trị trong số đó đều chấp nhận thẩm quyền của vị giám mục giáo phận Rôma (tức là giáo hoàng) về các vấn đề giáo lý. Những lãnh thổ này sở dĩ gọi là “tự trị đặc biệt” là vì cộng đoàn Kitô hữu Công giáo ở đó có khác nhau về lịch sử, văn hóa, hình thức lễ nghi, thờ phượng chứ không khác biệt về giáo lý. Nói chung, đứng đầu mỗi phương tự trị thế này là một thượng phụ giáo chủ (patriarch) hay giám mục cao cấp, và họ được trao quyền quản trị đối với lãnh thổ của mình ở một mức độ tương đối về các nghi thức phụng vụ, lịch phụng vụ, và các khía cạnh thờ phượng khác.

    Lớn nhất trong số này các phương tự trị này là Giáo hội Latinh, gồm hơn 1 tỷ giáo dân. Vì thế, mỗi khi nhắc đến Giáo hội Công giáo, nhiều người thường nghĩ ngay về giáo hội này. Giáo hoàng thực tế là thượng phụ giáo chủ của phương tự trị Giáo hội Latinh, phát triển ở Tây Âu trước khi lan rộng khắp thế giới. Giáo Hội Latinh coi mình là nhánh lâu đời nhất và lớn nhất của Kitô giáo Tây Phương. Nhỏ bé hơn so với Giáo hội Latinh là 22 phương tự trị giáo hội ở Đông Phương với 17,3 triệu giáo dân, hợp thành tổng thể của Giáo hội Công giáo.

    Các phương tự trị giáo hội Công giáo ở Đông Phương là những tín hữu vẫn theo các niềm tin và truyền thống của Kitô giáo Đông Phương nhưng vẫn luôn hiệp thông trọn vẹn với Giáo hội Công giáo; hoặc những tín hữu đã ly khai sau cuộc Ly giáo Đông – Tây nay trở vềhiệp thông với Rôma. Thượng phụ giáo chủ của các phương tự trị Công giáo Đông Phương do thượng hội đồng giám mục (synod of the bishops) của giáo hội đó bầu lên, các chức vị khác lần lượt là: tổng giám mục miền, giám mục v.v.. Tuy nhiên, Giáo hội Latinh có Giáo triều Rôma được tổ chức cụ thể hơn, gồm có Thánh Bộ các Giáo hội Đông Phương, để duy trì mối quan hệ với họ.


    Giáo hội Công giáo tại từng 
    quốc gia, khu vực, hoặc các thành phố lớn gọi là giáo hội địa phương, được tổ chức thành giáo phận (diocese hoặc eparchies, tùy văn cảnh là Đông phương hay Tây phương), mỗi giáo phận do một giám mục Công giáo lãnh đạo. Tính đến năm 2012, toàn Giáo hội Công giáo (cả Đông phương và Tây phương) gồm 2.966 đơn vị hành chính tương đương giáo phận. Các giám mục trong một quốc gia hoặc khu vực cụ thể thường được tổ chức thành một Hội đồng Giám mục. Hội đồng Giám mục là nơi quy tụ các vị lãnh đạo Giáo Hội trong một quốc gia hay một lãnh thổ để hợp nhất với nhau thi hành mục vụ theo thể cách và phương thức thích hợp với hoàn cảnh. Các giáo phận lại được phân thành rất nhiều cộng đoàn nhỏ được gọi là giáo xứ(hay xứ đạo, họ đạo), mỗi giáo xứ có một hoặc nhiều linh mục, phó tế lãnh đạo dưới quyền của giám mục. Giáo xứ là đơn vị có trách nhiệm trực tiếp cử hành thánh lễ, các bí tích và mục vụ cho giáo dân Công giáo.

    Các giáo phận, giáo xứ và dòng tu

    Mọi giáo dân đều có thể gia nhập vào đời sống tu trì tại các dòng tu. Các giáo dân nam giới còn có quyền học tập để được thụ phong thành linh mục. Mọi tu sĩ Công giáo thường phải thực hiện theo ba lời khuyên trong Phúc Âm là: khó nghèo, khiết tịnh và vâng phục. Các dòng tu nổi tiếng là: Dòng Biển Đức,Dòng Cát Minh, Dòng Đa Minh, Dòng Phanxicô, Dòng Thừa Sai Bác Ái, Dòng Tên…

    Hàng Giáo phẩm

    Giáo hội Công giáo có tổ chức phẩm cấp, mỗi cấp có người trị sự được Giáo hội chỉ định với ba chức thánh sau: giám mục, linh mục và phó tế. Các chức danh giáo sĩ đó đều phải cam kết sống độc thân.

    • Giám mục: là những người kế vị các thánh Tông đồ, các vị này có đầy đủ quyền năng và uy phong như nhau, kể cả giáo hoàng. Nhưng vì giáo hoàng là vị tông đồ “trưởng” – là vị thủ lãnh các tông đồ nên có quyền quyết định cao hơn mà thôi. Giám mục chính tòa là người lãnh đạo một giáo phận với lãnh thổ tương đương với cấp tỉnh, thành phố của một quốc gia. Các giám mục được quyền tấn phong một linh mục làm giám mục khi đã được giáo hoàng ủy quyền, truyền chức linh mục cũng như phó tế và cử hành mọi bí tích. Các giám mục lãnh đạo giáo phận lớn hoặc giữ chức vụ quan trọng thường được phong lên danh hiệu là tổng giám mục. Thông thường, các giám mục phải thực hiện chuyến đi visita ad limina theo định kỳ để trình bản báo cáo về giáo phận của mình lên giáo hoàng .
    • Linh mục: là những người phụ giúp cho giám mục trong việc phục vụ và quản trị giáo hội địa phương. Các linh mục phải được xác định thuộc thẩm quyền của giám mục nào. Linh mục Công giáo luôn luôn là nam giới, và chưa hề có ngoại lệ cho phụ nữ. Các linh mục được cử hành thánh lễ cũng như các bí tích khác khi có chuẩn y của giám mục. Nếu là linh mục triều thì thường cai quản một giáo xứ trong giáo phận, còn linh mục dòng thì sống trong nhà dòng hoặc làm công việc truyền giáo. Khi hội đủ những điều kiện cần và đủ thì một linh mục, qua sự đề cử của giám mục trên quyền, có thể được giáo hoàng chọn làm giám mục. Các linh mục có công lao lớn cho giáo hội thường được phong danh hiệu đức ông.
    • Phó tế: là những người dưới cấp linh mục và thông thường thì mọi phó tế sẽ được phong làm linh mục (ngoại trừ chức phó tế vĩnh viễn).

    Danh hiệu hồng y do giáo hoàng phong cho những giám mục (trường hợp đặc biệt là linh mục) có vai trò, vị trí hoặc đóng góp lớn cho Giáo hội Công giáo. Ngoài ra còn có các thừa tác viên phụng vụ. Từ Công đồng Vatican II, Giáo hội cho phép những người trưởng thành dù đã kết hôn được phong chức thừa tác viên vĩnh viễn. Họ có thể đảm nhận vai trò đọc Phúc âm, dạy giáo lý, phụ tá rửa tội, dẫn dắt phụng vụ, làm chứng hôn phối, hướng dẫn nghi thức tang lễ…

    (Theo Wikipedia)

    ——————————————

    Bảy điều cần biết về cuộc bầu chọn Đức Tân Giáo Hoàng

Người đăng: hoctran | 12.03.2013

Thứ ba, ngày 12.3.2013, 115 vị Hồng Y đã từ khắp nơi trên thế giới trở về Roma sẽ chính thức nhóm họp ở Nhà Nguyện Sixtine tại Vatican để bầu chọn vị Tân Giáo Hoàng, Đấng Kế Vị Đức Bênêđíctô XVI, mà người ta gọi là Cơ Mật Viện, tiếng Latinh là “Conclave“. Đây là một biến cố thời sự trọng đại bậc nhất trong những ngày này, đã thu hút không những sự quan tâm, hồi hộp lẫn lo âu của các tín hữu Công Giáo mà còn của cả thế giới nữa.

Nhưng thiết tưởng có bảy điều về cuộc bầu chọn Giáo Hoàng này chúng ta biết, đó là:

1) Conclave nghĩa là gì? “Conclave” (tiếng Latinh) có nghĩa là căn phòng khóa kín. Từ Conclave được ghép lại bởi hai từ “cum” và “clave”: “Cum clave” và có nghĩa là “với chìa khoá”, tức căn phòng tại Nhà Nguyện Sixtine, nơi các vị Hồng Y nhóm họp để bầu Đức Tân Giáo Hoàng sẽ được khóa lại bằng chìa khóa trong suốt thời gian bầu chọn này. Tất cả mọi liên lạc với thế giới bên ngoài hoàn toàn bị cấm ngặt, ai sai phạm sẽ bị phạt dứt phép thông công, tức bị loại ra khỏi Giáo Hội Công Giáo.

2) Tất cả các Hồng Y sẽ trọ ở đâu trong suốt cuộc bầu chọn này? Các vị Hồng Y sẽ trọ tại nhà nghỉ Santa Marta trong khuôn viên Vatican. Các phòng ngủ của nhà nghỉ Santa Marta chỉ được trang bị các tiện nghi vừa đủ và không đồng đều, và các vị Hồng Y sẽ không được tự chọn hay được phân chia phòng nghỉ cho mình, nhưng sẽ được bắt thăm: ai trúng phòng nào thì nhận phòng ấy.

3) Cuộc bầu chọn Đức Tân Giáo Hoàng sẽ diễn ra như thế nào? Cuộc bầu chọn Đức Tân Giáo Hoàng sẽ được bắt đầu bằng Thánh Lễ tại đền thờ Thánh Phêrô. Sau đó vào lúc 16 giờ 30 các Đức Hồng Y sẽ đi tới Nhà Nguyện Sixtine để bắt đầu cuộc bầu chọn Đức Tân Giáo Hoàng, và các ngài chỉ được liên lạc với thế giới bên ngoài sau khi đã bầu chọn được vị Tân Giáo Hoàng mà thôi. Cuộc bầu chọn được diễn ra bằng cách bỏ phiếu kín và không được phép bỏ phiếu trắng. Sau 13 lần bỏ phiếu mà không vị nào hội đủ hai phần ba số phiếu của các Hồng Y hiện diện để trở thành Tân Giáo Hoàng, thì cuộc bầu chọn sẽ dừng lại một ngày để các Hồng Y cầu nguyện xin ơn Chúa Thánh Thần soi sáng.

4) Làn khói trắng bốc lên ở ống khói Nhà Nguyện Sixtine có ý nghĩa gì? Mỗi ngày các vị Hồng Y sẽ bỏ phiếu hai lần. Người ta sẽ sử dụng chất hóa học để pha màu khi đốt các lá phiếu mà các vị Hồng Y đã bầu: Khi từ ống khói Nhà Nguyện Sixtine bốc lên màu trắng thì báo hiệu cho biết là đã bầu được Đức Tân Giáo Hoàng, còn nếu là khói đen thì cuộc bầu chọn còn phải tiếp tục.

5) Người ta có thể dự đoán khi nào thì có kết quả? Theo cha Federico Lombardi, phát ngôn viên Tòa Thánh, thì kết quả cuộc bầu chọn Tân Giáo Hoàng lần này sẽ nhanh chóng, có thể vào ngày thứ 5 hay ngày thứ 6 tuần này sẽ có Đức Tân Giáo Hoàng.

6) Ai là người chịu trách nhiệm về việc tổ chức cuộc bầu chọn này? Đức Hồng Y Tarcisio Bertoni, Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh và Niên Trưởng Hồng Y đoàn, sẽ chịu trách nhiệm về công việc tổ chức và điều khiển Cơ Mật Viện bầu Đức Tân Giáo Hoàng.

7) “Căn phòng nước mắt” là gì? Bên cạnh Nhà Nguyện Sixtine có một phòng nhỏ để vị Hồng Y vừa được bầu chọn làm Tân Giáo Hoàng thay phẩm phục đỏ Hồng Y và mặc áo trắng Giáo Hoàng. Tại đây, khi ý thức được trách nhiệm vô cùng nặng nề làm đại diện cho Đức Kitô ở trần gian này để lèo lái con thuyền Giáo Hội mà Thiên Chúa đã đặt lên vai mình qua sự bầu chọn của các vị Hồng Y, Đức Tân Giáo Hoàng sẽ vô cùng bồi hồi, lo lắng và sợ hãi, khiến nhiều vị đã phải rơi lệ, có vị còn bị ngất xỉu như trường hợp Đức Piô XII.

Các Kitô hữu Công Giáo chúng ta không chỉ hồi hộp và tò mò chờ đợi ai sẽ là Tân Giáo Hoàng sắp tới, nhưng chúng ta hãy sốt sắng thêm lời cầu nguyện cho Giáo Hội, cho các vị Hồng Y đang tham sự Cơ Mật Viện bầu chọn Đức Tân Giáo Hoàng, để Đức Chúa Thánh Thần soi sáng và hướng dẫn các ngài bầu chọn cho Giáo Hội một Vị Cha Chung hoàn toàn thuận theo thánh ý Chúa.

Lm. Nguyễn Hữu Thy.

———————————————

Đội cận vệ của Giáo hoàng tại tòa thánh Vatican – Ảnh: Ctkri.org

Ăn mặc có phần hơi màu mè, đi kè kè bên Đức Giáo hoàng để bảo vệ Ngài, đó là những thành viên tinh nhuệ của Đội cận vệ Thụy Sĩ. Trong hơn 5 thế kỷ qua, họ luôn xuất sắc hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ các Giáo hoàng và ít khi để xảy ra những việc đáng tiếc.

Đội cận vệ Thụy Sĩ

Người ta có thể dễ dàng nhận biết các thành viên của Đội cận vệ Thụy Sĩ qua bộ quân phục của thời kỳ Phục hưng có sọc rằn ri, sắc màu sặc sỡ, được trang bị khiên, gươm và mũ sắt có gắn chùm lông đà điểu. Loại quân phục này ra đời vào năm 1548. Riêng trong những dịp lễ đặc biệt tại Quảng trường thánh Phê-rô, họ phải khoác trên người bộ áo giáp sắt, gươm kiếm lủng lẳng nặng tới 30 kg để hộ tống Giáo hoàng. Hằng ngày, nhiệm vụ của họ là canh gác tòa thánh Vatican. Cũng như các cận vệ Nhà trắng (Mỹ) và Điện Buckingham (Anh), Đội cận vệ Thụy Sĩ là những người lính cừ khôi, đã trải qua các khóa huấn luyện kỹ càng. Họ vốn là đội lính đánh thuê tại các nước châu Âu hồi thế kỷ 15 theo các hiệp ước ngoại giao do chính phủ Thụy Sĩ ký kết.

Trung thành tuyệt đối

Đội cận vệ Thụy Sĩ chính thức đảm nhận công việc bảo vệ Giáo hoàng vào ngày 22.1.1506. Hành động can trường nhất của đội quân này là đã anh dũng cứu thoát cố Giáo hoàng Clement VII khỏi gọng kìm tấn công của binh lính Tây Ban Nha vào ngày 6.5.1527. Tổng cộng 147 cận vệ đã hy sinh trong thảm kịch này. Truyền thống bảo vệ Đức Giáo hoàng đến cùng vẫn còn được giữ vững đến hôm nay. Bất cứ ai trước khi gia nhập Đội cận vệ Thụy Sĩ (gồm 100 người) đều phải tuyên thệ trung thành với Tòa thánh Vatican.

Nói đến lòng trung thành với Giáo hoàng cũng không thể không nhắc đến sự xả thân của cận vệ A.Estermann. Vào ngày 13.5.1981, M.Ali Agca – một tay súng người Thổ Nhĩ Kỳ – đã nã đạn vào cố Giáo hoàng J.Paul II khi Ngài đang ngồi trên xe mui trần đi qua Quảng trường Thánh Phê-rô nhằm mưu sát Ngài. Ngay lập tức, Estermann đã lấy thân mình che chở cho cố Giáo hoàng trong suốt khoảng thời gian đưa Ngài đến bệnh viện. Giáo hoàng J.Paul II may mắn thoát chết. Riêng Estermann lập tức trở thành một vị anh hùng và sau đó được bổ nhiệm làm thủ lĩnh Đội cận vệ Thụy Sĩ.

Điều kiện gắt gao

Cũng như những đội quân tinh nhuệ khác, điều kiện gia nhập Đội cận vệ Thụy Sĩ không dễ dàng chút nào. Ứng viên phải là người đã được huấn luyện quân sự cơ bản tại quân đội Thụy Sĩ, đạt giấy chứng nhận có hạnh kiểm tốt và thông thạo 5 ngoại ngữ. Ngoài ra, đó cũng phải là người Công giáo, có quốc tịch Thụy Sĩ, độc thân và tuổi từ 19-30, có vóc dáng dễ nhìn với chiều cao ít nhất phải từ 1,72m trở lên. Nếu thỏa mãn tất cả những điều kiện cam go trên thì ứng viên mới hy vọng trúng tuyển. Một khi trở thành thành viên của Đội cận vệ Thụy Sĩ, họ phải học cách sử dụng các loại vũ khí cổ xưa như khiên, kiếm cũng như các loại vũ khí hiện đại như súng lục SIG Sauer 9 mm và súng tiểu liên H&K. Họ cũng phải tập luyện chăm chỉ để phát triển các kỹ năng phối hợp đồng đội, những chiến thuật di chuyển an toàn cũng như kỹ thuật chống khủng bố. Ngoài ra, họ phải tuyên thệ giữ lời thề trung thành với Đức Giáo hoàng cho dù phải hy sinh tính mạng và lặp lại lời thề này hằng năm vào ngày 6.5 (kỷ niệm ngày mất của 147 cận vệ hy sinh khi bảo vệ Giáo hoàng Clement VII ). Họ phải cam kết phục vụ giáo hoàng từ 2-25 năm và chấp nhận mức lương chỉ khoảng 1.000 USD/tháng.(Guardian, Wikipedia)

Châu Yên

Đức Giáo hoàng Benedict XVI khiêm tốn’

Đoàn Xuân Lộc

Gửi cho BBC từ Global Policy Institute, London

Cập nhật: 15:22 GMT – thứ ba, 12 tháng 2, 2013

Tuyên bố thoái vị của Đức Giáo hoàng Benedict XVI tại Công nghị hồng y đoàn ở Vatican sáng thứ Hai (11/02) đã làm thế giới nói chung và người Công giáo nói riêng ngỡ ngàng.

 Bất ngờ và sửng sốt vì đây là lần đầu tiên sau gần 600 năm kể từ khi Đức Giáo hoàng Gregory XII từ chức vào năm 1415, một vị giáo hoàng đương chức từ nhiệm.

Kinh ngạc và nếu không muốn nói là sốc vì không một ai – kể cả những người thân cận và cộng sự của Ngài tại Vatican – có thể đoán hay biết trước được quyết định hệ trọng này.

Trong lời đáp từ của mình sau khi Đức Giáo hoàng Benedict XVI đọc tuyên bố từ nhiệm, Đức Hồng y Angelo Sodano, niên trưởng Hồng y đoàn, nói cả giáo triều Roma sửng sốt trước quyết định ấy. Nó đã “vang lên trong Hội trường này như một tiếng sấm giữa trời thanh quang. Chúng con ngỡ ngàng khi nghe sứ điệp ấy, như thể không tin được”.

Vậy đâu là lý do Đức Thánh Cha Benedict XVI lấy một quyết ‘rất quan trọng’ không chỉ đối với cá nhân Ngài mà cả ‘đối với đời sống Giáo Hội’ như vậy?

‘Tuổi cao, không còn thích hợp’

“Sau nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự xác tín rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp để thi hành sứ vụ Giáo hoàng một cách thích đáng nữa.”

Trong bản tuyên bố thoái vị của mình, Đức Thánh cha nói rằng “sau nhiều lần xét mình trước mặt Thiên Chúa, tôi đã đi tới sự xác tín rằng sức lực của tôi, vì tuổi cao, không còn thích hợp để thi hành sứ vụ Giáo hoàng một cách thích đáng nữa”.

Vì theo Ngài để chu toàn sứ vụ đó, đặc biệt trong một thế giới đầy chuyển biến và luôn bị dao động trước những vấn đề có ảnh hưởng lớn đối với đời sống đức tin, “cần có nghị lực cả thể xác lẫn tinh thần”.

Nhưng “nghị lực của tôi trong vài tháng qua đã xấu đi, đến mức mà tôi phải thừa nhận mình không có khả năng thi hành tốt sứ vụ được giao phó”.

Với một quyết định rõ ràng, khiêm tốn và được chính Ngài cầu nguyện, suy nghĩ nhiều như vậy, dù bất ngờ và ngạc nhiên, phản ứng chung của dư luận – trong đó có nhiều lãnh đạo thế giới và các tôn khác cũng như mọi thành phần khác nhau trong Giáo hội – đều tích cực. Xem ra ai cũng trân trọng đón nhận quyết định ấy và coi đó là một cử chỉ đầy can đảm.

Đúng vậy, có thể nói không có chức vụ nào đòi hỏi nhiều thời gian, sức lực, tâm trí như chức vị Giáo hoàng.

Trong thế giới nhiều biến động

Là người kế vị Thánh Phêrô, ngoài công việc quản trị Giáo hội, Đức Giáo hoàng có sứ vụ dẫn dắt, chăm lo đời sống tinh thần, thiêng liêng cho toàn Giáo hội. Đó không phải là một việc dễ dàng vì Giáo hội có đến hơn một tỷ người, lại thuộc nhiều nền văn hóa, đời sống chính trị, xã hội, kinh tế khác nhau.

Những thách đố mà người Công giáo Việt Nam đang phải đương đầu khác hẳn với những vấn nạn của những người tín hữu đang sống tại các nước châu Âu hay Nam Mỹ hoặc Phi châu.

Dù là một ‘quốc gia’ nhỏ, Vatican có quan hệ chính thức hay không chính thức với hầu hết các quốc gia, tổ chức quốc tế trên thế giới.

Việc đón tiếp, đối thoại với những nhà lãnh đạo khác nhau – từ tổng thống của một cường quốc dân chủ như Mỹ đến tổng bí thư của một đảng cộng sản như Việt Nam – đòi hỏi không chỉ thời gian, sức khỏe mà cần có sự am hiểu tình hình cụ thể của mỗi nước, mỗi hoàn cảnh.

Là lãnh đạo một tôn giáo lớn, vấn đề đối thoại với các tôn giáo khác cũng là một công việc quan trọng và đòi hỏi nhiều thiện chí và phải biết cân nhắc từng lời nói, cử chỉ nếu không sẽ tạo hiểu lầm, gây tranh cãi.

“Biết đâu quyết định hôm nay của Ngài sẽ tạo tiên đề để người kế nhiệm Ngài có những thay đổi hệ trọng giúp Giáo hội làm chứng và loan báo Tin Mừng một cách thích hợp hơn?”

Đoàn Xuân Lộc

Vì nhu cầu mục vụ, vì muốn đến gặp gỡ, nâng đỡ con cái mình ở khắp năm châu và cũng vì được mời gọi dấn thân, cộng tác với các quốc gia, tổ chức khác nhau trong việc kiến tạo một thế giới hòa bình, nhân ái hơn, người đứng đầu Giáo hội cũng phải có những chuyến công du xa, dài ngày. Với một người ở tuổi 85 đó không phải là một chuyện dễ dàng.

Được bầu lên ngôi Giáo hoàng ở tuổi 78 và trong hơn bảy năm vừa qua, Giáo hội phải đương đầu với nhiều thách thức và trước một thế giới nhiều biến động, phức tạp, có thể hơn ai hết Ngài nhận ra rằng ở tuổi 85, Ngài không còn đủ nghị lực để chu toàn sứ vụ được trao phó cho mình.

Hơn nữa, Ngài cũng là một người rất khiêm nhường, nhạy cảm và thực tế. Do đó, Ngài hiểu ra và dám thừa nhận những giới hạn do tuổi tác gây nên.

Một yếu tố khác ít hay nhiều tác động đến chọn lựa của Ngài là Ngài rất gần gũi với Đức Giáo hoàng Jean Paul II – người đã phải đối diện với nhiều khó khăn trong công việc mục vụ trong những năm cuối đời vì bệnh tật và tuổi tác. Và có thể vì không muốn mình và cả Giáo hội rơi vào trường hợp tương tự, Ngài đã quyết định từ nhiệm.

Một số người coi Ngài là một người bảo thủ. Nhưng việc Ngài quyết định thoái vị, chấm dứt một truyền thống đã có hàng trăm năm cho thấy Ngài không phải là một nhà lãnh đạo tôn giáo bảo thủ. Trái lại, Ngài là con người có đầu óc cải cách.

Biết đâu quyết định hôm nay của Ngài sẽ tạo tiên đề để người kế nhiệm Ngài có những thay đổi hệ trọng giúp Giáo hội làm chứng và loan báo Tin Mừng một cách thích hợp hơn?

Đã có chỉ dấu từ nhiệm?

Dù ngạc nhiên và không thể đoán trước được quyết định ngày hôm nay của Đức Giáo hoàng Benedict XVI. Nhưng nếu nhớ lại một số cử chỉ, hoạt động của Ngài trong thời gian qua, ít hay nhiều có thể thấy rằng quyết định ấy không phải hoàn toàn đến một cách bất ngờ.

Có không ít dấu chỉ cho thấy Ngài đã nghĩ tới cũng như chuẩn bị cho quyết định này từ trước.

Một bài viết của Dominique Greiner trên La Croix – một trong những tờ nhật báo lớn của Pháp – hôm 11/02 bình luận rằng, trong những tháng vừa qua Ngài đã cố gắng giải quyết dứt khoát những hồ sơ phức tạp – như vấn đề lạm dụng tính dục nơi một số linh mục – để giúp người kế nhiệm mình không còn phải bận tâm nhiều về những vấn đề đó.

Cũng theo bài viết này năm 2012, Ngài đã hai lần tấn phong hồng y và đây có thể là một dấu chỉ cho thấy Ngài đang chuẩn bị cho một mật nghị hồng y hay mật viện bầu Giáo hoàng.

“Người ta có thể từ chức trong một lúc thanh thản, hoặc khi không thể tiếp tục được nữa, chứ không thể tháo lui trong lúc nguy hiểm và nói ‘để cho người khác lo'”

Đức Giáo hoàng Benedict XVI

Trong cuộc phỏng vấn dành cho ký giả Peter Seewald người Đức năm 2010, khi được hỏi có bao giờ Đức Thánh Cha nghĩ đến việc từ chức hay không, Ngài đã trả lời rằng “khi có nguy hiểm thì không thể bỏ chạy, vì thế đây không phải là lúc từ chức [Ngài ám chỉ đến vấn đề lạm dụng tính dục và một hồ sơ phức tạp khác Giáo hội phải đương đầu lúc đó]. Chính trong lúc như thế cần phải đối diện và vượt thắng những khó khăn ấy”.

Vì theo Ngài, “người ta có thể từ chức trong một lúc thanh thản, hoặc khi không thể tiếp tục được nữa, chứ không thể tháo lui trong lúc nguy hiểm và nói ‘để cho người khác lo’”.

Điều đó cho thấy chuyện Ngài từ nhiệm là hoàn toàn có thể xảy ra, đặc biệt khi Ngài thấy không thể tiếp tục hay khi đã giải quyết xong những khó khăn Ngài phải đối diện.

Trong bài viết của mình Dominique Greiner cho rằng Ngài là một người tôi trung (serviteur fidèle) và luôn đón nhận sứ vụ của mình với một niềm tin tưởng phó thác tuyệt đối. Và cũng với niềm tin, phó thác ấy Ngài đã cảm nhận được rằng sứ vụ của mình nay đã hoàn tất và đây là lúc để Ngài thoái lui.

Một chi tiết đáng lưu ý khác là vào tháng Tư năm 2009, khi đến thăm L’Aquila sau trận động đất, Ngài đã đến cầu nguyện trước hài cốt của Thánh Celestine V – người được bầu làm Giáo hoàng vào năm 1294 khi ở tuổi 84 nhưng xin từ chức năm tháng sau đó vì cảm thấy mình không hợp với chức vụ ấy và sau đó sống cuộc sống ẩn dật, chiêm niệm, cầu nguyện.

Một cử chỉ gây chú ý lúc đó là việc ĐGH Benedict XVI đặt dây pallium mà Ngài mang trong ngày Ngài được tấn phong Giáo hoàng lên hòm chứa đựng di thể của Thánh Celestine V.

Vào tháng 7 năm 2010, nhân dịp kỷ niệm ngày sinh nhật của Thánh Celestine V, Ngài cũng đã đến thăm Sulmona, quê hương của thánh nhân.

Trong bài giảng hôm đó Ngài mời gọi giáo dân noi gương đời sống đơn sơ, khổ hạnh của Thánh Celestine V.

Những cử chỉ cho thấy Ngài rất mến mộ đời sống khiêm nhường, thánh thiện của Thánh Celestine V và cũng là dấu chỉ cho thấy Ngài muốn lấy một quyết định tương tự như người tiền nhiệm của mình đã làm cách đây hơn 600 năm.

Quan tâm tới Việt Nam

Cũng giống như Đức Giáo hoàng Jean Paul II, được biết Đức Giáo hoàng Benedict XVI cũng đã từng mong ước được đến thăm Việt Nam.

Và có thể nói trong thời Ngài làm Giáo hoàng, quan hệ giữa Vatican và nhà nước Việt Nam được cải thiện hơn.

Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng vừa có chuyến viếng thăm Vatican và tiếp kiến Đức Giáo hoàng Benedict XVI trong tháng 1/2013

Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên gặp một lãnh đạo cao cấp của chính quyền Cộng sản Việt Nam khi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tới thăm Vatican vào năm 2007.

Hai năm sau đó, Ngài tiếp Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết ở Vatican và mới đây Ngài cũng đón tiếp Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.

Như vậy, trong hơn bảy năm tại vị, Ngài đã đón tiếp đến ba nhân vật chóp bu của chính quyền Việt Nam. Có thể nói hiếm có một quốc gia nào mà Ngài tiếp đón nhiều lãnh đạo cao cấp như vậy trong thời gian qua.

Dưới thời Ngài, Tòa Thánh cũng cố gắng – nếu không muốn nói là có chút nhân nhượng – để cải thiện quan hệ với chính quyền Việt Nam, tiến tới việc thiết lập quan hệ ngoại giao.

Nhưng với quyết định từ chức này, không chỉ Ngài không thể đến Việt Nam như mong ước mà những cố gắng, thiện chí nhằm nối quan hệ ngoại giao của Vatican trong những năm vừa qua cũng không trở thành hiện thực dưới triều đại của Ngài.

Có thể nói Vatican chưa đạt được những gì mong muốn trong những cố gắng cải thiện quan hệ với nhà nước Việt Nam.

Nhưng đối với chính quyền Việt Nam, chắc họ rất hài lòng về quan hệ với Vatican trong những năm vừa qua.

Không biết họ có hiểu trọn câu nói “một giáo dân tốt là một công dân tốt” – một lời nhắn nhủ đó của Đức Giáo hoàng Benedict XVI đối với giáo dân Việt Nam – nhưng xem ra câu nói ấy luôn được quan chức Việt Nam nhắc đến khi đề cập đến giáo dân Việt Nam hay quan hệ giữa Nhà nước và Giáo hội.

Được biết Đức Giáo hoàng Benedict XVI cũng đã có một cuộc gặp riêng với ông Nguyễn Phú Trọng khi phái đoàn của ông tới thăm Vatican.

Chưa biết Đức Giáo hoàng nói gì với ông trong lúc đó, nhưng là người đã trực tiếp trao đổi với Đức Giáo hoàng ít hay nhiều chắc ông cũng suy nghĩ về quyết định thoái vị của Ngài.

Qua việc Ngài khiêm tốn thừa nhận những giới hạn của mình và chấp nhận rút lui, bất chấp một thông lệ tồn tại đến 600 năm, vì cảm thấy mình không còn thích ứng cho sứ vụ được giao phải chăng Ngài cũng muốn gửi một thông điệp đến những ai ham quyền cố vị hãy biết suy nghĩ, nên xem lại vai trò của mình và từ chức khi nhận ra rằng mình không còn khả năng, không còn thích hợp để lãnh đạo (đất nước hay tổ chức của mình).

Bài viết thể hiện quan điểm và văn phong của tác giả, một trí thức Công giáo hiện làm nghiên cứu tại Viện Global Policy, London.

—————————————-

Vatican – những điều chưa được biết đến

Vatican - những điều chưa được biết đến

Giáo Hoàng Francis I đã trở thành nhà lãnh đạo của thế giới 1,2 tỷ người theo Thiên Chúa giáo và cai trị vùng đất nhỏ nhất thế giới, nằm thọt lỏm trong thành phố Rome, Italia.

Sự tách biệt của Vatican được chính thức công nhận vào năm 1929, sau khi Hiệp đinh Lateran giữa Giáo Hoàng Pius XI và nhà độc tài người Ý Benito Mussolini được ký kết.

Giáo hoàng sẽ lãnh đạo một vùng đất có diện tích chỉ 44ha, nằm giữa trung tâm thành phố Roma, với các cung điện và nhà thờ. Vatican có một trạm xăng, siêu thị và một bưu điện. Hơn 1/3 diện tích của Vatican là một khu vườn khá đẹp.

Thành phố Vatican nhỏ bằng 1/3 diện tích của Monaco, công quốc phía bắc bờ biển Địa Trung Hải, quốc gia nhỏ thứ hai trên thế giới.

Trước năm 1859, các giáo hoàng lãnh đạo một vương quốc trải dài trên 1,8 triệu ha ở miền trung Italia với dân số hơn 3 triệu người. Trong khi dân số hiện tại của Vatican khoảng 600 người, bao gồm các hồng y, các nhà ngoại giao, hiến binh, quân đội Thụy Sĩ và nhân viên trông coi.

Hệ thống tư pháp, gồm ba tòa án dân sự – được dựa trên pháp luật thế kỷ 19 của Ý và hình phạt tử hình chỉ được bãi bỏ vào năm 1960. Nhà nước chế độ giáo hoàng được thành lập để đảm bảo quyền tự do và tinh thần độc lập đối với Giáo hội Công giáo La Mã, sau khi thống nhất nước Ý.

Giáo triều Rome, chính quyền trung ương của Giáo hội Công giáo, bao gồm Ban thư ký nhà nước, 9 hội và 12 hội đồng giáo hoàng.

Vatican cũng có tờ báo chính thức riêng của mình, tờ L’Osservatore Romano, một đài phát thanh, một kênh truyền hình, một bảo tàng, một hiệu thuốc và quân đội riêng – vệ binh Thụy Sĩ – một quân đoàn gồm 110 người được thành lập vào thế kỷ 16.

Nhân viên Vatican được trả lương bằng đồng euro, tuy thấp nhưng chưa bị đánh thuế. Công đoàn không được phép ở Vatican, nhưng chăm sóc sức khỏe miễn phí cho nhân viên Vatican và nhà nước đảm bảo trợ giúp y tế.

Ngân hàng Vatican, Viện Công trình tôn giáo, từng là trung tâm các vụ bê bối tài chính, có máy rút tiền. Ngân hàng xử lý tài sản của các nhà lãnh đạo tôn giáo và giáo sĩ Công giáo. Cơ quan quản lý nằm riêng biệt với Tòa Thánh, nhưng sự giám sát được tiến hành bởi một ủy ban các hồng y – một hệ thống mà hiện tại đang được cải cách khi Vatican cố gắng thực hiện theo các quy tắc quốc tế về chống rửa tiền.

Vatican sử dụng tiếng Latinh làm ngôn ngữ chính cho các tài liệu chính thức của mình. Nhà nước Vatican thuê khoảng 4.700 giáo dân và khoản lương trả cho những người này chiếm phần lớn chi phí hoạt động của họ.

Vatican là một trong những chủ sở hữu tài sản lớn nhất ở Rome. Nguồn lợi thu được từ việc cho vay tài chính, cũng như các khoản đóng góp thường xuyên từ các nhà thờ quốc gia. Giáo hoàng cũng nhận được các khoản thanh toán được gọi là “Pence Peter” – thường dưới hình thức séc hoặc vật có giá trị – từ tín hữu Công giáo trên khắp thế giới.

Trong năm 2011, ngân sách của Vatican thâm hụt 14,9 triệu euro ( 20 triệu USD), đánh dấu báo động đỏ một cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu sau khi thặng dư trong năm 2010.

Theo Minh Anh

QUỐC GIA VATICAN

 (VATICAN CITY STATE)

Quốc gia Vatican là một lãnh thổ đặt dưới quyền của vị giáo hoàng đương nhiệm trị vì. Đây là một nước theo chính thể riêng biệt nhỏ nhất trên thế giới, nằm gọn trong thành phố Roma, thủ đô nước Ý. Nước Vatican có diện tích 0,44km2 gồm thành phố Vatican có tường thành bao bọc và hơn 10 toà nhà khác ngoài thành Vatican, bao gồm những đại thánh đường, văn phòng hành chính các bộ thuộc Giáo triều Roma và biệt thự Castel Gandolfo, nơi giáo hoàng đến nghỉ hè. Trong thành Vatican, có Đền thờ Thánh Phêrô, cung điện giáo hoàng, điện Sixtine, các viện bảo tàng, phòng triển lãm, công viên, thư viện, đài phát thanh, bưu điện, ngân hàng, đài thiên văn, các văn phòng, nhà ở và tiện nghi dịch vụ. Nhà thờ Thánh Anna là nhà thờ xứ của thành Vatican.

Thành phố Vatican nhỏ bé hiện nay là mảnh sót lại của một quốc gia rộng lớn được các vua chúa dâng cúng hay nhượng lại, bao gồm cả miền Bắc Ý và Trung Ý từ thế kỷ VIII. Sau nhiều thăng trầm trong lịch sử, lãnh thổ rộng lớn bị các nước như Pháp (1798-1815), Ý (1859-1870) chiếm đóng. Các vị giáo hoàng dần dần từ bỏ thế quyền và lãnh thổ, để chỉ giữ lại thành phố Vatican. Hiệp ước Lateran (1929) ký kết giữa giáo hoàng với nước Ý, công nhận thành phố Vatican là một nước độc lập theo công pháp quốc tế.

Về tổ chức chính quyền. Vị giáo hoàng tại chức nắm trọn quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Tuy nhiên, ngài trao quyền điều hành cho Uỷ ban Giáo hoàng điều hành thành phố Vatican. Người đứng đầu Uỷ ban này hiện nay là Hy. Edmund Casimir Szoka và tổng thư ký là Gm. Gianni Danzi. Hiến pháp Vatican dựa trên Bộ Giáo luật. Trường hợp nào không được Giáo luật đề cập tới, sẽ do Bộ Dân luật của thành Vatican quy định.

Dân số chính thức của nước Vatican khoảng 1.000 người, phần lớn là các linh mục, tu sĩ và vài trăm giáo dân sống trong thành Vatican. Họ là những nhân viên văn phòng của các cơ quan. Ngoài ra, còn có khoảng hơn 3.000 linh mục, tu sĩ, giáo dân được tuyển để phục vụ trong các cơ quan hành chính của Giáo Hội.

Vatican không có quân đội riêng. Chỉ có một đội vệ binh Thuỵ Sĩ danh dự bảo vệ an ninh cho giáo hoàng. Ngoài ra, có một đội cảnh sát và đội lễ nghi do một văn phòng đặc biệt điều động cho các ngày lễ lớn.

Quốc kỳ Vatican: gồm 2 sọc đứng màu vàng và trắng bằng nhau, có huy hiệu của giáo hoàng trên sọc trắng. Huy hiệu đó là hình chiếc mũ triều thiên 3 tầng, dưới là hai chìa khoá một vàng, một bạc, được thắt lại bằng dây băng đỏ có tua chỉ hai đầu. Mũ triều thiên 3 tầng tượng trưng cho quyền giáo huấn, thánh hoá và cai quản. Chìa khoá tượng trưng cho quyền tài phán của giáo hoàng.

Đài phát thanh Vatican (Vatican Radio) được chính nhà bác học Guglielmo Marconi, người phát minh ra làn sóng điện, vẽ kiểu xây dựng và điều hành cho đến khi ông qua đời. Đài phát những chương trình ra khắp thế giới bằng 37 ngôn ngữ khác nhau.

Thư viện Vatican là kho tàng văn hoá – văn minh vô giá của cả nhân loại. Thư viện hiện lưu giữ 150.000 bản thảo, 1 triệu cuốn sách in và 7.500 bản in thủ công rất quý giá trước năm 1501.

Trong các sách báo xuất bản của Vatican, người ta lưu ý tới Acta Apostolicae Sedis (các Văn kiện Tông Toà). Đây là một loại công báo của Toà Thánh ghi lại các hoạt động, các văn kiện của Toà Thánh cũng như của các cơ quan giáo triều Roma. Lần xuất bản đầu tiên là vào tháng giêng năm 1909. Tiền thân của nó là Acta Sanctae Sedis (các Văn kiện Toà Thánh) có từ năm 1865.

Annuario Pontificio (Niên Giám Giáo Hoàng). Đây là loại niên giám của Toà Thánh do Văn phòng Thống kê Trung ương thực hiện hàng năm bằng tiếng Ý, xuất hiện từ năm 1860.

L’Osservatore Romano (Người quan sát Roma). Tờ nhật báo này xuất bản từ 1-7-1861, khởi đầu chỉ do 4 giáo dân thực hiện dưới sự điều hành của Marcantonio Pacelli. Đến năm 1890 mới trở thành nhật báo của giáo hoàng. Từ năm 1949, có bản phát hành hàng tuần bằng tiếng Pháp, tiếng Ý(1950), tiếng Anh (1968), Tây Ban Nha (1969), Bồ Đào Nha(1970), Đức (1971), Ba lan (1980).

   Hoạt động ngoại giao của Toà Thánh. Trong số 192 nước trên thế giới, Toà Thánh có liên lạc ngoại giao với 175 nước, không kể các đại diện của các tổ chức lớn khác như Liên hiệp châu Âu hay Liên bang Nga và các tổ chức quốc tế khác (x. Niên Giám Toà Thánh 2003, tr. 1.133-1.184).

Các vị đại diện giáo hoàng khi là đại sứ chính thức của một quốc gia hay chính phủ sẽ được gọi là sứ thần (nuncio). Do lịch sử lâu đời về mặt ngoại giao, vị sứ thần ở một số nước đóng vai trò Trưởng Ngoại giao đoàn. Nếu vị đại diện không có nhiệm vụ ngoại giao, nhưng làm nhiệm vụ đại diện giáo hoàng đối với giáo hội địa phương, sẽ được gọi là Khâm sứ (Delegate) Toà Thánh. Bên cạnh Toà Thánh cũng có đại sứ của các nước và các tổ chức đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Toà Thánh.

Vatican – Quốc gia nhỏ nhất thế giới

Thuở xa xưa, trung tâm tín ngưỡng phương Tây ngày nay là một khu nghĩa địa. Trải qua gần 2.000 năm lịch sử, Vatican hiện là nước có diện tích nhỏ nhất thế giới, nhưng cũng là một trong những quốc gia có quyền lực lớn nhất.

Thành phố Vatican nằm trên một khu đất mà người La Mã xưa vẫn gọi là Mons Vaticanus. Các giáo hoàng bị mất quyền lực chính trị ở Rome và các khu vực chung quanh khi nước Italy thống nhất (1861 – 1870). Thời kỳ này họ tự gọi mình là “những tù nhân Vatican”. Sau đó, chính quyền Mussolini công nhận thành phố Vatican là một quốc gia độc lập theo Hiệp ước Lateran 11/2/1929.

Nơi đây có một nền kinh tế phi thương mại độc nhất vô nhị, chủ yếu do các khoản quyên góp của người Thiên Chúa giáo La Mã trên khắp thế giới (thường được biết dưới cái tên đồng xu của thánh Peter) cũng như thu nhập từ bán tem, các ấn phẩm, đồ lưu niệm cho khách du lịch, phí vào các viện bảo tàng. Ngân sách vào khoảng 200 triệu USD.

Trên địa hình dạng đồi thấp, diện tích Vatican chỉ vẻn vẹn chưa đầy 44 ha, lọt thỏm trong thành Rome. Bao chung quanh là những bức tường hàng trăm tuổi. Đường biên giới dài chừng 3,2 km. Độc lập là đặc tính thế tục quan trọng nhất của Vatican vì nó bảo vệ Giáo hoàng khỏi áp lực của bên ngoài.

Lực lượng lao động vào khoảng 4.000 người. Với một lượng dân số nhỏ, chừng 900 người, Vatican có tất cả mọi thứ mà một quốc gia phải có: cảnh sát, một tờ báo, đài truyền hình và phát thanh, ga xe điện, dịch vụ bưu chính, thậm chí có cả một cái bếp riêng để nấu súp cho người nghèo.

Và Vatican có lẽ là đất nước duy nhất trên thế giới, nơi mà máy rút tiền tự động đưa ra những lời chỉ dẫn bằng tiếng Latinh. Ngoài thành phố Vatican, 13 tòa nhà ở Rome và lâu đài Gandoflo (nơi nghỉ hè của Giáo hoàng) cũng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao.

Những bí mật được cất giấu

Những câu chuyện về 264 giáo hoàng suốt gần 2.000 năm qua đủ để lấp đầy 50 km chiều dài các giá sách ở kho tư liệu bí mật của Vatican. Không chỉ thế, nơi đây còn cất giữ những tài liệu có tính bước ngoặt trong lịch sử phương Tây.

Tại đây, có cả những bản viết tay tường trình việc xét xử nhà bác học đại tài Galileo – người bất chấp quan điểm của Giáo hội, dám tuyên bố trái đất quay quanh mặt trời. Phải mất 350 năm sau, Giáo hội La Mã mới xem xét lại vụ này một cách cặn kẽ. Ngoài ra, còn có đơn xin của vua Anh Henry VIII (1491-1547) muốn hủy bỏ cuộc hôn nhân với Catherine d’Aragon. Kèm theo có dấu của 85 linh mục và quý tộc ở nước Anh. Tuy nhiên, đề nghị này bị chối từ.

Tức giận, Henry tự tách khỏi Rome và tuyên bố mình là người đứng đầu nhà thờ Anh giáo mới (năm 1534). Còn gần 300 năm trước đó, hoàng đế Mông Cổ đã gửi thư cảnh báo, nếu Vatican muốn duy trì được hòa bình thì Giáo hoàng và các hồng y giáo chủ của ông phải đến tiếp kiến ông ta tại cung điện ở Mông Cổ. Yêu cầu này cũng bị chối từ.

Một số tài liệu đã dần dần mục nát và những người làm công tác bảo tồn phải chạy đua với thời gian. Trong phòng bảo tồn, họ đang cẩn thận số hóa các tài liệu quý, chẳng hạn như một trong những bức thư còn sót lại do chính nhà điêu khắc trứ danh Michelangelo viết. Trong đó, ông than phiền với một giám mục rằng những người gác cửa ở nhà thờ St Peter chưa được trả công đã gần 3 tháng nay. Michelangelo tỏ ý lo ngại là họ sẽ bỏ đi và gây ra một vụ tai tiếng lớn mà ông không muốn dây vào.

Gần 500 năm sau khi những bức thư này được viết ra, chất sắt trong mực viết của Michelangelo đã biến thành chất cặn mòn. Nhiều nét mực trở thành những vết rạch nhỏ trên trang giấy. Bất lực trước quá trình ăn mòn, các nhà bảo tồn hy vọng có thể lưu giữ được những gì còn sót lại. Nếu không nhờ những cố gắng bảo tồn và chiến dịch số hóa, ký ức nghìn năm của thế giới có thể đã bị mất vĩnh viễn từ lâu.

Ngoài ra, hiện kho tư liệu bí mật còn ẩn giấu những điều chưa được biết đến về vai trò thực sự của Giáo hoàng Pius XII trong Thế chiến II. Cho đến nay, vì nhiều lý do khác nhau, Vatican vẫn chưa công bố những tài liệu này.

Hồng y Argentina trở thành Giáo hoàng

Cập nhật: 20:20 GMT – thứ tư, 13 tháng 3, 2013

Tân Giáo hoàng người Argentina, năm nay 76 tuổi, sẽ lấy hiệu Francis I

Hồng y người Argentina Jorge Mario Bergoglio được đám đông chào mừng tại Quảng trường Thánh Peter sau khi được bầu làm tân Giáo hoàng của Giáo hội Công giáo.

Xuất hiện trên ban công nhìn xuống quảng trường, Ngài đề nghị mọi người hãy cầu nguyện cho Ngài. Những lời reo hò dội lên khi Ngài ra dấu ban phước.

Là người Mỹ Latinh đầu tiên trở thành giáo hoàng, Ngài sẽ lấy danh hiệu là Francis I.

Chừng một giờ đồng hồ trước đó, khói trắng bốc lên từ ống khói nhà nguyện Sistine, công bố tới toàn thế giới rằng các hồng y tụ họp bên trong đã bầu được tân Giáo hoàng để dẫn dắt Giáo hội Công giáo.

Từng đám đông tại Quảng trường Thánh Peter hò reo và chuông đổ ồn ã khi làn khói trắng xuất hiện.

Giáo hoàng Francis, năm nay 76 tuổi, lên thay thế Giáo hoàng Benedict XVI, người thoái vị hồi tháng trước với lý do Ngài thấy không còn đủ mạnh mẽ để dẫn dắt Giáo hội.

Hồng y người Pháp Jean-Louis Tauran đã công bố kết quả bầu chọn bằng tiếng Latinh “Annuntio vobis gaudium magnum. Habemus Papam”, có nghĩa là “Tôi vô cùng vui mừng tuyên bố tới mọi người. Chúng ta có Giáo hoàng”.

‘Món quà to lớn’

“Habemus Papam Franciscum,” là nội dung được tweet đầu tiên từ tài khoản của giáo hoàng @pontifex kể từ khi Đức Benedict thoái vị hồi tháng trước.

Kết quả bầu chọn được đón chào với những tiếng vỗ tay vang trời tại thánh đường ở Buenos Aires, thành phố của tân Giáo hoàng.

Trên khắp Mỹ Latinh, người dân đón nhận tin với niềm vui sướng pha lẫn ngạc nhiên.

Tin về tân giáo hoàng được tweet từ tài khoản @pontifex, cũng là nội dung đầu tiên được tweet kể từ khi Đức Benedict thoái vị

“Đó là một món quà to lớn cho toàn thể Mỹ Latinh. Chúng ta đã chờ đợi 20 thế kỷ. Thật là sự chờ đợi đáng giá,” hãng tin AP trích lời Josse Antonio Cruz, một thầy dòng dòng Francis tại thủ đô San Juan của Puerto Rica nói.

“Tất thảy mọi người, từ Canada cho tới Patagonia, đều đang cảm thấy được ban phước lành. Thật là một sự kiện đáng nhớ.”

Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama đã thay mặt người dân Mỹ gửi “những lời chúc nồng ấm” tới vị tân giáo hoàng vừa được bầu chọn, và ca ngợi Ngài là “giáo hoàng đầu tiên của người dân châu Mỹ”.

Các phóng viên nói Ngài là một lựa chọn bất ngờ và không nằm trong nhóm nhỏ các gương mặt có nhiều triển vọng trước khi diễn ra việc bỏ phiếu.

Nhiều quan sát viên cũng trông đợi là một giáo hoàng ở độ tuổi thấp hơn sẽ được bầu chọn.

Tổng cộng 115 vị hồng y đã họp kín, hoàn toàn cắt đứt liên lạc với bên ngoài kể từ chiều hôm thứ Ba và đã trải qua bốn phiên bỏ phiếu.

Phải có ít nhất 77 vị hồng y, tức hai phần ba, cùng đồng ý bầu chọn một ứng viên thì người đó mới được bầu thành Giáo hoàng.

Trước khi mật nghị bắt đầu, không có vị hồng y nào tỏ ra dẫn trước trong việc trở thành người thay thế cho Đức Benedict XVI.

Từng đám đông mang theo ô dù đã tụ tập tại quảng trường, vẫy cờ của các quốc gia trên khắp thế giới.

Sau khi danh tính vị tân Giáo hoàng được công bố, vị chủ chăn mới của Giáo hội Công giáo xuất hiện từ lối hành lang nhìn xuống quảng trường để có bài diễn thuyết đầu tiên.

Ngài khi đó đã phải chấp nhận lời thỉnh cầu trở thành Giáo hoàng và các hồng y khi đó đã phải tuyên thệ trung thành với ngài, và sau đó Ngài sẽ rời đi để cầu nguyện một mình.(Theo BBC)

——————————————–

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s