VÀI NÉT VỀ NGỤY BIỆN VÀ TÍNH HAY CÃI CỦA NGƯỜI QUẢNG

Ngụy biện có từ xa xưa, nhưng hiểu rõ về nó thật sự không đơn giản chút nào.Có thể hiểu nôm na là ngụy :tức giả dối , mánh mung, xảo quyệt,tạo ra cái sai trái… ;biện : tức  giải bày, tranh luận, giảng giải ,….Như vậy ngụy biện là tranh luận bằng cách dùng luận cứ,lý lẽ không chính xác để bào chữa cho lý luận quan điểm của mình . Ai cũng đã từng nhiều lần trong đời gặp phải sự ngụy biện (kể cả các nhà thông thái) bởi mỗi người đều có quan điểm,nhận định riêng của mình về một vấn đề nào đó.

Gần đây(xung quanh việc góp ý và sửa đổi Hiến pháp  – hoặc tác phẩm BTC của Huy Đức) ta cũng gặp rất nhiều sự tranh cãi của các nhà “chính trị” hay học giả về “đúng” hay “sai” của nhiều vấn đề .Tìm hiểu về sự ngụy biện và liên quan đến nó là sự tranh luận của người Việt nói chung (người Quảng nam nói riêng) là việc làm rất cần thiết, nó giúp mọi người  có cái nhìn chuẩn mực, đúng đắn về mọi sự vật, hiện tượng trong xã hội xung quanh ta.

HỎI VỀ SỰ NGỤY BIỆN

Đây là bài viết của  Hàn Phi Tử , chữ “biện” ở đây  chỉ đơn thuần là ngụy biện trong các thuyết khách thời xưa.Hàn Phi viết chương này nhằm bày cho vua thuật trị nước . Xin ghi lại toàn bộ như sau :
1.Có người hỏi : “Việc ngụy biện do đâu mà ra ?”.Xin thưa:”Do chỗ người trên không sáng suốt”.Người hỏi nói :”Tại sao người trên không sáng suốt lại sinh ra ngụy biện?”.Thưa rằng :”Trong cái nước của ông vua sáng suốt thì mệnh lệnh là lời nói quý nhất, pháp luật là việc làm thích hợp nhất.Hai lời nói ngược nhau không thể cùng quý, hai pháp luật không thể cùng thích hợp.Cho nên những lời nói và hành vi nào không hợp với pháp lệnh thì đều nhất thiết bị cấm.Nếu như người trên không có pháp lệnh để đối phó với bọn dối trá, ứng phó với sự biến đổi, để mưu lợi, dò xét sự việc thì thế nào người trên cũng trọn lời nói và đòi hỏi nó phải có công dụng thực tế.Nếu lời nói mà đúng thì họ được lợi lớn, nhưng nếu mà không đúng thì họ bị tội nặng.Do đó những kẻ ngu sợ tội không dám nói, những người khôn không có gì để tranh cãi nhau, vì vậy không có chuyện ngụy biện.Đời loạn thì không thế.Nhà vua ra lệnh thì dân lấy văn học để chê bai, cơ quan có phép tắc thì dân lấy hành động riêng của mình để làm trái lại.Nhà vua coi thường pháp lệnh của mình mà coi trọng sự khôn ngoan của bọn học giả.Điều đó khiến cho ở đời có nhiều kẻ thiên về văn học.

2.Phàm lời nói và việc làm phải đều phải lấy công dụng làm tiêu chuẩn.Mài mũi tên rồi bắn bừa bãi thì cái mũi của nó có khi bắn trúng sợi lông mùa thu.Nhưng như thế không gọi là bắn giỏi. Vì nó không có cái đích nhất định. Dựng lên cái đích năm tấc, đứng xa trăm bước mà bắn thì nếu không phải Hậu Nghệ, Bàng Mông thì không thể nhất định bắn trúng được. Bởi vì có cái đích nhất định.

Cho nên nếu có cái đích nhất định thì Hậu Nghệ , Bàng Mông còn cho cái đích năm tấc là khó bắn. Còn nếu không có cái đích nhất định thì dù có bắn bừa đúng cái lông mùa thu cũng là vụng. Nay nghe lời nói xét việc làm mà không lấy công dụng làm đích thì tuy lời nói hết sức sâu sắc, việc làm hết sức chắc chắn, nhưng đó đều là chuyện bắn bừa. Vì vậy đời loạn nghe lời nói thì lấy chuyện khó hiểu làm sâu sắc, lấy việc văn vẻ nhiều làm hùng biện, còn trong việc làm lấy chuyện khác mọi người làm giỏi, lấy việc xúc phạm người trên làm oai. Nhà vua thích những lời hùng biện, sâu sắc, đề cao những hành động bướng bỉnh.Vì vậy  mặc dầu có những người lập pháp luật và thuật trị nước, dựng lên những việc nên làm và những việc nên bỏ, phân biệt việc tranh cãi bằng lời lẽ, thế nhưng không ai sửa chữa được.Vì vậy cho nên những kẻ mặc áo nhà nho, những kẻ mang kiếm thì nhiều, nhưng những kẻ sĩ lo cày ruộng và chiến đấu thì ít. Những lời từ chương ” cứng trắng”( thuyết ngụy biện của Công Tôn Long) vô ích sinh ra nhưng phép tắc mệnh lệnh bị chấm dứt. Cho nên nói : ” Người trên không sáng suốt thì sinh ra ngụy biện”.

Bạch Mã Phi Mã:(Bạch mã luận)

NGỰA TRẮNGTRIẾT THUYẾT BẠCH MÃ LUẬN CỦA CÔNG TÔN LONGCÔNG TÔN LONG LÀ MỘT TRONG NHỮNG NHÀ BIỆN LUẬN NỔI TIẾNG Ở THỜI NHÀ TRIỆU. Ông sinh vào năm 320 trước Công nguyên và mất vào khoảng năm 250 trước Công Nguyên. Ông là bậc hậu sinh so với Huệ Thi, nhưng tầm hiểu biết của ông so với bậc tiền bối này không thua kém gì.Vì vậy mà khi người đời bàn về phái triết học Danh gia hay các biện giả, không thể không nhắc nhở và ca tụng đến Công Tôn Long với các mệnh đề “Ly Kiên Bạch” hoặc “Bạch Mã Phi Mã”… Qua các mệnh đề triết học này người đời thường nhắc đến các hành động và lý luận của ông như câu chuyện muốn qua bên kia biên giới lại bị lính canh ngăn chặn. Công Tôn Long hỏi:

– Tại sao ngăn chặn ta?

– Lối này cấm ngựa qua

– Vậy thì ta qua được.

– Tại sao lại qua được ? – Lính canh hỏi.

– “Ngựa ta trắng… ”

– Trắng hay đen nó cũng là ngựa.

Công Tôn Long quắc mắt:

– Anh này có mắt không ngươi… “ngựa trắng đâu phải là ngựa”.

Nói xong Công Tôn Long ung dung dắt ngựa qua…

Công Tôn Long có cái nhìn khác hẳn, với Huệ Thi thì nhấn mạnh cái tính chất tương đối của vạn vật trong cái hiện thực, ngựa trắng, ngựa ô, ngựa kim hay ngựa vằn cũng đều là ngựa, nhưng với Công Tôn Long thì không phải vậy. Công Tôn Long bảo:

– Chính cái “danh” gọi vốn là cái kết quả của sự phản ảnh về khái quát của những đặc tính chung nhất của muôn vật. Cái cụ thể đang tồn tại đó mới là cái tuyệt đối, chẳng những tuyệt đối không thôi mà là tuyệt đối vĩnh viễn. Rồi ông nhấn mạnh: “Nó đâu có phụ thuộc vào các vật thể hay các hiện tượng mà nó phản ảnh đó?” Cũng từ đó Công Tôn Long phủ nhận hoàn toàn sự tồn tại của vạn vật trong trời đất cùng các hiện tượng của thế giới khách quan.

Rõ ràng Công Tôn Long có cùng một cái nhìn và cái suy nghĩ của Platon đối với ý niệm về thế giới của Platon – trong triết học cổ đại của Hy Lạp – La Mã.

Các thiên “Bạch Mã Luận” và “Kiên Bạch Luận” nói rõ về tư tưởng của nhà triết học Công Tôn Long. Như “Thiên Bạch Mã Luận” cho ta thấy ông muốn nhấn mạnh cái chủ yếu của nó là “Ngựa Trắng Không Phải Là Ngựa Trắng”. (Bạch mã Phi Mã). Công Tôn Long bảo rằng đã dùng luận lý học mà tách rời màu sắc thoát ra khỏi con ngựa. Như vậy, đối với ông “Ngựa” và “Ngựa Trắng” là những thực thể riêng rẽ, hoàn toàn độc lập, chứ không thể xem như là một được. Thế có nghĩa nó vừa có thuộc tính, bản chất của con ngựa mà nó cũng vừa có cái đặc tính của một con ngựa cụ thể cá biệt thuần túy của nó.

Có người hỏi:

– Tại sao mà tách rời giữa cái trắng và con ngựa ra được? Ngựa nào cũng là ngựa, nó mang màu sắc gì thì gọi tên nó là vậy. Ví như Bạch Mã thì gọi là ngựa trắng, ngựa đen thì gọi ngựa ô, ngựa vàng thì gọi là ngựa kim v.v… Gọi như vậy há chẳng phải đúng hay sao?

– Đâu có vậy được. Người trước sai, người sau cũng sai nốt. “Ngựa là nói về về hình của nó. Có nghĩa là hình con ngựa. Chứ ai bảo nó là hình con vịt đâu? Còn trắng thì nói về cái màu sắc của nó. Nghĩ lại mà xem màu sắc đâu phải là hình? Vậy cho nên “Ngựa Trắng Không Phải Là Ngựa”.

Với lý luận trên đây của Công Tôn Long rõ ràng cho ta thấy ông muốn tuyệt đối hóa sự không giống nhau cùng ở một vật thể mà tách rời nhau ra thành hai cái không có sự quan hệ hữu cơ giữa cái chung và cái riêng rẽ của nó. NHưng khi nhìn nó người ta có thể liên kết cái hình và cái màu sắc của nó mà gọi làm một. Con ngựa đó là ngựa trắng.

Theo lý luận của Công Tôn Long thì khi ta đòi có một con ngựa, ghì bên đối tác có thể đưa đến bất cứ con ngựa màu sắc nào, ví như ngựa ô, ngựa kim… Tuy nhiên khi ta đòi hỏi mang cho tôi một con ngựa trắng thì đối tác đó không thể mang ra các chú có màu sắc khác được…

Có người hỏi:

– Ngựa trắng cũng là ngựa, tại sao bảo là không ?

– “Ngựa nào cũng có màu sắc cả. Vì vậy mới có cái tên “ngựa trắng”. Ví thử có thứ ngựa không màu, không sắc đi, thì chỉ gọi là ngựa không thôi, bởi nó chẳng có màu để gọi. Còn ngựa trắng không phải là ngựa… Có nghĩa ngựa trắng là ngựa cộng với trắng, như vậy nó chẳng phải là ngựa mà là “Ngựa Trắng”.

Trong mệnh đề này, Công Tôn Long đã chỉ ra sự liên hệ và sự khác biệt, chỉ cái chung và cái riêng, cái toàn bọ và cái từng bộ phận, nhưng vì quy định bởi cái tính tuyệt đối của nó nên ông đi đến việc tách rời ra để chỉ “cái chung” và “cái riêng” hay nói một cách khác cái “toàn bộ” và cái “bộ phận” của nó một cách siêu hình. Lý luận này trở thành ngụy biện cho rằng “cẩu” đâu phải là “khuyển”. Công Tôn Long lý luận kẻ “giết ăn trộm đâu phải là giết người?” Bởi “con người” là khác còn “người ăn trộm” là khác nhau. Thế thì lý luận của ông “ngựa trắng không phải là ngựa” cũng không ngoài cái ý đó. Cũng như con chó còn nhỏ thì gọi là chó con bởi gọi như vậy là gọi hình thức của nó, vậy thì “chó con” đâu phải là chó”!

Hai mươi mốt luận đề nổi tiếng được ghi nhận trong Thiên hạ sách của Trang Tử và trong Thiên Trọng Ni nơi sách Liệt Tử, trong đó có ghi ra

1. Trứng có lông.

2. Gà ba chân

3. Đất Dĩnh có cả thiên hạ.

4. Chó có thể hóa ra dê.

5. Ngựa có trứng.

6. Con cóc có đuôi.

7. Lửa không nóng.

8. Núi có miệng.

9. Bánh xe không nghiến xuống đất.

10, Mắt không trông thấy.

11.Chỉ không tới, tới không dứt.

12.Rùa dài hơn rắn.

13.Thước vuông không vuông, thước tròn không thể làm ra hình tròn.

14. Lỗ đục không quay quanh cái chốt.

15. Bóng chim bay không hề động đậy.

16. Nhanh như tên bắn mà cũng có lúc không đi không dừng.

17. Chó con không phải là chó.

18. Ngựa vàng trâu đen là ba con.

19. Chó trắng đen.

20. Con ngựa mồ côi chưa từng có mẹ.

21. Sợi dây một thước, mỗi ngày lấy đi một nửa, muôn đời không hết.

Luận về Danh và Thực của các nhà triết học cổ đại Trung Quốc quả thật phức tạp và vô cùng quan trọng. Công Tôn Long đã luận về cái “Danh”là cái tên gọi mà người ta có thể biết được người gọi ấy muốn chỉ cái gì… đâu cần phải tiếp xúc đến các vật đó. Vậy thì cái vật đó có thật. Hay đúng hơn là Danh đề chỉ thực, thực nào danh đó, danh nào thực đó. Người ta gọi là Chính Danh v.v…

Như mệnh đề số 20 nói về con ngựa mồ côi không ngoài chỉ về con ngựa mất mẹ, con ngựa không có hơi ấm của mẹ nữa đó là con ngựa mồ côi… Đó gọi gọi là chính danh. Nhưng ngược lại nó có mẹ đàng hoàng thì đâu có thể gọi nó là con “ngựa mồ côi.”

Ví như năm này là năm con Ngựa, đó là cái năm mang tên con Ngựa mà người gọi là năm Ngọ, năm Nhâm Ngọ, nhưng nó không phải là con Ngựa, con ngựa chỉ là cái Danh khoác cho cái năm đó…

Tóm lại, Công Tôn Long thuộc về trường phái triết học Danh gia, chuyên về lý luận sự liên hệ giữa “danh” và “thực”, chuyên gợi lên hình ảnh mâu thuẫn bằng những lập luận nghe như lẩn quẩn nhưng lại thật rõ ràng… Ngày nay, các nhà nghiên cứu về triết học Trung Hoa đều nhận thức được những nhân tố biện chứng trong tư tưởng triết học của các triết gia cổ đại của đất nước này đã đóng góp quý báu trong kho tàng của nền văn minh chung cho nhân loại.

THÓI NGỤY BIỆN Ở NGƯỜI VIỆT

Tranh luận trên các diễn đàn công cộng là một hình thức trao đổi ý kiến không thể thiếu được trong một xã hội văn minh. Ở nhiều nước, lưu lượng của những tranh luận cởi mở và nghiêm túc được xem là một dấu hiệu của một xã hội lành mạnh. Ở các nước phương Tây, hầu như ngày nào báo chí cũng có những bài của những cây bỉnh bút tranh luận về một vấn đề nóng nào đó. Trên tivi cũng có những cuộc tranh luận trực tiếp giữa hai hay nhiều người về những chủ đề từ “đại sự” đến những vấn đề tưởng như nhỏ nhất. Trong các hội nghị khoa học, trước một vấn đề còn trong vòng nghi vấn, người ta cũng có những chuyên gia tranh luận dưới dạng những bài giảng khoa học.
Nhưng thế nào là tranh luận nghiêm túc? Nói một cách ngắn gọn, cũng như trong một cuộc đấu võ, một tranh luận nghiêm túc là một cuộc tranh luận có qui tắc, mà trong đó người tham gia không được, hay cần phải tránh, phạm luật chơi. Những qui tắc chung và căn bản là người tham gia chỉ phát biểu bằng cách vận dụng những lí lẽ logic, với thái độ thành thật và cởi mở, chứ không phát biểu theo cảm tính, lười biếng, hay biểu hiện một sự thiển cận, đầu óc hẹp hòi.
Để đạt những yêu cầu này, người tranh luận nghiêm túc trước khi phát biểu hay đề xuất ý kiến, đưa ra lời bình phẩm của mình, cần phải xem xét tất cả các trường hợp khả dĩ, phải cân nhắc những quan điểm và những cách giải thích khác nhau, phải đánh giá ảnh hưởng của sự chủ quan và cảm tính, phải tập trung vào việc tìm sự thật hơn là muốn mình đúng, phải sẵn sàng chấp nhận những quan điểm không được nhiều người ưa chuộng, và phải ý thức được định kiến và chủ quan của chính mình. Khi tranh luận phải nhất quán là chỉ xoay quanh chủ đề bàn luận, luận điểm bàn luận chứ không đi lạc đề. Không công kích vào cá nhân và nhân thân của người tham gia tranh luận.

Đó là những đòi hỏi khó khăn cho một cuộc tranh luận nghiêm túc có ý nghĩa, và không phải ai cũng có khả năng đạt được những yêu cầu này, nhất là đối với người Việt vốn chưa quen với văn hóa tranh luận. Do đó, không mấy ai ngạc nhiên khi thấy có quá nhiều trường hợp chất lượng của những cuộc tranh luận giữa người Việt rất thấp. Chỉ cần xem qua những cái-gọi-là “tranh luận” trên các diễn đàn báo chí (và nhất là các “chat room” hay blog), người ta có thể thấy đó không phải là tranh luận, mà là những cuộc đụng độ giũa các cá nhân tham gia tranh luận, những cuộc chửi bới, chẳng có lí luận của người tranh luận. Ngoài ra, đối với một số người tham gia bình luận về một câu chuyện nào đó là một cuộc dàn xếp, một sự đóng kịch, nhằm tung hỏa mù hoặc lên lớp, hoặc a dua theo đám đông. Đó là những kịch bản ngớ ngẩn đến tội nghiệp. Ngớ ngẩn là vì người xuất hiện chẳng nói được gì cho đầy đủ, mà cũng chẳng phân tích một vấn đề gì cho đến nơi đến chốn.

Thật vậy, rất nhiều trường hợp, những cuộc tranh luận giữa người Việt chỉ là những cuộc chửi lộn, mà trong đó người ta tha hồ vung vít, ném liệng vốn liếng chữ nghĩa qua lại một cách hỗn độn, mà chẳng cần để ý đến logic hay các nguyên tắc của tranh luận là gì. Hơn nữa, rất dễ dàng nhận thấy rằng trong các cuộc tranh luận đó người ta nhắm vào mục tiêu là nhân thân, cá nhân của người tranh luận chứ không nhắm vào quan điểm và lí lẽ của người đó. Thay vì tranh luận thẳng vào vấn đề, người ta tìm cách gắn cho đối phương một nhãn hiệu, và từ đó làm lu mờ đi quan điểm của họ. Trong hầu như những tranh luận, nhiều người cố tìm hay tạo cho mình một vị trí đạo cao đức trọng cả bằng cách gắn cho đối phương những danh từ và tính từ mang tính miệt thị, một thủ đoạn có khả năng làm cho một cuộc tranh luận trở nên một cuộc ẩu đã ngôn từ đinh tai nhức óc thay vì là một trao đổi khoa học.

Thực ra, đó là một hình thức ngụy biện, một lỗi lầm cơ bản nhưng nghiêm trọng trong tranh luận. Nói một cách đơn giản, ngụy biện là những nhầm lẫn trong lí luận và suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện.” Mặc dù Aristotle là một nhà nhà logic học đầu tiên có công liệt kê và phân loại những loại ngụy biện, thầy của ông (Plato) mới xứng đáng được vinh danh như là một nhà triết học đầu tiên đã có công sưu tầm những ví dụ về ngụy biện. Kể từ khi Plato và Aristotle, đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, và Arthur Schopenhauer cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Điều đáng chú ý là những lỗi lầm về ngụy biện ở người Việt lại hay thấy trong giới có học. Chỉ cần điểm qua báo chí, websites, blog, v.v… chúng ta dễ dàng thấy rất nhiều cái-gọi-là “tranh luận” thật ra chỉ là ngụy biện. Tuy nhiên, nhiều người vẫn chưa biết đó là những ngụy biện, mà thậm chí còn hết lời khen ngợi kẻ ngụy biện là … uyên bác! Điều này cho thấy trong những người Việt học cũng có người rất lười biếng suy nghĩ và chẳng phân biệt được thật và giả, không có khả năng nhận dạng được ngụy biện. Phải ghi nhận một điều là internet đã rất tuyệt vời, vì qua những “tranh luận” và chửi bới của những kẻ tham gia trên internet, chúng ta biết được bộ mặt xấu xí đằng sau những người mang nhãn mác “trí thức” hay “có học”. Những kẻ này tương đối nguy hiểm, vì với cái nhãn mác “có học” đó, họ có cơ hội làm lũng đoạn xã hội và trở thành những con vi khuẩn làm nhiễm trùng nền học thuật nước nhà. Do đó, cần phải giúp họ nhận ra đâu là ngụy biện và đâu là logic.

Thực ra, nhận dạng ngụy biện không phải là một việc làm khó khăn. Nói chung chỉ với một lương năng bình dân, người ta có thể phân biệt một phát biểu mang tính ngụy biện với một phát biểu logic. Tuy nhiên, cũng có nhiều dạng thức ngụy biện mà vẻ bề ngoài hay mới nghe qua thì rất logic, nhưng thực chất là phi logic. Những loại ngụy biện núp dưới hình thức “khoa học” này không dễ nhận dạng nếu người đối thoại thiếu kiến thức về logic học hay thờ ơ với lý lẽ. Do đó, một điều quan trọng trong tranh luận là cần phải phát hiện và nhận dạng những hình thức ngụy biện, và quan trọng hơn, cần phải hiểu tại sao chúng sai. Có thể phân loại ngụy biện thành nhiều nhóm khác nhau liên quan đến việc đánh lạc vấn đề, lợi dụng cảm tính, thay đổi chủ đề, nhầm lẫn trong thuật qui nạp, lý luận nhập nhằng, phi logic, và sai phạm trù. Trong khuôn khổ giới hạn, người viết bài này không có tham vọng trình bày tất cả những loại ngụy biện một cách chi tiết (vì việc này đã được hệ thống hóa trong nhiều sách về logic học), mà chỉ muốn liệt kê ra những loại ngụy biện thường hay gặp trong báo chí và truyền thông, hầu giúp bạn đọc có thể phân biệt giữa chân và giả.

Liệt kê sau đây là một loạt những ngụy biện phổ biến hay thấy ở người Việt. Những ngụy biện này có thể phân thành 7 nhóm như sau:

• Đánh tráo chủ đề
• Lợi dụng cảm tính và đám đông
• Làm lạc hướng vấn đề
• Qui nạp sai
• Nhập nhằng đánh lận con đen
• Phi logic
• Các nhầm lẫn khác

Nhóm 1. Đánh tráo chủ đề

1. Công kích cá nhân 
(ad hominem). Đây là một loại ngụy biện phổ biến nhất, thấp kém nhất, nguy hiểm nhất, nhưng có “công hiệu” nhất, vì nó tấn công vào cá nhân của người tranh luận, và tìm cách trốn tránh luận điểm của cá nhân đó. Hình thức ngụy biện này thường xuất hiện dưới dạng: Ông A phát biểu về một vấn đề; ông B tấn công vào cá nhân ông A, và làm cho người ta nghi ngờ luận điểm của ông A. Tuy nhiên, có thể không có mối liên hệ nào giữa cá nhân và luận điểm của ông A.

Có hai hình thức thuộc loại ngụy biện này. Thứ nhất là dưới hình thức sỉ nhục, hay chửi rủa. Khi bất đồng ý kiến, người ngụy biện chỉ việc công kích vào cá nhân của người phát biểu. Chẳng hạn như “Ông nói là những người vô thần có đạo đức, vậy mà chính ông là người từng li dị với vợ con,” hay “Ông là người làm kinh tế, không biết gì về khoa học, mà nói chuyện khoa học”. Đây là một ngụy biện, bởi vì sự thật của phát biểu không tùy thuộc vào cá nhân của người phát biểu, mà là logic của lời phát biểu. Cũng nằm trong loại ngụy biện này là thói dùng một đặc điểm của một vật thể nào đó để ứng dụng cho một cá nhân hay một vật thể khác. Ví dụ: “Anh học của Tây có vài chữ mà đã quay lại chửi bới đồng nghiệp à? Anh là con công cháu cha, anh không hiểu gì về sự nghèo khổ của chúng tôi.”

2. Lợi dụng quyền lực (ad verecundiam). Đây là loại ngụy biện dùng những nhân vật nổi tiếng hay được nhiều người ái mộ để tìm sự ủng hộ cho luận điểm của mình. Chẳng hạn như “Isaac Newton là một thiên tài, và ông tin vào Thượng đế,” làm như ông Newton là người có thẩm quyền để chúng ta tin vào Thượng đế. Thẩm quyền không thuyết phục được ai; chỉ có sự thật, lí lẽ và logic mới quan trọng và có khả năng thuyết phục.

3. Lợi dụng nặc danh. Trong trường hợp này, người ngụy biện không nêu danh tính người có thẩm quyền, và vì không ai biết tên người có thẩm quyền nên không ai có thể kiểm chứng sự chính xác của lời phát biểu. Một loại ngụy biện khác có quan hệ với loại này là dùng lời đồn đại để làm cơ sở lập luận. Giới công an hay sử dụng ngụy biện này, ví dụ như “Một viên chức tình báo cho biết chính anh từng hoạt động cho địch.”

4. Lợi dụng tác phong. Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

5. Luận điệu cá trích. Loại ngụy biện này thường hay được ứng dụng khi một người nào đó đưa vào những phát biểu không dính dáng gì đến vấn đề đang tranh luận, nhằm mục đích đánh lạc hướng vấn đề. Ví dụ: “Anh có thể nói rằng tử hình là một hình thức không có hiệu quả trong việc chống lại tội phạm, nhưng còn nạn nhân của tội phạm thì sao? Gia đình của nạn nhân sẽ nghĩ gì khi họ thấy tên sát nhân người thân của họ bị giam giữ trong nhà tù bằng đồng tiền của chính họ. Họ có nên nuôi dưỡng những tên sát nhân như thế không?”

6. Luận điệu ngược ngạo. Bằng chứng luôn luôn là gánh nặng của người phát biểu. Do đó, tìm cách chuyển gánh nặng đó cho một người khác là một thủ đoạn của những người ngụy biện. Chẳng hạn như trong câu này “Anh nói rằng ăn nhiều mỡ không liên quan đến cholesterol, nhưng anh có thể chứng minh điều đó không?” Đáng lẽ người phát biểu phải chứng minh, nhưng công việc đó lại được chuyển cho người đối thoại!

Nhóm 2. Lợi dụng cảm tính và đám đông

7. Dựa vào bạo lực
 (ad baculum). Ngụy biện dựa vào bạo lực thực chất là một sự đe dọa, nhằm mục đích gây áp lực cho người đối thoại phải chấp nhận một kết luận nào đó. Loại ngụy biện này thưởng được giới chính khách dùng, và có thể tóm gọn bằng một câu “chân lí thuộc về kẻ mạnh”. Sự đe dọa không hẳn chỉ xuất phát từ người phát biểu, mà có thể từ một người khác. Ví dụ như “Những ai không tin vào chính sách của Nhà nước sẽ phải trả giá đắt”, hay “Được rồi, tôi đã biết số điện thoại của anh và biết anh đang ở đâu. À, tôi có nói cho anh biết là tôi mới mua một cây súng ngắn chưa nhỉ?”

8. Lợi dụng lòng thương hại (ad misericordiam). Đây là một loại ngụy biện dựa vào lòng trắc ẩn của người đối thoại để người đối thoại chấp nhận lí lẽ của mình. Ví dụ như “Anh ấy không có giết người bằng búa. Làm ơn đừng tuyên án anh ấy có tội, anh ấy đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng tinh thần,” hay “Tôi hi vọng anh sẽ chấp nhận đề nghị này, chúng ta đã tiêu ra ba tháng nay để bàn rồi đấy.”

9. Lợi dụng hậu quả (ad consequentiam). Ngụy biện loại này thường được biểu hiện qua cách phát biểu “A hàm ý B, B là sự thật, do đó A là sự thật”. Ví dụ: “Nếu vũ trụ được một đấng chí tôn thượng đế tạo nên, chúng ta có thể thấy những hiện tượng được tổ chức một cách thứ tự. Và hiện tượng chung quanh chúng ta quả rất thứ tự, vậy đấng chí tôn thượng đế chính là người tạo nên vũ trụ,” hay “Anh phải tin vào Đảng Cộng hòa, chứ nếu không cuộc đời này sẽ chẳng có ý nghĩa” (hay là nói một cách ngược lại: cuộc sống này chẳng có ý nghĩa gì nếu không có Đảng cộng hòa!)

10. Lạm dụng chữ nghĩa. Đây là một loại ngụy biện dựa vào dùng những chữ mang cảm tính cao để gắn một giá trị đạo đức vào một đề nghị hay một câu phát biểu. Chẳng hạn như trong câu “Bất cứ một người có lương tri nào cũng phải đồng ý rằng về Việt Nam ăn Tết là làm lợi cho cộng sản,” chữ “lương tri” được cài vào nhằm cho người đối thoại phải nghiêng theo những người có lương tri.

11. Dựa vào quần chúng (ad numerum). Loại ngụy biện này tin rằng nếu có nhiều người ủng hộ một đề nghị nào đó, thì đề nghị đó phải đúng. Ví dụ như “Đại đa số người dân trong cộng đồng ủng hộ ông Minh, vậy phát biểu của ông Minh ắt phải đúng.”

Nhóm 3. Làm lạc hướng vấn đề

12. Lí lẽ chẻ đôi
. Loại ngụy biện này thường phân định một vấn đề thành hai giá trị: trắng và đen, bạn và thù, có và không, v.v.. dù trong thực tế, có hơn hai lựa chọn. Chẳng hạn như “Hoặc là anh hợp tác với tôi hay là anh chống tôi, anh chọn hướng nào, yes hay là no?”

13. Lí lẽ ngờ nghệch (ad ignorantiam). Loại ngụy biện này, như tên gọi ám chỉ, xuất phát từ sự ngớ ngẩn. Một trong những cách nói thông thường nhất trong loại ngụy biện này mà giới ngụy biện hay dùng là nếu một điều gì đó chưa được chứng minh là sai (hay giả) thì điều đó là đúng (hay thật). Ví dụ: “Bởi vì các nhà khoa học chưa chứng minh dioxin có thể gây ra dị thai, do đó dioxin không thể gây ra dị thai,” hay kiểu lí luận của “nền kinh tế phát triển và xã hội ổn định mấy năm nay, không có lý do gì phải cần đến dân chủ”.

14. Lí luận lươn trạch. Loại ngụy biện này cho rằng nếu một sự kiện xảy ra, các sự kiện có hại khác sẽ xảy ra. Chẳng hạn như “Nếu chúng ta hợp pháp hóa cần sa, công chúng sẽ bắt đầu hút cần sa, và chúng ta cũng sẽ phải hợp pháp hóa á phiện. Rồi chúng ta sẽ là một quốc gia với những người ăn bám vào xã hội. Do đó, chúng ta không thể hợp pháp hóa á marijuana”. Hay một đoạn ví dụ khác:” Tiếc thay một cuộc cải cách về kinh tế, bình bị, tài chánh, xã hội, nông nghiệp như vậy, đang trên đường thành công rực rỡ: bị tan vỡ, bị huỷ bỏ chỉ vì tham vọng đánh Đại việt của Vương An Thạch. Mà đau đớn biết bao, khi người phá vỡ chỉ là một thiếu phụ Việt ở tuổi ba mươi. Giá như Thạch không chủ trương Nam xâm, chỉ cần mười năm nữa, toàn bộ xã hội Trung quốc thay đổi; rồi với cái đà đó, thì Trung quốc sẽ là nước hùng mạnh vô song, e rằng cứ muôn đời mặt trời vẫn nở phương Đông chứ không ngả về Tây như hồi thế kỉ 18 cho đến nay bao giờ.”

15. Mệnh đề rời rạc. Đây là loại ngụy biện dùng hai (hay nhiều hơn hai) mệnh đề chẳng dính dáng gì với nhau để làm thành một phát biểu hay kết luận. Ví dụ: “Anh ủng hộ tự do dân chủ và quyền mang vũ khí hay không?” hay “Anh đã ngưng làm ăn trái phép chưa?” Câu hỏi sau thực ra hỏi hai vấn đề “Anh từng làm ăn trái phép?” và “Anh đã ngừng hoạt động hay chưa?”
16. Đơn giản hóa. Đây là một loại ngụy biện mà người phát biểu cố tình biến một quan niệm trừu tượng thành một điều cụ thể để bắt lấy thế thượng phong trong đối thoại (nhưng là ngụy biện). Ví dụ: “Tôi để ý thấy anh mô tả ông ta là một người quỉ quyệt. Vậy tôi hỏi anh cái “quỉ quyệt” đó nó nằm ở đâu trong bộ não? Anh không chỉ ra được cho tôi; do đó, tôi có thể nói cái quỉ quyệt không có thực.”

Nhóm 4. Qui nạp sai

17. Khái quát hóa vội vã
. Loại ngụy biện này cũng khá phổ biến. Nó dùng một ví dụ hay trường hợp nhỏ và từ đó khái quát hóa cho một cộng đồng. Chẳng hạn như “Ông ấy là một tay đạo đức giả. Do đó, các bạn bè của ông ấy cũng giả dối.”

18. Khái quát hóa không đúng chỗ. Đây là loại ngụy biện mà người sử dụng chúng thường áp dụng một qui luật chung cho một tình huống hay một cá nhân. Chẳng hạn như “Người cộng sản là vô thần. Anh là người theo chủ nghĩa cộng sản, vậy anh chắc chắn là một người vô thần.”

19. Kéo dài tính tương đồng. Trong loại ngụy biện này, người dùng nó đề nghị một điều lệ chung chung, rồi áp dụng nó cho mọi trường hợp và cá nhân. Ví dụ: “Tôi tin rằng chống luật pháp bằng cách phạm luật pháp là một điều sai trái”, hay “Nhưng quan điểm đó ghê tởm lắm, vì nó ám chỉ rằng anh sẽ không ủng hộ tôi,” hay “Anh muốn nói rằng luật về mật mã cũng có tầm quan trọng tương đương với phong trào giải phóng sao? Sao anh dám nói thế?”

20. Lí lẽ quanh co. Loại ngụy biện này thường luẩn quẩn trong vài giả định và kết luận. Chẳng hạn như “Những người đồng tính luyến ái nhất định không thể nắm chính quyền. Do đó, phải tống khứ những viên chức chính phủ đồng tính luyến ái. Vì thế, những người đồng tính luyến ái sẽ làm mọi cách để dấu diếm hành tung của họ, và họ có nguy cơ bị tống tiền. Do vậy, những người đồng tính luyến ái không được giữa chức vụ gì trong chính phủ.” Tức là trong một lí giải như thế, cả hai giả thuyết và kết luận đều giống nhau.

21. Đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua hình thức “Nếu A xảy ra thì B sẽ xảy ra, do đó, nếu B xảy ra thì A sẽ xảy ra.” Ví dụ: “Nếu tiêu chuẩn giáo dục bị hạ thấp, chất lượng tranh luận sẽ bị tồi đi. Do đó, nếu chúng ta thấy chất lượng tranh luận suy đồi trong những năm sắp đến, thì điều đó cho thấy tiêu chuẩn giáo dục của ta bị xuống cấp.”

22. Lợi dụng rủi ro. Ngụy biện này thường dùng một qui luật chung và áp dụng nó cho một trường hợp cá biệt. Ví dụ: “Luật giao thông không cho anh chạy quá 50 km/h. Cho dù cha anh sắp chết anh cũng không được chạy quá tốc độ đó.”

23. Lợi dụng trường hợp cá biệt. Ngụy biện này thường dùng một trường hợp cá biệt để đem ra ứng dụng cho một đám đông. Ví dụ: “Chúng ta cho phép bệnh nhân sắp chết dùng á phiện, chúng ta nên cho phép mọi người dùng á phiện.”

24. Kết luận lạc đề. Loại ngụy biện này thường xuất hiện khi một kết luận chẳng dính dáng gì đến lí lẽ mà người biện luận trình bày. Một ví dụ tiêu biểu cho trường hợp ngụy biện này là: “Độ nhiễm arsenic trong nước ở Việt Nam chưa cao và còn trong mức độ cho phép. Dữ kiện của Bangladesh cho thấy tình trạng nhiễm arsenic ở Việt Nam rất trầm trọng.”

25. Ngụy biện rơm. Loại ngụy biện này cố tình xuyên tạc, bóp méo quan điểm hay phát biểu của người khác, để làm luận điểm tấn công. Đây là một ngụy biện, vì nó không đương đầu với cái lí lẽ đang bàn. Chẳng hạn như: “Chúng ta nên ủng hộ chế độ cưỡng bách quân dịch. Người ta không thích tòng quân vì họ không muốn cuộc sống bị đảo lộn. Nhưng họ cần nhận thức rằng có nhiều điều quan trọng hơn tiện nghi trong cuộc sống.”
Nhóm 5. Nguyên nhân giả tạo

26. “Post hoc”. Loại ngụy biện này phát biểu rằng hai sự kiện xảy ra, một trước và một sau, có quan hệ với nhau như nguyên nhân và hậu quả. Ví dụ: “Liên Xô sụp đổ sau khi nhà nước theo chủ nghĩa vô thần. Do đó, chúng ta phải từ bỏ chủ nghĩa vô thần để khỏi bị suy sụp.”

27. Ảnh hưởng liên đới. Một sự kiện được cho là có ảnh hưởng đến một sự kiện khác, nhưng thực chất thì cả hai sự kiện đều có cùng một nguyên nhân. Đây cũng chính là một trường hợp ngụy biện dưới dạng “post hoc”. Ví dụ: “Chúng ta đang chứng kiến một tình trạng thất nghiệp rất cao, vì do thiếu nhu cầu của người tiêu thụ.” (Nhưng có thể cả hai sự kiện có nguyên nhân từ tiền lời quá cao.)

28. Ảnh hưởng không đáng kể. Đây là một loại ngụy biện mang tính phóng đại từ một ảnh hưởng rất nhỏ. Chẳng hạn như “Hút thuốc gây ra ô nhiễm môi trường ở Sydney” là một phát biểu đúng, nhưng ảnh hưởng của thuốc lá đến môi trường rất khiêm tốn khi so với ảnh hưởng của khói xe và các hãng xưởng.

29. Ảnh hưởng ngược chiều. Mối quan hệ giữa nguyên nhân và hậu quả bị đảo ngược chiều để tìm đến một kết luận mang tính ngụy biện. Ví dụ: “Ung thư gây ra thói quen hút thuốc lá”.
30. Nguyên nhân phức tạp. Một sự kiện xảy ra có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, nhưng người ngụy biện có thể đơn giản hóa thành một liên hệ đơn giản. Chẳng hạn như “Tai nạn xe cộ là do đường xá xấu” có thể đúng, nhưng tai nạn cũng có thể do người lái xe ẩu trong một điều kiện xấu.

31. Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Loại ngụy biện này xảy ra khi một điều nào đó được cho là nguyên nhân của một sự kiện, nhưng nó chưa thực sự được chứng minh là nguyên nhân. Ví dụ: “Tôi uống một viên aspirin và cầu nguyện thượng đế, và tôi không còn bị nhức đầu. Như vậy thượng đế đã chữa trị tôi khỏi nhức đầu.”

Nhóm 6. Phi logic (non sequitur) và nhần lẫn trong tam đoạn luận

32. Phi logic. Ngụy biện phi logic thường xảy ra trong trường hợp một lí lẽ mà kết luận được rút ra từ những tiêu đề không dính dáng gì với nhau. Chẳng hạn như “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học.”

33. Loại bỏ tiền đề. Ngụy biện loại này thường xảy ra dưới hình thức “nếu A thì B, không phải A thì không phải B.” Ví dụ: “Nếu tôi ở Sydney thì tôi đang ở New South Wales. Tôi hiện không ở Sydney, do đó, tôi không ở New South Wales”.

34. Nhét chữ vào miệng người khác. Đây là một loại ngụy biện bằng cách dùng kĩ thuật phỏng vấn. Một trường hợp cổ điển là “Ông đã ngưng đánh vợ chưa?” Tức là một câu hỏi với một giả định rằng người được hỏi từng hành hung vợ. Đây là một mẹo mà giới luật sư thường hay dùng trong thẩm vấn. “Ông dấu tiền ăn cắp đó ở đâu?” Giới chính khách cũng thích mẹo này, đại khái như “Bao giờ thì nhóm EU này sẽ không còn xâm phạm vào công việc của chúng ta?”
35. Ngụy biện tứ ngữ. (Một tiêu chuẩn của tam đoạn luận gồm có 3 chữ). Ví dụ như trong câu phát biểu “Tất cả chó là thú vật, và tất cả mèo là loài động vật có vú, do đó tất cả chó là loài động vật có vú,” có bốn chữ: chó, mèo, động vật, và động vật có vú.

36. Đứt đoạn. Hai sự vật riêng biệt được xem là có liên hệ nhau nếu chúng có chung đặc tính. Người ngụy biện lợi dụng chữ giữa của một phát biểu để đưa đến một kết luận sai. Chẳng hạn như trong câu “Tất cả người Nga là nhà cách mạng, và tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ cũng là nhà cách mạng, do đó, tất cả những người theo chủ nghĩa vô chính phủ là người Nga,” chữ chính giữa là “nhà cách mạng”. Nhưng kết luận này sai, vì dù những người theo chủ nghĩa vô chính phủ và người Nga là những người cách mạng, nhưng họ có thể là hai nhóm cách mạng khác nhau.

Nhóm 7. Các nhầm lẫn khác

37. Dẫn chứng bằng giai thoại. Một trong những ngụy biện phổ biến nhất và đơn giản nhất là dựa vào những câu chuyện có tính vụn vặt, hay giai thoại. Chẳng hạn như “Có hàng khối bằng chứng cho thấy thượng đế hiện hữu và vẫn ban phép mầu hàng ngày. Mới tuần rồi đây, tôi có đọc được một câu chuyện về một cô gái sắp chết vì ung thư, cả gia đình cô đi cầu nguyện trong nhà thờ, và chỉ vài ngày sau cô hết bệnh.” Dùng kinh nghiệm cá nhân để minh họa cho một luận điểm là một điều hoàn toàn hợp lí, nhưng dùng những giai thoại như thế sẽ chẳng chứng minh gì. Một anh bạn có thể cho rằng anh từng gặp Elvis ở một siêu thị nào đó, nhưng những người chưa gặp Elvis bao giờ thì cần nhiều bằng chứng xác thực hơn.

38. Lợi dụng cổ tích. 
Đây là một loại ngụy biện cho rằng những gì đúng hay tốt chỉ đơn giản vì chúng là cổ xưa, và những người theo cách ngụy biện này thường nói “hồi nào đến giờ ai cũng vậy.” Chẳng hạn như “Hàng trăm năm nay, Úc chịu dưới sự cai trị của Hoàng gia Anh, và là một nước thịnh vượng. Một thể chế tồn tại lâu dài như thế ắt phải là một thể chế ưu việt.”

39. Dựa vào cái mới (ad novitatem). Ngược lại với loại ngụy biện dựa vào cái cũ, ngụy biện dựa vào cái mới cho rằng một điều gì đó tốt hơn và đúng hơn đơn giản chỉ vì nó mới hơn cái khác. “Windows 2000 phải tốt hơn Windows 95, Windows 2000 mới được thiết kế lại năm ngoái.”
40. Lí lẽ của đồng tiền. Loại ngụy biện này thường dựa vào một niềm tin duy nhất rằng đồng tiền là một tiêu chuẩn của sự đúng đắn. Những người có nhiều tiến có khả năng đúng hơn những người ít tiền. Chẳng hạn như “Nhu liệu của hãng Microsoft đương nhiên là tốt hơn; nếu không thì làm sao Bill Gates có thể trở nên tỉ phú như thế”.

41. Dựa vào cái nghèo. Ngược lại với ngụy biện dựa vào sự giàu có, có một loại ngụy biện khác dựa vào sự nghèo khổ. Chẳng hạn như “Các vị sư có khả năng hiểu thấu được ý nghĩa của cuộc sống, bởi vì họ từ bỏ mọi xa hoa của cuộc sống.”

42. Điệp khúc (ad nauseam). Loại ngụy biện này cho rằng một lí lẽ càng được lặp đi lặp lại nhiều chừng nào thì nó sẽ được người ta chấp nhận là đúng. Do đó, người ngụy biện thường chỉ lặp đi lặp lại những phát biểu, bất kể đúng sai ra sao, cho đến khi người đối thoại mệt mỏi không còn muốn nghe nữa, như “Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, nhà nước quản lí”.

43. Lạm dụng thiên nhiên. Đây là một ngụy biện rất thông thường trong giới chính trị gia, mà trong đó họ tìm cái tương đồng giữa một kết luận nào đó và một khía cạnh của thế giới tự nhiên, rồi từ đó phát biểu rằng kết luận đó là không thể tránh khỏi. Chẳng hạn như “Đặc điểm của thế giới tự nhiên là cạnh tranh; động vật đấu tranh chống nhau để làm chủ tài nguyên thiên nhiên. Chủ nghĩa tư bản, một hình thức cạnh tranh để làm chủ tư liệu, chỉ đơn giản là một phần của con người sống trong thế giới tự nhiên. Đó cũng là cách mà thế giới tự nhiên vận hành.”

Một hình thức khác của lạm dụng thiên nhiên là lí luận cho rằng bởi vì con người là sản phẩm của thế giới tự nhiên, chúng ta phải bắt chước hành động theo những gì chúng ta thấy trong thế giới tự nhiên, và làm khác đi là “phi tự nhiên”. Ví dụ: “Đồng tính luyến ái dĩ nhiên là không tự nhiên.”

44. Ngụy biện “anh cũng vậy”. Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

45. Lạm dụng thống kê. Thống kê thường được giới ngụy biện sử dụng tối đa, vì theo họ thống kê có thể dùng để “chứng minh” bất cứ điều gì. Người ta có thể vặn vẹo hai con số 1 và 3 điểm để sản xuất những phát biểu như “khác nhau 2 điểm”, “cao gấp 3 lần”, hay “tăng 200%”; người ta có thể dựa vào ý kiến đồng tình của 4 người trong 5 người để cho là “80% người được thăm dò”, hay thậm chí “đa số cộng đồng” đồng ý với một luận điểm nào đó. Tức là những khái quát hoá một cách vội vã, hay dựa vào một mẫu số cực kỳ thấp, thấp đến độ nó không có nghĩa lí gì. Thực ra, thống kê không chứng minh điều gì cả. Thống kê chỉ là một phương tiện hay thuật toán dùng để loại bỏ những trường hợp khả dĩ hay không khả dĩ. Vì có quá nhiều ngụy biện thống kê, nên vấn đề này sẽ được bàn tiếp trong một dịp khác.

Nhận xét

Có thể nói những loại ngụy biện trên đây có những đặc điểm chung là (a) phát biểu không dựa vào lí lẽ logic; (b) các định đề không vững để đi đến một kết luận; và (c) đưa ra giả định không đúng. Ngụy biện, do đó, nói cho cùng, là một sản phẩm của sự lười biếng suy nghĩ. Và hầu như trong chúng ta, ai cũng có ít nhất là một lần lười suy nghĩ. Do đó, nếu điểm qua những loại ngụy biện trên đây, chúng ta tự cảm nhận rằng trong quá khứ mình chắc cũng có lần phạm vào lỗi lầm của ngụy biện. Điều này có thể đúng, và không nên lấy làm ngạc nhiên, vì các nhà thông thái, và ngay cả giới có huấn luyện về logic học cũng đôi khi, vì cố ý hay vô tình, ngụy biện. Giới chính trị gia và truyền thông là những người cực kì nổi tiếng về ngụy biện.

Nhưng tại sao những ngụy biện vẫn còn có mặt trên báo chí? Theo tôi, bởi vì chúng vẫn có khách hàng. Vẫn có người, dù ít hay nhiều, tin tưởng vào ngụy biện, vì nó thuận nhĩ, trơn tru, và nhất là không thách thức. Sờ một hòn đá trơn tru đem lại cho chúng ta một cảm giác khoan khoái dễ chịu hơn là sờ một hòn đá lởm chởm, hay ngồi trên một cái ghế ghồ ghề. Người ta thích sự trơn tru, bởi vì trơn tru là dấu hiệu của sự khoan khoái, dễ chịu, là cái khoảng thời gian giải lao, không cần sự thách thức.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Những kì kẹt xe trên đường xá mới để lộ trái tim phức tạp của một thành phố. Tương tự, một sự cố của internet sẽ nhắc nhở chúng ta về tình trạng hỗn mang và phức tạp của hệ thống thông tin điện tử. Sự hỗn mang và phức tạp là thực. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Bởi vì ngụy biện là những lí lẽ mà bề ngoài có vẻ logic, nên chúng có khả năng thuyết phục những người không chịu khó suy nghĩ, nhất là những người còn mang nặng cảm tính. Điều này giải thích tại sao nhiều người tiếp nhận một cách thụ động quá nhiều những điều quái gở về thế giới chung quanh, kể cả những niềm tin tôn giáo, những mê tín dị đoan, những triết lí quái đảng, những thông tin sai lạc, v.v.. Cái tác hại của việc tiếp nhận thụ động này là nó làm cho người ta trở nên nô lệ với cảm tính, và dễ dàng trở thành những tín đồ cuồng tín của những người “lãnh đạo” chính trị hay tôn giáo.

Để không trở thành những nô lệ, cần phải suy nghĩ nghiêm túc. Suy nghĩ nghiêm túc là một quá trình hoạt động tri thức nhằm ý niệm hóa, ứng dụng, phân tích, tổng hợp, và đánh giá những thông tin được thu thập từ quan sát, kinh nghiệm, phản ánh, lí luận, hay liên lạc, như là một niềm tin cho hành động. Cần phải dựa vào những giá trị tri thức với những đặc điểm như trong sáng, chính xác, nhất quán, có liên hệ, bằng chứng tốt, lí lẽ hợp lí, có chiều sâu, và công bằng. Tức là, trước một câu phát biểu hay một đề nghị, cần phải thẩm định lại kết cấu và nguyên tố của phát biểu hay đề nghị đó. Những kết cấu và nguyên tố này là: mục đích, vấn đề, giả định, quan niệm, bối cảnh, kết luận, ngụ ý, hậu quả, phạm vi tham khảo, và quan điểm khác.

Người Việt chúng ta thường rất tự hào về những đối thoại [mà chúng ta cho là “thông minh”] giữa Trạng Quỳnh và Chúa Trịnh ngày xưa. Nhưng nói một cách công bằng và theo tiêu chuẩn của lí luận logic, thì những trao đổi của Trạng Quỳnh hay tương tự chỉ là những ngụy biện ở trình độ thô sơ nhất. Nhưng có điều đáng buồn là những đối thoại kiểu Trạng Quỳnh, mà trong đó sự hơn thua nhau từng câu nói, bắt bẽ nhau từng chữ, vặn vẹo ý nghĩa của từng câu văn, v.v… lại đi vào sử sách, như thể để làm gương cho thế hệ sau này. Mà làm gương thật. Cho đến ngày nay, có người vẫn còn cho đó là một biểu tượng của sự thâm thúy, thông minh của dân tộc, là phản ánh sự phong phú của ngôn ngữ Việt, và đem ra ứng dụng trong tranh luận.

Theo dõi báo chí, chúng ta thấy những hình thức tấn công cá nhân (thay vì tấn công vào luận điểm), xuyên tạc ý tưởng, chụp mũ, suy luận theo cảm tính, mỉa mai, đơn giản hóa vấn đề, v.v… xuất hiện hầu như hàng ngày, có khi hàng giờ. Vì những tần số của những loại ngụy biện xuất hiện quá nhiều như thế, nó thành một sự rập khuôn. Theo thời gian, rập khuôn trở thành “truyền thống”. Hậu quả của cái truyền thống này là những ai ra ngoài cái khuôn sáo của ngụy biện đều có thể bị xem là phi chính thống, dẫn đến một lối suy nghĩ và phán xét kì quặc kiểu “anh/chị không thuộc nhóm của tôi, vậy thì anh/chị thuộc nhóm bên kia,” “anh chê ‘quốc gia’, vậy anh phải là cộng sản,” “anh khen Việt Nam, vậy anh là cộng sản,” “giọng nói anh ‘Bắc kỳ 75’, vậy anh là cộng sản,” hay “Nhà nước cho anh ra ngoài này trình diễn, chắc anh là cộng sản đi tuyên truyền”… Anh ở phía này, tôi bên kia. Nói tóm lại, đó là một lối phân định theo hai giá trị: xấu và tốt, đen và trắng, hay địch và ta một cách cứng nhắc. Cách phân định này thể hiện một sự nghèo nàn về trí tuệ, hay lười biếng suy nghĩ. Chỉ cần đặt vấn đề ngược lại một chút, hay phát triển vấn đề xa hơn một chút, ai cũng có thể thấy lối phân chia có/không này không thể đem đến một đáp số cho một vấn đề nào cả.

Trong cái sự thực phức tạp, mờ mờ ảo ảo của vấn đề, có cái đẹp riêng. Không phải cái đẹp trơn tru, tròn trĩnh, nhưng là cái đẹp khắt khe của sự thật. Tương tự, một lời phát biểu nghịch lí có cái đẹp của nó, vì nó có thể đánh thức chúng ta về một thế giới phức tạp, một thế giới không nằm gọn trong đúng/sai, tốt/xấu, bạn/thù. Có lẽ đã đến lúc chúng ta nên vượt qua chính mình bằng cách cho các tế bào trí tuệ có cơ hội làm việc.

BTĐ (Theo nguyenvantuan.net)

———————————————-

VỀ TÍNH HAY CÃI CỦA NGƯỜI QUẢNG NAM

Ta thường nghe có câu:” Quảng nam hay cãi, Quảng ngãi hay co,Bình định hay lo, Thừa Thiên ních hết”.Cãi là cãi cọ , cãi nhau.Co là đôi co, gây sự,Lo là lo lắng,suy nghĩ.Ních là đều có các tính xấu như trên nhưng lại im im, không thể hiện gì ra ngoài (chỗ này chưa rõ nghĩa lắm).

Tại sao lại có câu ca trên thì có nhiều người đã giải thích(miệng) chứ không có văn bản nào.Về tính hay cãi và hay co của Quảng nam và Quảng ngãi có lẽ gần nhau nên đưa về cùng ” một họ” sẽ được các cao thủ “cãi”(chính gốc người Quảng nam) giải thích sau.Còn vì sao người Bình Định lại hay lo?Có thuyết nói rằng từ khi Gia Long lên làm vua đã quay lại diệt nhà Tây Sơn ở Bình Định (nơi phát tích nhà Tây Sơn)rất tàn khốc để trả thù, tạo nên nỗi lo sợ cho muôn dân.Chính vì vậy người Bình Định cũng khôn ngoan hơn người Quảng nam và Quảng ngãi, bởi họ biết lo lắng để vượt qua cơn sợ hãi mà vươn lên trong cuộc sống.Còn Thừa Thiên là đất cố đô ,vua quan nhiều đời, nề nếp gia phong , tạo cho họ tính kín đáo, không biểu lộ gì ra ngoài nhiều.Dân dã cũng tự khép mình như con Vua cháu chúa ,yêu cũng chẳng biết mà ghét cũng không hay,đèn nhà ai nhà ấy sáng .Nhưng có lẽ những nhận định này chỉ đúng với người ngoại tỉnh mà thôi.Nhận xét trên chưa hẳn là đúng.

Lý giải hiện tượng “Quảng Nam hay cãi”, phó giáo sư ngôn ngữ học Vương Hữu Lễ cho rằng điểm xuất phát câu truyền khẩu này liên quan đến sự kiện cách nay hơn 75 năm. Khởi đầu là cuộc bút chiến giữa hai nhà báo Phạm Quỳnh và Ngô Đức Kế vào năm 1924. Cụ Phạm Quỳnh đề cao Truyện Kiều là “quốc hồn, quốc hoa, quốc túy”, cụ Ngô Đức Kế chống lại bằng bài viết “Nền quốc văn và luận chính học cùng tà thuyết”. Một thời gian dài cụ Phạm Quỳnh im lặng.

Sáu năm sau, cả nhà báo Phan Khôi trên báo Phụ Nữ Tân Văn ở Sài Gòn và nhà báo Huỳnh Thúc Kháng trên báo Tiếng Dân ở Huế lên tiếng về sự im lặng của cụ Quỳnh. Thế là cuộc tranh luận có tiếng vang trong khắp nước bởi hai nhà báo tiếng tăm và sắc sảo của các tờ báo lớn trong nước thời ấy. Và hơn mười năm sau (1941), hai nhà báo gốc Quảng này lại bắt bẻ lẫn nhau về chuyện “thơ mới” được đăng tải trên báo Tiếng Dân và Dân Báo. Chính vì lẽ đó mà công luận chú ý “giọng nói” của hai ông và người ta nghĩ rằng người Quảng Nam có tính “hay cãi”.

Đáng chú ý là vào năm 1922, cụ Phan Châu Trinh đã khẳng khái “cãi” đến… thiên tử, khi nhà vua không làm tròn trách nhiệm. Đó là sự kiện khi vua Khải Định sang Pháp dự đấu xảo ở Marseille, cụ đã viết Thư thất điều kể bảy tội của vị vua này, trong đó có hai tội không thể dung tha: làm nhục quốc thể và vung phí của dân. Có thể xem Thư thất điều là bản “tuyên ngôn” của một công dân nước ta “cãi” với người cầm quyền cao nhất!

Phan Thanh Minh (Đài phát thanh – truyền hình Quảng Nam)

Vũ Đức Sao Biển:

Kỳ 1: “Chó chi cắn dê?”

Năm 1999, UBND huyện Hàm Thuận Nam có nhã ý cho phép tôi tham quan ngọn hải đăng Kê Gà có lịch sử 100 năm. Tôi cùng đi với anh P.N. ở báo Bình Thuận.

Khi thấy ông chánh văn phòng UBND huyện đưa chúng tôi ra đến bãi biển Tân Thuận, anh đội trưởng phụ trách hải đăng bơi chiếc thúng chai vào đón. Tôi nhìn quanh bãi biển vắng, chỉ thấy một chiếc thuyền đánh cá lớn mang số hiệu QNa (Quảng Nam) đậu sát mé bờ. Trên thuyền có một ông già đầu bạc ngồi xem báo. Tôi biết đó là một thuyền đánh cá của dân Quảng Nam đang ghé Bình Thuận bán cá.

Cãi vì… bất bình

Ông chánh văn phòng hỏi anh đội trưởng: “Hôm nay anh em hải đăng mình có món gì đãi khách không?”. Anh đội trưởng nói: “Thưa anh, không có gì hết”. “Ủa, sao lạ vậy? Tôi nhớ hồi trước anh em mình nuôi nhiều dê lắm mà”. “Thưa anh, đàn dê nuôi trên hải đăng bị chó cắn chết hết rồi. Để em hỏi xem thuyền đánh cá này, không chừng có cá ngon mình mua nấu cháo”.

Nhạc sĩ, nhà báo Vũ Đức Sao Biển

“Tác phẩm Tam quốc chí của La Quán Trung kể chuyện Khổng Minh (Tây Thục) cãi nhau với quần nho nước Đông Ngô. Tác giả gọi đó là trận “thiệt chiến” (đánh nhau bằng lưỡi). Tôi có thể nói người Quảng Nam đánh… võ lưỡi rất giỏi. Họ đúng là những nhà “thiệt chiến”, không phải từ bây giờ mà đã từ trên 500 năm qua. Cãi là một cách thể hiện tính cách Quảng Nam của chính mình và tự chứng tỏ mình!”

Câu chuyện giữa hai người đến chỗ ấy thì bỗng dưng ông già đầu bạc ngồi trên thuyền phản ứng. Ông vất tờ báo và đôi mắt kính vào khoang, nói chen vào bằng ngữ thanh đặc sệt Quảng Nam với một ngữ khí rất gay gắt: “Chó chi cắn dê? Mấy ông bắt dê ăn thịt hết thì nói trớt cha là ăn thịt hết rồi, chớ đừng đổ thừa do chó cắn”. Câu nói của ông già làm anh đội trưởng hơi quê.

Anh nói: “Bác ơi, chuyện của tụi tui mà. Bác có cá gì ngon bán cho tui một con nấu cháo”. Ông già Quảng Nam vẫn gân guốc: “Mới đi biển về, cá ngon dư sức có. Đồng ý ông nói chó cắn chết dê là chuyện của ông nhưng tui nghe không thuận lỗ tai. Tui đã từng nuôi dê bầy, không có con chó mô cắn dê hết. Ông nói chó cắn dê là ông vu oan giá họa cho con chó, nói trật! Chừ có cá đó nhưng tui không muốn bán!”.

Anh đội trưởng thiếu điều muốn lạy ông già Quảng Nam, còn tôi thì khoái vì bỗng nhiên lại gặp đồng hương có… năng khiếu cãi như mình. Tôi bỏ giày, xăn quần lội ra mép nước, cũng nói bằng giọng Quảng Nam chánh cống: “Nề bác ơi, chớ bác ở huyện mô ngoài mình mà vô đây đánh cá?”.

Ông già nhìn tôi, ngữ khí đã dịu xuống: “Tui ở Điện Bàn. Còn ông?”. “Tui ở Duy Vinh, Duy Xuyên”. “Rứa hả? Ông ra đây làm chi?”. “Dạ, lên tham quan ngọn hải đăng”. Ông già cười: “Hóa ra ông là khách đó hỉ? Nề, ông đội trưởng, thôi ông lại đây tui bán cá cho”. Đội trưởng xăn quần lội xuống mép nước. Ông già gân còn ráng “vớt” thêm một câu: “Ông mà còn nói chuyện chó cắn dê thì dẫu mua 100 ký cá tui cũng không bán”.

Khi chúng tôi mua được con cá chét, ngồi lên thúng chai để ra hải đăng, ông già cười nói với tôi: “Đồng hương đi “tham quan tham vua” cho vui hỉ!”. “Dạ. Chúc bác khỏe hỉ!”. Ông chánh văn phòng ủy ban lắc đầu: “Đúng là gặp ông già Quảng Nam!”.

Cãi để… tồn tại

Ông già kia neo thuyền là để đợi người mua cá. Đáng lẽ ông bán cá càng nhiều càng tốt, nghĩa là phải dụ cho người ta mua, phải… thỏa hiệp với người mua. Với một ngư dân miền khác nghe câu chuyện đó họ có thể chỉ nhún vai cười ruồi. Nhưng ngày xui tháng rủi, anh đội trưởng nói một câu “nghe không thuận lỗ tai” trước một ông già gân Quảng Nam thứ thiệt nên bị “dính chấu”.

Người Quảng Nam thường thích đấu tranh bằng lý lẽ, mặc dù những nội dung đấu tranh ấy không liên quan gì đến họ. Họ muốn chân lý và sự công bằng được tôn trọng. Tôi nhớ đâu khoảng năm 1964 hay 1965 gì đó, một viên quận trưởng quận Duy Xuyên đã có hành vi cưỡng bức một thiếu nữ 16 tuổi. Vụ việc bị người dân biết được. Thế là người dân các xã tự động kéo đến quận đường Duy Xuyên đấu tranh. Đầu tiên họ cãi nhau với lính gác để vào được bên trong. Sau đó họ cãi nhau với viên quận trưởng. Và họ đã thi hành công lý một cách tự phát: cạo đầu viên quận trưởng để trừng phạt.

Đất Quảng, nơi mùa hè gió nam từ Trường Sơn thổi xuống mang theo cái nóng nung người, mùa đông gió mùa đông bắc lạnh đến cắt da cắt thịt. Đã thế năm nào cũng bị bão lụt tàn phá, con người Quảng Nam luôn phải đấu tranh với thiên nhiên để sinh tồn từ đời này qua đời khác. Đấu tranh đã trở thành thuộc tính của họ. Cãi là một hình thức thể hiện thuộc tính đấu tranh.

Từ xưa, tỉnh Quảng Nam được xem là tỉnh nghèo, đời sống kinh tế khó khăn. Cơ bản Quảng Nam năm nào cũng đói kém nên về đời sống kinh tế người Quảng Nam không thể giàu sang hơn ai. Không hơn người bằng kinh tế, người Quảng Nam chỉ còn biết phát triển trí tuệ. Dân Quảng Nam chuyên cần, học giỏi, say mê sách vở, ham hiểu biết. Cãi (hiểu theo nghĩa phản biện) là một phản ứng của con người trí tuệ. Khi người Quảng Nam cãi, họ vận dụng hết lý lẽ, câu chữ, thái độ. Họ phải cãi cho thắng cơ!

Đất Quảng Nam là đất của những lưu dân Thanh – Nghệ vào lập nghiệp từ thế kỷ 15, sau chuyến tuần du của vua Lê Thánh Tôn về phương Nam lập ra dinh trấn Quảng Nam. Những người bỏ quê nhà ra đi về phương Nam khẩn hoang là những người nghèo. Thời quân chủ, họ bị quan lại, địa chủ, cường hào bóc lột. Thực dân Pháp đã chọn Đà Nẵng của Quảng Nam làm nơi nổ súng đầu tiên, mở màn cho cuộc chiến tranh xâm lược năm 1858.

Đế quốc Mỹ cũng chọn Đà Nẵng của Quảng Nam làm nơi đổ quân đầu tiên thực hiện cuộc chiến tranh xâm lược năm 1965. Người Quảng Nam luôn phải đi đầu trong chiến tranh, luôn chịu nhiều đau thương, áp bức, bóc lột. Chính vì vậy họ khao khát sự công bằng, yêu chân lý. Cãi là một hình thái đòi hỏi sự công bằng, hướng tới chân lý.

Sau cùng, người Quảng Nam là người cứng rắn, chịu chơi. Họ cứng rắn đến độ ngoan cố và chịu chơi đến mức có thể chung hết cuộc đời mình. Phong trào kháng thuế Trung kỳ xuất phát từ các nhân sĩ, trí thức Quảng Nam đối kháng với chế độ thực dân Pháp chứng tỏ sự cứng rắn, chịu chơi đó. Đối kháng với kẻ thù cũng là một cách cãi. Bởi người Quảng Nam luôn tự tin ở chính mình. Họ tin họ phải thắng, dù là… “thiệt chiến”

Kỳ 2: Những “chiêu thức” cãi

Cãi nhỏ

Trên quốc lộ 1A đoạn qua huyện Điện Bàn có quán bún xương BL khá danh tiếng. Một ông cụ vào gọi tô bún xáo. Cô phục vụ bàn bưng tô bún ra, ông cụ bảo: “Mi đem vào đổi tô khác. Tô ni nước không sôi”. Cô gái vâng lời, đem vào đổi tô khác bưng ra.

Ông cụ vẫn điềm nhiên: “Tô ni nước không sôi. Đổi tô khác cho tao”. Đến nước này thì cô gái không chịu được nữa, nói: “Răng ông nói nước không sôi? Nước sôi ào ào người ta mới đổ vào và bưng ra đây”. Ông cụ vẫn điềm nhiên: “Mi nói nước sôi hả? Nước sôi răng mi đút được hai ngón tay cái khi bưng bún ra cho tao?”.

Tôi may mắn chứng kiến được cảnh cãi lộn đó, phì cười đến nỗi cục xương bò văng ra. Đôi mắt quan sát của ông cụ khá tinh tế, nhìn một cái đã biết cô gái đút hai ngón tay vào tô bún. Chưa chắc là cô gái đã thật sự đút hai ngón tay vào nước nóng nhưng cách bưng tô bún của cô làm ông cụ bực mình.

Tôi nhắc cô gái: “Cháu nên để tô bún trên cái đĩa rồi bưng ra”. Quả nhiên, đến tô thứ ba thì ông cụ mới chịu ăn mặc dù nước có thể nguội ngắt.

Người Quảng Nam hay cãi thường có giả bộ như nghe lời của người khác nhưng… vẫn làm theo ý của mình và nói theo ý của mình. Cái gì họ thấy không đồng ý mặc dù đã được người khác quyết, họ vẫn nói ngay ra.

Mới đây, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm vụ phá rừng Khe Diên, trong đó có bị cáo T.Đ.M. – nguyên hạt trưởng Hạt Kiểm lâm huyện Quế Sơn. Ông M. khai chính cấp trên của ông đã chỉ đạo ông làm như thế nhưng các vị cấp trên đó thì không ai ra tòa. Tòa tuyên phạt ông 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Án đã tuyên nhưng ông M. vẫn càm ràm: “Thưa quý tòa, đây là một vụ án mà quạ ăn dưa bắt cò phơi nắng”. Tòa chỉ còn biết cười.

Và cãi… lớn

Ông Lê Trí Tập – nguyên chủ tịch tỉnh Quảng Nam: “Nước lũ đã dâng trắng đồng, tin khẩn từ hồ Phú Ninh liên tục báo về mực nước đã ngấp nghé đến cao trình xả lũ. Đúng lúc ấy tôi nhận được công điện khẩn của Ban chỉ đạo Phòng chống bão lụt trung ương gửi vào với nội dung: “Nếu nước lũ đến cao trình thì buộc phải phá đập, xả lũ”.

Tuy nhiên, nếu làm đúng như “lệnh trên” thì không biết dân sẽ chết như thế nào vì bên dưới chân đập Phú Ninh là cả thị xã Tam Kỳ với hàng mấy trăm nghìn dân.

Suy nghĩ một hồi tôi quyết định đưa ra một phương án đối lập với “lệnh trên” là tìm cách bảo vệ đập bằng việc đắp cao thêm 30cm. Khi ấy có người cho rằng tôi cãi lại lệnh trên. Tâm trạng tôi lúc đó hết sức bình tĩnh. Mình chắc chắn làm được thì mới dám cãi lại chứ!”.

Đăng Nam

Tích cực hơn, người Quảng Nam hay cãi thẳng thừng không tuân lệnh cấp trên mặc dù họ biết hành động đó khiến họ có thể mất chức, mất việc. Ai đã chứng kiến cuộc họp khẩn cấp tại UBND tỉnh Quảng Nam trong đêm lụt tháng 12-1999 mới khâm phục tính cứng rắn, quả cảm của ông Lê Trí Tập, chủ tịch ủy ban.

Ông Tập từng là kỹ sư thủy lợi, tham gia xây dựng hồ Phú Ninh (nằm giữa thành phố Tam Kỳ và huyện Phú Ninh). Trong cơn lụt dữ dội năm 1999, nước nguồn Chiên Đàn tràn về và mưa tràn lai láng các mặt đập. Ông Tập ra lệnh cho 5.000 thanh niên xung kích, bộ đội, công an… lấy bao cát be bờ mặt đập, đồng thời cho xả lũ theo đúng quy trình, quyết giữ hồ Phú Ninh.

Đang lúc chiến đấu căng thẳng nhất thì các cán bộ trung ương đề nghị ông Tập ra lệnh phá một mặt đập cho nước thoát tự do để hồ Phú Ninh khỏi vỡ.

Ông Tập nói: “Ra lệnh nổ mìn để phá một mặt đập thì hàng mấy trăm nghìn mét khối nước sẽ tràn ngập Tam Kỳ; căn nhà mà chúng ta đang ngồi đây có thể lộn đi ba vòng; chúng ta cùng nhân dân Tam Kỳ, Núi Thành, Thăng Bình sẽ chết. Phá mặt đập cũng chết, không phá thì đập vỡ cũng có thể chết. Vậy tôi cương quyết không ra lệnh phá mặt đập”.

Cán bộ trung ương đề nghị ông Tập ra lệnh cho di dời dân rồi hãy phá mặt đập. Ông Tập cương quyết: “Bây giờ đã là 10 giờ đêm. Chúng tôi lấy đâu ra phương tiện thuyền bè để di dời mấy vạn dân? Mà ban đêm tối thui thế này, liệu họ có chịu ra khỏi nhà cho chúng tôi di dời? Nước lên bốn bề, làm sao lo chỗ ăn chỗ ngủ cho bà con? Di dời cũng chết, không di dời cũng chết, vậy tôi cương quyết không di dời”.

Cuộc họp thật sự nổi sóng gió. Ông Lê Trí Tập đã đúng. Về khuya trời ngớt mưa; sáu mặt đập vẫn xả lũ theo đúng quy trình. Nước hạ xuống. Hồ Phú Ninh hiên ngang tồn tại. Bề ngoài ông Lê Trí Tập là con người hiền hòa, rất dễ thân nhưng bên trong, tinh thần và ý chí ông rất cứng rắn. Việc ông “cãi lệnh trên” không phá mặt đập bắt nguồn từ niềm tin nội tâm và tính “dám quyết, dám chịu” của một thuyền trưởng trong giờ phút con tàu có thể đắm!

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

Kỳ 3: Chiêu thức “trước cãi, sau thương”

TT – Bạn là người đàn ông lần đầu tiên gặp và bày tỏ sự thân mật với một cô gái. Nếu là cô gái Hà Nội, cô ta sẽ phản ứng khá dịu dàng: “Ấy chết, anh buông tay em ra”. Còn cô gái Huế sẽ phản ứng cực kỳ nhỏ nhẹ: “Tội nghiệp em, em còn nhỏ mà”. Còn cô gái Nam bộ có thể sẽ nói: “Coi chừng người ta thấy”…

Nhưng nếu đó là cô gái Quảng Nam, cô sẽ phản ứng rất thô bạo: “Chớ ông làm cái chi rứa? Ông bỏ tay tui ra chưa?”. Gặp trường hợp như vậy xin bạn đừng quê độ, đừng sốc. Người Quảng Nam luôn trả lời bằng một câu hỏi mà. Xin hãy cứ bình tĩnh và tiến tới. Cho đến khi cô gái Quảng Nam nói với bạn: “Chu, cái ông ni dễ thương kinh” thì có nghĩa là bạn đã thành công.

Đặc biệt, người Quảng Nam thường trả lời câu hỏi của bạn bằng một câu hỏi ngược lại. Thí dụ bạn hỏi: “Đi một mình đến đây à?”, người ta sẽ trả lời: “Một mình chớ mấy mình?” hoặc nghiêm trọng hơn: “Thấy một mình răng còn hỏi lui hỏi tới?”.

Ở chừng mực nào đó, người hay cãi giúp đối tượng có cơ hội tự nhìn lại mình. Tôi có một ông bạn có con thi đại học 14 năm trước đây. Môn toán của cháu không biết làm sao chỉ đạt điểm 2. Anh mang hồ sơ khiếu nại đến cho tôi coi và thuyết pháp đến… vài giờ rồi mới đi cãi.

Tôi nghĩ bụng chắc anh chẳng làm ra cái cơm cháo gì. Ấy vậy mà anh cãi hay đến nỗi người ta phải phúc khảo lại điểm toán cho thằng bé. Điểm phúc khảo đạt 8 điểm. Nó đậu hoành tráng. Tiếc là anh bận làm kinh tế, không viết lại quyển Nghệ thuật cãi điểm thi cho… đời sau học tập. Tôi nghĩ các vị giám khảo phải cảm ơn anh bạn tôi.

Nếu hiểu cãi như một cách phản biện để tìm ra cái đúng thì việc cãi của người Quảng Nam thật sự rất hay. Người Quảng Nam biết cãi là ở một chừng mực nào đó thể hiện được dũng khí của mình. Ít nhất trước một sự kiện, tình huống nào đó của cuộc đời, người biết cãi cũng thể hiện được một thái độ sống.

Khi người ta lên tiếng cãi là người ta không vô cảm, không hờ hững với đời. Nếu ta đi trên đường đời mà việc gì cũng tai ngơ mắt lấp, không nghe, không thấy, không biết và không có ý kiến thì sống làm gì? Cãi là một cách chứng minh quyền bình đẳng. Anh ỷ anh ăn miếng ngon, mặc áo veste, ở nhà lầu, đi xe đời mới mà nói bậy là tôi được quyền cãi chứ!

Tuy nhiên cũng có khía cạnh khác trong cái cãi này, chẳng ai ghi lại thành nhật ký nhưng người Quảng Nam nhớ rất dai, đặc biệt là những chuyện làm họ bực mình. Thế là họ đợi có dịp gặp nhau để… cãi. Dịp tốt nhất để cãi là đám giỗ. Trời ơi, những chuyện thời “cố lũy cố lai” nào đó được dịp tuôn ra khiến chủ nhà mời đám giỗ lo cuống quýt, sợ khách… ra quyền cước.

Viễn tổ của tộc Vũ Văn chúng tôi vốn người Thanh Hóa, vào Quảng Nam khai khẩn vùng đất hạ du sông Thu, lập làng từ trên năm thế kỷ trước. Làng ấy bây giờ là xã Duy Vinh, huyện Duy Xuyên.

Theo các bậc trưởng thượng kể lại, năm Thành Thái thứ 13 (1902), hai tộc Vũ Văn và Nguyễn Tấn tranh nhau cái tiền hiền. Ban đầu họ cãi nhau bằng miệng, sau đó dùng tới gậy gộc, giáo mác. Phụ nữ lo tiếp cơm nước, đàn ông lo đánh nhau chỉ để giữ tấm bia tiền hiền đầu làng. May mắn sau đó có sắc phong của vua Thành Thái về công nhận Vũ Đức tộc đứng vai tiền hiền.

Mọi chuyện tạm yên nhưng các cụ vẫn ấm ức, dặn trai gái hai tộc không được lấy nhau. Chuyện xảy ra năm 1902 mà tới năm 1959, trưởng tộc còn dặn dò con cháu. Rứa mới kinh!

Kỳ cuối: Cãi vì dân sinh

TT – Nguyên phó chủ tịch Quốc hội Mai Thúc Lân (quê ở huyện Điện Bàn, Quảng Nam) cũng nổi tiếng về cãi. Lúc ông Lân làm bí thư tỉnh ủy – trưởng đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Quảng Nam, trong một lần họp Quốc hội, đoàn Quảng Nam được mời phát biểu trước, ông Lân nói để các đoàn khác nói trước.

Lúc giải lao, chủ tịch Quốc hội hỏi ông Lân: “Sao chủ tịch đoàn mời mà ông không chịu phát biểu?”. Ông Lân mới trả lời: “Phải để cho các tỉnh nói trước, sau đó Quảng Nam cãi thì mới ra luật được. Tôi nói rứa có đúng không?”. Chủ tịch Quốc hội bật cười.

Cãi với tỉnh

Bí thư Thành ủy Hội An Nguyễn Sự là người nổi tiếng hay cãi tới cùng. Hồi ông làm chủ tịch UBND thị xã Hội An (trực thuộc tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng cũ) đã cãi nhau kịch liệt với lãnh đạo tỉnh và tuyên bố sẽ bỏ các cuộc họp quan trọng nếu tỉnh không chấp thuận cho nơi này được bán vé tham quan để trùng tu di tích cổ.

Thời điểm 1995-1996 phố cổ Hội An xuống cấp nghiêm trọng, người dân lén phá nhà cổ xây nhà mới ngày càng nhiều. Muốn người dân không đập nhà cổ thì thị xã phải có tiền hỗ trợ bà con. Chủ trương “dựa vào di tích để nuôi di tích” ra đời. Sau nhiều lần bàn bạc, tháng 8-1996 thị xã Hội An trình lên UBND tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng bản đề án bán vé tham quan phố cổ với giá 10.000 đồng/khách trong nước và 5 USD/khách nước ngoài.

Sự phản kháng quyết liệt nảy sinh từ các doanh nghiệp kinh doanh lữ hành và tỉnh đã không đồng ý. Tại cuộc họp do tỉnh tổ chức, ông Nguyễn Sự bỏ họp, kéo bầu đoàn ra về. Những cuộc họp sau đó Hội An cũng không dự. Cuối cùng tỉnh nhượng bộ. Nhờ vậy nguồn thu từ bán vé tham quan mỗi năm lên đến gần 10 tỉ đồng. Thị xã hỗ trợ phù hợp 25-70% kinh phí trùng tu nhà cổ cho dân.

Cãi với… “quan”

Ông Sự hay cãi với cấp trên nhưng cho hay dân chúng cũng “cãi” với ông như cơm bữa. Ông nói: “Dân lúc nào mà không cãi, vấn đề là khi mình làm mọi chuyện vì quyền lợi của họ, họ sẽ tâm phục khẩu phục!”.

Trong cơn lũ lịch sử năm 1999, trong lúc các xã khẩn cấp di dời dân tránh lũ thì có một bà cụ hơn 70 tuổi nhà ở sát sông tại thôn Vĩnh Thành, xã Cẩm Nam kiên quyết không chịu ra khỏi nhà. Tình hình mỗi lúc một khẩn cấp, cả thôn ai cũng đi, riêng bà cụ này không chịu đi với lý do: “Tui là bà mẹ Việt Nam anh hùng. Xe tăng Mỹ tới ủi nhà, súng đạn tụi hắn mở rốp rốp tui còn không sợ, sợ chi ba cái nước lụt ni mà biểu tui đi. Tui không đi”.

Trước tình thế này chính quyền xã Cẩm Nam cầu cứu ông Sự. Ông Sự cho canô chạy qua và ra lệnh: “Nếu bà không chịu đi thì tôi ra lệnh bắt giam. Nhà sắp trôi sông, bà không chịu đi thì chết ai chịu”. Lúc đó bà cụ mới nhẹ giọng: “Nếu chú Sự bắt thì tôi đi”. Vừa mới đưa bà cụ ra khỏi nhà, chừng 15 phút sau ngôi nhà kiên cố của cụ ụp xuống sông. Lúc ấy bà cụ mới quay qua khóc: “Tui già rồi lẩn thẩn mấy chú bỏ qua cho. Tui cảm ơn, không có mấy chú cứu thì tui trôi sông rồi!”.

Một chuyện khác, hồi cơn bão số 6 năm 2007 tràn vào Quảng Nam – Đà Nẵng. Toàn bộ dân các xã ven biển của thị xã Hội An được di dời ngay trong đêm. Vậy mà có một ông già ở làng An Bàng, xã Cẩm An đem tấm Huân chương Kháng chiến hạng 3 để ngay trên bàn thờ giữa nhà và tuyên bố với lãnh đạo xã: “Tui không đi đâu hết, Mỹ mạnh rứa, súng ống đầy mà còn sợ tui, gió bão là cái thứ chi mà tui phải sợ. Mấy ông ngon làm chi đó làm, tui không đi”.

Thuyết phục không được, cưỡng chế cũng không ăn thua vì ông già nằm ăn vạ không nhúc nhích. Tình hình mỗi lúc thêm căng, xã nhờ ông Sự can thiệp. Lúc ông Sự xăm xăm bước vào nhà, thấy ông già nằm quay lưng ra cửa ăn vạ bèn nói to: “Lính Mỹ sợ ông chớ gió bão sợ chi ông. Bão có nghe ông cãi đâu. Chừ ông có đi hay không?”. Ông già ngoảnh mặt ra, thấy ông Sự bèn hạ giọng: “Chú Sự hả, chú nói rứa thì tui đi!”.

“Kiện” cây hoa sữa

Trên đường Huỳnh Thúc Kháng, thị xã Tam Kỳ những năm trước có đến hơn 300 cây hoa sữa được trồng ken dày. Để chung sống với mùi hoa sữa, người dân sống dọc hai bên đường đành phải đeo khẩu trang suốt ngày hoặc đóng kín cửa nhà để tránh mùi thơm bất đắc dĩ mà họ phải gánh chịu, mỗi khi trời trở gió heo may hoa sữa nở.

Các hộ dân nằm trên tuyến đường này không chịu nổi mùi hoa sữa nồng nặc nên bàn cách chặt bớt. Nhưng quy định của thị xã hễ ai đụng vào cây hoa sữa sẽ bị phạt rất nặng. Các hộ dân họp lại với nhau tìm cách đối phó với cây hoa sữa. Có người đưa ra ý phải viết đơn kể tội và “đi kiện” cây hoa sữa.

Trong lá đơn, bà con mỗi người góp một ý. Người buôn bán thì bảo rằng buôn bán ế ẩm bởi khách không dám đến, hết mùa hoa lại khổ vì mùa trái hoa sữa chín, nở bung ra bay khắp nhà giống như lông chó, đến bữa ăn phải đóng cửa vì sợ bay vô thức ăn. Người thì đưa ra chuyện nhà có người bị bệnh dị ứng với mùi hoa sữa, phải tìm cách chuyển nhà. Nói chung cả một rừng lý do thảm não và đầy tính “dân sinh”. Đơn gửi đi với lý lẽ rõ ràng, chính quyền thị xã Tam Kỳ phải ra lệnh chặt bỏ bớt cây hoa sữa trên tuyến đường Huỳnh Thúc Kháng. Dân hỉ hả ra mặt!

VŨ ĐỨC SAO BIỂN

Nhà văn Nguyên Ngọc:

Cái tính hay cãi của người Quảng Nam có nguồn gốc lịch sử. Từ thời vua Lê Thánh Tông (1471) đã có một cuộc di dân vào Nam và lập nên Quảng Nam – Thừa Tuyên từ đèo Hải Vân trở vào. Đến thời Trịnh – Nguyễn phân tranh, Nguyễn Hoàng (1600-1602) chọn vùng đất Quảng Nam để lập nghiệp và đây là cuộc di dân lớn thứ hai từ Thanh Hóa vào.

Những người dân đi theo Nguyễn Hoàng vào Quảng Nam là những người cãi lại xã hội thối nát đương thời và mong muốn xây dựng một xã hội mới tốt đẹp hơn. Đó chính là sự chống đối và cãi lại cái lạc hậu. Cũng nhờ vậy mà từ một xã hội thuần nông trước đây, Nguyễn Hoàng đã giúp dân làm quen với thương nghiệp, mở rộng bờ cõi về phương Nam, lập ra thương cảng Hội An sầm uất làm ăn, giao lưu với quốc tế. Nếu không có sự “cãi lại” đó thì làm gì mà có Hội An như bây giờ?

Còn “cải cách” từ phong trào Duy Tân của cụ Phan Chu Trinh là từ Hán – Việt nên không đồng nghĩa với từ “cãi”. Tuy nhiên về nội dung thì như nhau, bởi cụ Phan Chu Trinh muốn cải cách là muốn thay cái cũ lạc hậu, không hợp thời để có cái mới tốt đẹp hơn. Theo cụ Huỳnh Thúc Kháng, cụ Phan Chu Trinh chính là nhà cách mạng đầu tiên của Việt Nam. Cách mạng ở đây là thay đổi xã hội cũ, tạo lập một xã hội mới

————————————

QUẢNG NAM HAY CÃI

Lê Thứ Lang

Không biết chính xác được điểm xuất phát, nhưng suốt một dọc dài các tình Nam, Ngãi, Bình, Phú, Quảng Trị, Thừa Thiên, từ xưa đến nay vẫn hay phổ biến câu phương ngôn:
Quảng Nam hay cãi
Quảng Ngãi hay co…
Mới nghe qua “Quảng Nam hay cãi” chỉ là một câu nói vui, thực ra “nó” làm phiền dân Quảng Nam chúng tôi không phải là ít.
Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.
Trong các cuộc họp mặt nói chuyện tào lao lúc trà dư tửu hậu, hay trong các hội nghị nghiêm chỉnh có cờ xí, bục thuyết trình v.v..hễ cứ người phát biểu nói giọng Quảng Nam thì y như rằng luôn luôn bị phán một câu:
_Ối chà! Hơi đâu mà nghe thằng cha đó! Quảng Nam hay cãi mà! Bộ ông không biết sao?
Hồi mới qua Dallas đây được ít tháng, anh em tụi tôi dự định thành lập một cái hội chi đó để thỉnh thoảng gặp gỡ, an ủi, giúp đỡ nhau giữa những người cùng cảnh ngộ mới chân ướt chân ráo đến Mỹ.
Trong buổi họp sơ thảo điều lệ hội, một ông bạn tôi, người “Bắc Kỳ” 100%, nhưng vào sống ở Quảng Nam từ hồi 9, 10 tuổi, làm việc ở Quảng Nam, lấy vợ đẻ con ở Quảng Nam, thậm chí ở tù cũng Quảng Nam luôn, ông bạn này đề nghị là nên thu nguyệt liễm hay niên liễm của hội viên để hội có chút quỹ điều hành công việc lại vừa có ý nghĩa là những người đóng nguyệt liễm là hội viên chính thức của hội – Ý kiến cũng không sai quấy lắm, ấy thế mà một cadidat chủ tịch Hội, cũng là một anh Quảng Nam “Origine” phang cho một câu:
-Ối chà! Hơi sức đâu mà nghe lũy. Quảng Nam hay cãi mà! Tôi còn lạ chi.
Ác chưa! Đúng là “kê một cái tủ đứng” vô họng người phát biểu. Còn chi nữa mà “ngôn”! Nghe đâu bây giờ cái hội đó kẹt tiền. Quyên góp hoài cũng kỳ mà Mạnh Thường Quân thì cứ rơi rụng dần như lá mùa thu…cho nên hội có dự định thu tiền nguyệt liễm của hội viên. Chỉ thương hại cho ông bạn tôi, người Bắc rặt ròng, phải cái tội ở Quảng Nam lâu quá, nói giọng Quảng Nam nên bị “kết án” oan mà cũng đành chào thua, bỏ cuộc.
Hay như cụ Ảo Giản Phan Ngô, hồi còn làm nghị viên Hội Đồng Đô Thành dưới thời Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương của ông tướng râu kẽm. Cụ Phan Ngô phát biểu trong một cuộc họp Hội Đồng có ông tướng tham dự, bị ông tướng “ém” cho một câu:
-Thôi đi, dân Quảng các anh cứ “théc méc”. “Théc méc” hoài ai chịu cho nổi!
Bực quá, Phan tiên sinh “cãi” lại bằng mấy bài trên báo, ông tướng phải vội vàng công khai xin lỗi.
Rứa đó, “Quảng Nam hay cãi” nó “hành” tụi tôi không phải là ít.
“Cãi” có phải là đặc tính của người Quảng Nam không?
Cái này cũng cần phải thảo luận, nhưng theo tôi thì tùy loại “cãi”.
Tôi phân biệt hai loại cãi khác nhau mà tôi tạm đặt là “cãi tiêu cực” và “cãi tích cực”.
Cãi tiêu cực: tuy mang tiếng là tiêu cực nhưng người tham gia loại cãi này lại có thái độ cãi rất tích cực: phùng mang trợn mắt, lên tay xuống ngón, sùi bọt mép, nổi gân cổ, đỏ mặt tía tai…cãi để dành cái hơn về cho mình, không cần lẽ phải, không cần sự thật..bất cần, bất cần miễn người đối thoại câm miệng là được. Kết quả của loại cãi này là vô tích sự, không đem lại sự thật, không đem lại lẽ phải, không giải quyết được gì hết, có khi còn u đầu, sứt trán, tốn tiền thuốc, tiền “bail” – nghĩa là một kết quả rất tiêu cực nên gọi là cãi tiêu cực.
Xin nêu một ví dụ:
Tôi có ông bạn khá thân, học với nhau từ 9, 10 tuổi. Mọi mặt, hai đứa tôi đều sàn sàn như nhau: tôi thi trung học đệ nhất cấp 5 lần mới đậu, thì ông ấy thi 4 lần. Tôi mang cái lon “cánh gà” (trung sĩ) 4 năm thì ông ấy cũng 4 năm mới được 3 chữ V. Tôi được 15 chữ tiếng Anh thì ông ấy được 16 chữ. Tôi qua mỹ HO 10 thì ông ấy HO 9 trước tôi 1 tháng…đại khái là như nhau, cá mè một lứa. Chỉ khác chút xíu là ông bạn tôi có vài bà chị qua Mỹ từ năm 1975 và do đó có vài đứa cháu nghe đâu là bác sĩ, kỹ sư hay tốt nghiệp đại học Oklahoma chi đó. Ấy thế mà mọi thứ gì dính dáng đến Mỹ, ông bạn nầy nhất định phải hơn hẳn tụi tôi, chỉ bằng hoặc thua các ông tiến sĩ thực thụ đậu ở Mỹ này thôi. Ví dụ:
-Cái nào? Chiếc xe Mỹ phải không?
-Thì cái Ford 89 đó!
-Rồi! Hư bộ “sạc” đó. Mua bộ mới đi!
-Trời ơi! Tôi mua bộ sạc mới, cách đây một tuần chứ mấy!
-Ông cứ cãi. Đã không biết thì phải im nghe! Thằng cháu tôi là kỹ sư mà tôi lại không biết hơn ông sao?
Ông bạn khốn khổ của tôi đi mua một bộ “sạc” khác mới toanh, hì hục ráp vào và xe vẫn…tắc tịt. Đành kéo ra shop, tốn thêm gần 200 đồng nữa xe mới chịu nổ.
Một lần khác:
-Này, sao thằng cháu tôi bảo lãnh vợ con nó gần 4 năm rồi mà vẫn không có kết quả?
-Trời ơi! Dốt quá! một năm thôi. Đó là luật.
-Tôi chưa thấy có người nào bảo lãnh một năm mà…
-Cũng cứ cãi! Cháu tôi nó làm ở tòa đại sứ Mỹ tại Bangkok chẳng lẽ tôi không biết hơn ông à? Vợ chồng là ưu tiên 1, ông rõ chưa? Đã không biết lại hay cãi…
Một lần khác nữa:
-Này, hôm qua thằng chủ nó hỏi ai có test 1 thì đưa tay. Ông chưa qua test 1 sao đưa tay?
-Dốt quá ông ơi! Để tôi giải thích cho mà nghe. Chữ “tec” nó nói là “technician” nói tắt. Mình là technician 1 thì phải đưa tay chớ.
-Sai! Mấy thằng Mỹ làm với mình cũng là technician 1 hết sao nó không đưa tay?
-Khổ quá! Tụi nó là “trainee” thì sao nó lại đưa tay được.
-Bậy, tụi nó cũng tech 1 hết. Vào một lần với tụi mình, chính tôi coi bảng tên nó mà!
-Trơi ơi! Dốt ơi là dốt! Ông qua Mỹ sau tôi làm sao ông nghe tiếng Mỹ bằng tôi được? Lại nữa, con cháu tôi là bác sĩ, ông hiểu chưa?
Ấy, đã giở cái “chiêu” đó ra thì không hiểu cũng phải ráng mà hiểu. Còn “théc méc” vào đâu được nữa!
Nhưng trong các cuộc “thảo loạn” kiểu này mà bạn ngồi im, không có ý kiến thì cũng không được. Bạn có thể chụp mũ là khinh người, là ngạo mạn, là v.v..
Gặp loại cãi tiêu cực này, thái độ nào của bạn cũng “kẹt” hết. Chỉ có một cách “kính nhi viễn chi” là thượng sách.
Cũng may, loại “cãi tiêu cực” này thì ở đâu cũng có, chẳng riêng gì Quảng Nam. Bằng cớ: miền Bắc có từ “cãi chày cãi cối” hay cãi bựa.
Miền Nam có từ “cãi bạt mạng” hay cãi hoảng cãi tiều”…để chỉ loại cãi ẩu này.
Cái tích cực: đây là loại cãi của những người tích cực. Những người muốn làm sáng tỏ một vấn đề, muốn bảo vệ chân lý hoặc bảo vệ những cái mình cho là đúng. Loại cãi này biểu hiện bằng nhiều cách: một ý kiến xây dựng, một bài báo ngắn, một bài tham luận dài, nhiều khi chỉ cãi bằng một thái độ, một cử chỉ không lời hoặc một câu nói bóng gió.
“Phong thái cãi” của loại cãi này thường rất tieu cực tức là không phùng mang trợn mắt, không sùi bọt mồm bọt miếng..nhưng kết quả lại rất tích cực vì làm sáng tỏ được một vấn đề, làm nổi lên lẽ phải, tức là dùng nhiều cách để bảo vệ và phát huy chân lý.
Quảng Nam mang tiếng là hay cãi, tôi nghĩ, chính loại này. Nó thể hiện tính ngang bướng. Hay nói văn hoa, đao to búa lớn một chút: nó thể hiện tính khẳng khái bất khuất, nghe điều chướng tai, thấy điều gai mắt, không chịu được, phải bày tỏ ý kiến, dù cái chướng tai gai mắt đó xuất phát từ những kẻ có quyền thế bao nhiêu đi nữa cũng không kiên nể, e dè.
Khẳng khái bất khuất là đức tính chung của người Việt Nam từ Nam chí Bắc, nhưng loại cãi tích cực này thì ở Quảng Nam thấy rất nhiều.
Chẳng hạn bữa tiệc thịt chó của Tiểu Phủ Sứ Ông Ích Khiêm.
Cử nhân võ Ông Ích Khiêm, người làng Phong Lệ, Hòa Vang, Quảng Nam, được phong Tiểu Phủ Sứ vì có công bình định mọi Thạch Bích, Quảng Ngãi.
Là một ông quan võ ngay thẳng, cang trực, Ông Ích Khiêm bị nhiều vị ô lại trong triều đố kỵ. Nhân một dịp tất niên, Ông Ích Khiêm thết các vị đại thần một bữa tiệc thịt chó cực ngon. Toàn thợ thịt chó thứ “xịn”, nấu rất khéo, các quan ăn đã đời mà vẫn chưa biết là món gì.
No say rồi, các đại thần thân mật hỏi Ông Ích Khiêm:
-Hôm nay quan Tiểu đãi tụi tôi món gì mà ngon quá rứa?
Cụ Tiểu cười cười, nhũn nhặn thưa:
-Dạ bẩm các quan, cũng những món thường thôi!
Hỏi năm lần bảy lượt cụ Tiểu mới rụt rè đáp:
-Dạ bẩm, mâm lớn, mâm nhỏ, từ trên xuống dưới toàn là chó hết.
Các quan giận đỏ mặt.
Ông Ích Khiêm còn dặn người nhà không được mang thức uống ra. Phải đợi các quan khát đến rã họng và phải đợi gọi đến lần thứ 5, gia đình mới tà tà dâng trà giải khát. Vừa thấy người nhà mang thức uống ra, Ông Ích Khiêm lấy roi quất túi bụi, vừa quất, vừa mắng:
-Tụi bây đúng là một bầy chó, lo ăn mà chẳng lo chi NƯỚC hết.
Đó là kiểu cãi của một ông quan võ.
Còn như cụ Trần Quý Cáp.
Lúc đang làm đốc học Khánh Hòa, cụ Trần tham gia phong trào “cự xâu kháng thuế” của nông dân Nam-Ngãi-Bình-Phú cùng với các cụ Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng.
Rõ ràng là ba cụ đã tổ chức và điều hành một cuộc “cãi lộn” vĩ đại chống lại chính sách xâu thuế của thực dân Pháp và triều đình Huế chớ còn chi nữa.
Vì vậy, triều đình ra lệnh cho tuần vũ Khánh Hòa (tên Q.) điều tra thẩm vấn cụ Trần.
Q. xuất thân là một anh thông ngôn cho Pháp được quan thầy nâng đỡ bò lên làm tuần vũ Khánh Hòa, thượng cấp của Tiến Sĩ Trần Quý Cáp. Trong cuộc thẩm vấn Q. nói với cụ Trần:
-Ông coi chừng! Tôi cách cái chức Đốc Học của ông đó!
Cụ Trần cười nhạt nhưng lễ phép thưa:
-Quan lớn cách được cái đốc học của tôi chớ làm sao cách cái tiến sĩ của tôi được?
Đem cái tiến sĩ đọ với bằng thông ngôn nịnh bợ của tuần vũ Q. cụ Trần còn ngụ thêm một ý nữa: Quan lớn cách cái đốc học của tôi được, thậm chí cả mạng sống của tôi quan lớn cách luôn cũng dễ, nhưng tấm lòng của tôi đối với dân tôi, đối với nước tôi thì quan lớn, và ngay cả quan thầy của quan lớn nữa, làm sao có thể cách đi được?
Chân lý đã được phát huy bằng một câu nói ngắn, gọn, đơn giản và dễ hiểu quá chừng.
Đó kiểu cãi của một ông quan văn. Và ở Quảng Nam, một tay cãi tiêu biểu nổi danh khắp nước là nhà văn Phan Khôi, cây bút cộc trụ của nhóm Nhân Văn Giai Phẩm ở Hà Nội những năm 1956-1957.
Đã có một thời, trên làng văn, làng báo từ Nam chí Bắc xuất hiện cụm từ “Lý luận Phan Khôi” để khen ngợi những bài văn, bài báo đanh thép rành mạch, khúc chiết của bất cứ người viết nào.
Cụ Phan Khôi cãi bằng những bài báo, những bài thơ, những chuyện ngắn, truyện ngụ ngôn…đủ mọi hình thức, mọi thể tài và cái vai trò “Ngự Sử trên đàn văn” của cụ đã góp phần rất lớn làm tiếng Việt thêm trong sáng, chính xác và hay ho lên nhiều lắm.
Quý vị hiện nay đang ở tuổi “cổ lai hy” chắc hẳn không thể nào quên được phong trào sùng bái, tôn thờ truyện Kiều do cụ Thượng Phạm Quỳnh chủ xuống và cổ xúy. Tập Kiều, vịnh Kiều, diễn thuyết về Kiều…thậm chí cụ Thượng Phạm còn nói một câu để đời: “Truyện Kiều còn tiếng, tiếng ta còn, tiếng ta còn, nước ta còn!”.
Ai chả biết truyện Kiều là một danh tác bất hủ của Văn Học Việt Nam? Nhưng hình như ý của cụ Thượng Phạm là muốn tầng lớp thanh niên trí thức hãy quên thực trạng mất nước lúc đó để chỉ lo chuyên tâm ca ngợi, sùng bái truyện Kiều mà thôi. Thâm ý đó bị cụ Huỳnh Thúc Kháng và cụ Ngô Đức Kế cực luận rằng một cái nhà mà móng đã lún, mái dột, cột xiêu thì đem cây kiểng, non bộ, hoành phi, câu đối chưng lên, liệu có thể cứu cái nạn khỏi đổ được không? Cụ Thượng Phạm đã sử dụng một phương sách khá hay để đáp lại các bài công kích của Thanh Nghị. Đó là phương sách “vô chiêu thắng hữu chiêu”: im lặng không trả lời. Rõ ràng hai cụ Huỳnh, Ngô đã xuất chiêu đánh vào một bức tường bằng…không khí.
Đến đây, nhà văn Phan Khôi lại phải ra tay hóa giải chiêu thức vô chiêu của cụ Phạm Quỳnh, ông viết một bài nhan đề “Các nhà học phiệt” phân tích thật kỹ thái độ im lặng của cụ Thượng Phạm. Ông đưa ra hai lý do giải thích sự lặng thinh của cụ Thượng:
-Lý do thứ 1: cụ Thượng khinh cụ Huỳnh và cụ Ngô mà không thèm trả lời.
-Lý do thứ hai: cụ Thượng vì “bí” mà không trả lời được. Rồi ông phân tích thật kỹ lý do thứ nhất để dẫn tới kết luận là cụ Phạm Quỳnh không thể và không dám khinh cụ Huỳnh và Ngô, bởi lẽ, xét về mọi phương diện, cụ Thượng chỉ thua hoặc bằng hai cụ Ngô, Huỳnh mà thôi.
Cụ Phan không nói gì đến lý do thứ 2, nhưng ai đọc “Các nhà học phiệt” cũng hiểu ngay rằng sở dĩ cụ Thượng Phạm không trả lời chính vì lý do thứ 2: BÍ!
“Vô chiêu” bị hóa giải ngay. Cụ Phạm Thượng viết một bài trần tình đăng trên Nam Phong Tạp Chí và phong trào sùng bái truyện Kiều rơi dần vào quên lãng. Dư luận văn giới và báo giới từ Nam chí Bắc lúc đó đều phải đồng thanh công nhận rằng: chỉ có Phan Khôi mới đủ tài làm cho “con chuột nhắt đẻ ra trái núi”. (Vũ Ngọc Phan, nhà văn Hiện Đại)
Một vụ “cãi lộn” tuyệt vời nữa của cụ Phan Khôi, mà cho đến nay sau hơn nửa thế kỷ rồi mọi người vẫn còn nhớ mãi, đó là cuộc bút chiến nẩy lửa về Duy Tâm và Duy Vật với nhà văn CS Hải Triều Nguyễn Khoa Văn. Hải Triều, mặc dù đã tận dụng mọi thủ thuật cao cường nhất của Duy Vật biệt chứng pháp, vẫn không chống đỡ nổi lý luận chặt chẽ, vững vàng của cụ Phan Khôi, một nhà thâm Nho nhưng rất am hiểu luận lý học Tây Phương.
Rồi cụ tranh luận về thơ mới và thơ cũ giữa một bên là phái thơ Đường do thi bá Tản Đà dẫn dắt và một bên là phái thơ Mới do Thế Lữ, Lưu Trọng Lư…Cụ Phan Khôi không tham gia cuộc tranh luận này bằng những bàn nghị luận – vốn là món sở đắc của cụ, nhưng bài Tình Già của cụ làm theo thể thơ mới chính là ngón đòn quyết định đem lại toàn thắng cho thơ Mới. Vì vậy có người cho rằng Tình Già là bài thơ mới đầu tiên khai sinh phong trào thơ Mới Việt Nam.
Và vụ “cãi” cuối cùng đưa cụ Phan Khôi tới cái chết là vụ phê bình sự lãnh đạo dốt nát của đảng CSVN đối với văn học nghệ thuật miền Bắc hồi năm 1956-1957. Cụ Phan Khôi cho rằng lãnh đạo như kiểu CS thì chẳng bao lâu nữa trong vườn hoa Văn Nghệ Việt Nam ‘hằng trăm thứ hoa cúc đều nở thành cúc vạn thọ hết”. Sự thật đúng y chang như lời cụ nói. Mới đây Lê Ngọc Trà (tiến sĩ, tốt nghiệp ở Liên Xô cũ) đã lên tiếng thú nhận rằng: “Nền văn học VHCN ở Việt Nam là một nền văn học thiếu tự trọng.”
Không những chỉ “cãi” về sự lãnh đạo thô bạo của đảng đối với văn học nghệ thuật mà thôi, trái lại, rải rác trong Giai Phẩm Mùa Xuân, Giai Phẩm Mùa Thu…cụ Phan Khôi còn thẳng thừng phê phán, chỉ trích sự lãnh đạo “ngu ngốc, u mê của CS Việt Nam đối với mọi sinh hoạt chính trị, xã hội của đất nước (Phê Bình lãnh đạo văn nghệ, Ông Năm Chuột, Ông Bình Vôi, Nắng Chiều v.v…)
Trong “Phê bình lãnh đạo văn nghệ” cụ Phan Khôi còn thẳng thắn, công khai phản đối việc ông Xuân Diệu vừa làm ban giám khảo, vừa làm thí sinh trong “Giải Thưởng Văn Học Miền Bắc năm 1955″.
Biết chắc CS sẽ thẳng tay khủng bố, cụ Phan Khôi vẫn ngang bướng:
Làm chi cũng chẳng làm chi
Dẫu có làm gì cũng chẳng làm sao
Làm sao cũng chẳng làm sao
Dẫu có thế nào cũng chẳng làm chi!
Rốt cuộc, cụ bị cắt hết tem phiếu và ít lâu sau thì chết vì lạnh và thiếu ăn.
Đó, “Quảng Nam hay cãi” là như vậy.
Đây chính là một lời khen và chắc người Quảng Nam sẽ vẫn mãi mãi tự hào về tính “hay cãi” của mình. Nhất là hiện nay, tại quê nhà, đồng bào ta đang bị chi phối, đang bị cai trị bởi những nghị quyết và những luật lệ không được phép cãi, chúng ta lại cần phải trau dồi hơn nữa tính hay cãi của mình để góp phần đem lại công đạo, công lý, công bằng cho đồng bào ta, đem lại cho đồng bào ta quyền được cãi, tức là quyền được bàn bạc, thảo luận và quyết định những vấn đề liên quan đến bản thân mình và đất nước mình. Vả lại, tự cổ chí kim, từ Đông sang Tây, “cãi” vẫn luôn luôn là một thứ vũ khí sắc bén, lợi hại mà bất cứ bạo quyền nào, dù đỏ hay xanh, dù vàng hay trắng, cũng đều phải e dè, kiêng nể.uy

————————————-

Về tính hay cãi của người Quảng Nam

Cãi nhau không phải là đặc sản của người Quảng Nam. Cả thiên hạ đều cãi chứ không riêng chi họ, có điều theo đánh giá của chính thiên hạ – một đánh giá mang màu sắc dân gian – thì người Quảng Nam thích cãi hơn, thích lý sự hơn, thích đến nỗi cãi đã thành một tính trội – tính hay cãi. Lúc đầu chắc là lời nhận xét “Quảng Nam hay cãi” hàm ý chê trách người Quảng Nam lúc nào cũng sẵn sàng gân cổ lên giọng, giống như chê trách người láng giềng Quảng Ngãi của họ qua lời nhận xét “Quảng Ngãi hay co” – cũng là một kiểu cãi nhưng không phải bằng lời. Tuy nhiên theo thời gian, lời nhận xét “Quảng Nam hay cãi” lại thiên về hướng khẳng định tố chất ưa tranh luận, giỏi hùng biện của người Quảng Nam.

Vì sao dân Quảng Nam lại hay cãi, lại thích lý sự, lại ưa tranh luận? Có nhà nghiên cứu khi so sánh người Quảng Nam với người Thuận Hóa đã nhận xét rằng: “Trong guồng quay khắc nghiệt của thương trường, thị dân phố thị (tức người Quảng Nam – BVT) cởi mở hơn (người Thuận Hóa – BVT) với sức năng động, nhạy cảm, khả năng dự báo và xử lý cao. Phải chăng câu ca “Quảng Nam hay cãi…” cũng phần nào phản ánh điều đó – chúng tôi muốn khai thác ở khía cạnh tích cực: tính bộc trực, thẳng thắn, năng động, nhu cầu giải quyết ngay những khúc mắc – phản ứng “cãi” lại lập tức, mà không soát xét, chiêm nghiệm trong một quá trình dài về sau như con người xứ Thuận” (*). Nhận xét vừa nêu gắn liền tính hay cãi của người Quảng Nam với văn hóa thị dân năng động, nhạy cảm, khả năng dự báo và xử lý cao, nghĩa là cũng khẳng định tính duy tân cách mạng trong cái cãi của họ. Tuy nhiên điều đáng nói là qua nhận xét này, cái cãi của người Quảng Nam được hiểu như một cái gì đó còn bốc đồng, chưa thật chín chắn thâm trầm như người Thuận Hóa chỉ cách nhau có một con đèo. Khen/chê như thế là sòng phẳng bởi đôi khi mạnh chỗ nào thì yếu ngay chỗ đó, phản ứng tức thì cãi ngay tức khắc thể hiện sự nhạy cảm năng động đáng khen nhưng đồng thời cũng có khả năng bộc lộ sự vội vã thậm chí bộp chộp đáng chê. Các tác giả Đại Nam nhất thống chí triều Duy Tân từng nêu và lý giải nhược điểm này của người Quảng Nam: “… sĩ phu có khí tiết cứng cỏi bạo nói nhưng vì thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp nên tính người hay nóng nảy ít trầm tĩnh…”.

Cách lý giải dựa vào quan hệ giữa phong thổ địa lý với tính cách con người như trong Đại Nam nhất thống chí có thể có sức thuyết phục nhất định, song dẫu sao đấy chỉ là một trong những cách giải thích mà thôi. Bởi không phải lúc nào, năng động, nhạy cảm cũng đồng hành với vội vã bộp chộp và thực tế cũng đã có không ít người Quảng Nam thành đạt trên lĩnh vực ngoại giao, chứng tỏ người Quảng Nam vẫn có khả năng tự kiềm chế cảm xúc tốt, tức là cãi mà vẫn có được sự điềm tĩnh chính trị cần thiết.

Trong lịch sử, những người Quảng Nam gặp việc khó không tránh né, lâm sự thì quả quyết, đương mưu tính thì trầm hùng – như lời nhận xét của Tiểu La Nguyễn Thành về Trần Quý Cáp – chẳng phải quá hiếm. Nhưng nói chung với người Quảng Nam, điềm tĩnh chính trị là một phẩm chất do rèn luyện mà nên. Nghĩa là, chỉ những người lịch lãm trên chính trường, từng trải trong đấu tranh cách mạng mới có thể trở nên điềm tĩnh chính trị, đúng như lý giải dẫn trên của tập thể tác giả Đại Nam nhất thống chí: “… duy có người nào học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng buộc”.

Học vấn uyên thâm ở đây không chỉ có nghĩa là thông kim quán cổ, là tích lũy tri thức qua sách vở, học hành mà còn được hiểu theo nghĩa rộng là bản lĩnh chính trị, là sự từng trải, lịch lãm về chính trị, là năng lực ứng xử trước bao nhiêu thử thách chính trị, thậm chí trước bao cơn bão táp chính trị.

Người Quảng Nam nhờ tính hay cãi – hiểu theo nghĩa không chịu ràng buộc bởi áp lực của sức ì trong tư duy – nên thường đi đầu trong các cuộc canh tân đổi mới đất nước mà phong trào Duy tân đất Quảng đầu thế kỷ XX với “bộ ba Quảng Nam” Phan Châu Trinh, Trần Quý Cáp và Huỳnh Thúc Kháng là một minh chứng hùng hồn. Nhờ tính hay cãi, ham tranh luận, không dễ dãi chấp nhận sự bao cấp về tư tưởng hay những tín điều sẵn có hoặc những tư duy quen thuộc song đã lỗi thời mà phần lớn người Quảng Nam thường chịu khó đào sâu suy nghĩ đồng thời biết ăn nói mạch lạc để bộc lộ và bảo vệ chính kiến của mình, đôi khi vô tình trở thành ngòi nổ cho các phản biện mang ý nghĩa xã hội sâu sắc… Còn có thể kể dài dài những gì mà người Quảng Nam thừa hưởng được từ di sản văn hóa “hay cãi” của ông cha xưa.

Tuy nhiên ở đây người Quảng Nam không chỉ có được, nghĩa là họ cũng bị mất khá nhiều bởi cái tính cách “hay cãi” ấy. Trước hết là mất lòng. Trong lúc thiên hạ đang ngồi uốn lưỡi bảy lần hoặc đang tính bài im lặng là vàng, anh lại đứng lên giữa cuộc họp mở miệng nói lời phi lộ “Dân Quảng Nam tôi vốn hay cãi nên xin được trao đổi mấy ý kiến như sau…” thì khéo đến mấy cũng khó mà giữ được hòa khí, mà không làm mất lòng người khác, nhất là làm mất lòng những người thích độc quyền chân lý. Thứ nữa là mất công, vì bơi ngược dòng bao giờ cũng khó hơn bơi xuôi dòng, phải lao tâm khổ tứ tìm lý lẽ lập luận sao cho thật sắc sảo, sao cho thật thuyết phục, sao cho có thể bắt bẻ được người ta mà không để họ bắt bẻ lại mình. Hai cái mất vừa nêu – mất lòng và mất công – người Quảng Nam biết mà không tránh khỏi hoặc không muốn tránh, và đây cũng chính là chỗ mà dẫu không nói ra song thiên hạ vẫn thường cảm thấy thán phục, thậm chí ngưỡng mộ nhiều người hay-cãi-Quảng-Nam. Đó là chưa kể càng mất công bao nhiêu, người hay-cãi-Quảng-Nam càng có thể tránh được căn bệnh nan y mất điềm tĩnh rất dễ mắc phải trong văn hóa tranh luận bấy nhiêu.

Thế nhưng xuất phát từ tính hay cãi của người Quảng Nam còn một cái mất nữa – thường khó nhận ra – là mất khả năng cãi lại chính bản thân mình. Kiểu hàm hồ cãi lấy được cố tình kéo dài cuộc tranh cãi nhằm tranh thắng tranh hơn đa phần cũng do bắt nguồn từ cái mất rất đáng lo ngại và nên sớm khắc phục này. Mình Quảng-Nam-hay-cãi với người khác thì được nhưng hễ ai mà Quảng-Nam-hay-cãi với mình lại lập tức nóng gáy khó chịu, ngay cả khi mình thấy rõ người ta đang có lý còn mình càng lúc càng đuối lý. Phải chi trong trường hợp này người hay-cãi-Quảng-Nam không tự đánh mất khả năng cãi lại chính bản thân mình để dũng cảm chấp nhận mình sai và kịp thời rút lui ý kiến.

Cần thấy khả năng cãi lại chính bản thân mình như vậy là một năng lực hay cãi tuyệt vời mà không phải người Quảng Nam nào cũng dễ dàng đạt được – hoàn toàn khác với thói ba phải thiếu lập trường, thiếu bản lĩnh và thiếu tự tin. Và nếu như lời nhận xét “Quảng Nam hay cãi” từng hàm ý hoặc vẫn đang còn hàm ý chê trách người Quảng Nam lúc nào cũng sẵn sàng gân cổ lên giọng thì đó chẳng qua là do muốn nhắc nhở một số người hay-cãi-Quảng-Nam đã tự đánh mất khả năng cãi lại chính bản thân mình …

BÙI VĂN TIẾNG

Quảng Nam là vùng đất cãi, “Quảng Nam hay cãi” đã trở thành thành ngữ. Mỗi khi nói về cá tính của người Quảng, không bao giờ người ta quên nhắc đến chuyện cãi.

Thật vậy, Quảng Nam đã từng sản sinh ra những vị cãi trứ danh trong lịch sử như Phạm Phú Thứ, Lê Vĩnh Khanh, Phan Châu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Khôi… Không chỉ đàn ông, phụ nữ cũng cãi. Phạm Lam Anh là trường hợp tiêu biểu. Tập thơ của bà cùng chồng sáng tác được đời sau nhắc đến cũng mang tựa đề liên quan đến cãi – Chiến cổ đường thi (ngôi nhà thơ chống lại cái xưa).

Nhà văn, nhà Quảng học Nguyễn Văn Xuân trong Phong trào Duy Tân có giới thiệu một nhân vật được xem là “thủy tổ” của “sự cãi” Quảng Nam – Nguyễn Văn Lang: “Ông người Nghệ An, huyện Nghi Xuân, xã Tiên Bào, làm quan đến Thừa tướng Thượng tể, chị làm cung phi đời vua Tương Dực (Hồng Thuận) nhà Lê. Ông biết Mạc Đăng Dung sắp cướp ngôi vua, nhân vua mời vào triều, ông không đi, lại dâng điều trần bình trị gồm 14 điểm, trong đó có những điểm triều thần cho là muốn dạy vua nên khuyên vua đừng nghe… Lẽ tất nhiên, ông biết mình không nên sống ở Bắc, phải xin vua cho di dân vào Nam khai thác biên thùy. Ông lập xã Hượng Ly ở Quảng Nam rồi ở luôn tại đó”. Nguyễn Văn Xuân kết luận: “Với những vị (thủy tổ) có thành tích cãi vua cỡ đó thì có lẽ trong bản chất người Quảng đã có máu cãi”.

Người Quảng cãi theo đủ kiểu. Cãi bằng lời không được thì họ cãi bằng hành động. Hành động của Nguyễn Duy Hiệu, Ông Ích Đường… cũng là biểu hiện cao độ của cái sự cãi. Các nhà yêu nước như Lê Cơ, Mai Dị, Phan Thành Tài, Đỗ Tự… cãi bằng lời, bằng hành động bất bạo động trong Phong trào Duy Tân không xong, họ quay sang cãi bằng bạo động trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916 đấy thôi.

Người Quảng hay cãi vì nhiều nguyên nhân. Ngoài những nguyên nhân mà người ta hay nói đến, như: hoàn cảnh khắc nghiệt của buổi đầu mở cõi, việc tiếp nhận sớm các nền văn hóa văn minh, việc hợp huyết với người Chăm vốn hiếu chiến…, Nguyễn Văn Xuân còn cho rằng: “Đầu tiên, có lẽ chính những người hay cãi, hay chống đối là bị đày vào chốn biên thùy xa xôi hẻo lánh ấy đã”.

Sau này, nhà văn Nguyên Ngọc bổ sung: “Cùng ra đi theo Nguyễn Hoàng vào Nam là những người quyết rời một xã hội đối với họ không còn có thể sống được nữa… Họ đi tìm một lối thoát, một lối mở cho một xã hội đã phân rã. Đó chính là thành phần quan trọng nhất trong những tiên dân xứ Quảng. Đấy là những con người đã quyết “cãi lại” một xã hội cũ, một cách sống cũ, đi tìm một xã hội mới, một cuộc sống mới, một cách làm người Việt kiểu khác, mới. “Quảng Nam hay cãi” chính là sinh ra từ đây chăng? Quảng Nam đã “cãi lại” từ đầu!” (Tìm hiểu con người Xứ Quảng, NXB Đà Nẵng 2005).

Trong khi đó, nhà văn Hồ Trung Tú lý giải: “Người Việt đến cùng quần cư  trong những làng Việt mới mở. Có thể làng này cách làng kia chỉ một con đường làng nhỏ… Có thể họ lườm nhau, nguýt nhau, cãi nhau suốt 300 năm như thế. Biết làm sao được, đó là cuộc va chạm giữa hai nền văn minh khổng lồ của nhân loại là Ấn Độ và Trung Hoa. Và phải chăng cú va chạm nảy lửa ấy vẫn còn để lại dấu vết đâu đó trong tâm hồn người Quảng? Họ như luôn phải khẳng định một điều gì đó, trung thành với một niềm tin nào đó. Không thế họ không sống được, họ như cảm thấy thất bại và không tồn tại. Phải chăng họ hay “cãi” cũng vì thế? Biết làm thế nào được, họ có cả lịch sử 300 năm để “tranh cãi” (Có 500 năm như thế, NXB Thời Đại 2011).

Như vậy, truyền thống cãi của Quảng Nam vốn xuất phát từ những con người ưu tú của đất Bắc, sau này hấp thụ thêm các yếu tố khác tại chỗ để phát triển.  Tuy nhiên, có lẽ có một chi tiết cần được bổ sung để giải thích cho nguyên nhân hay cãi được nhiều người đồng tình: Lịch sử hình thành vùng đất này khiến cãi đối với người Quảng đã trở thành “định mệnh”. Vì Quảng Nam, ở cả hai phía Việt – Chiêm, người ta đã cãi nhau kịch liệt, cãi khắp nơi.

Trước hết, để có được vùng đất Quảng Nam, giữa cha con Trần Nhân Tông – Trần Anh Tông đã phải cãi nhau, chí ít thì Trần Anh Tông từng không chịu vâng lời Thượng hoàng. Năm 1301, Trần Nhân Tông với tinh thần của một Phật hoàng vân du Chiêm Thành và lưu lại đây 9 tháng. Nhà vua đã “ấn tượng” trước nền văn minh của người Chăm, hứa gả Huyền Trân Công chúa cho Chế Mân mà không kèm theo điều kiện nào cả. Song, sau khi hồi triều, Trần Anh Tông mới chính là người quyết định, biến cuộc hôn nhân vô tư trong sáng trở thành những toan tính sâu xa. Trong triều đình nhà Trần lúc đó, việc gả Huyền Trân cũng gây ra những cuộc tranh biện dữ dội.

Về phía triều đình Chiêm, việc dâng đất để cưới vợ của Chế Mân chắc chắn gặp không ít sự chống đối, nhiều người không muốn mất mảnh đất thiêng này hẳn đã phải trải qua những trận cãi nhau kịch liệt. Chứng cớ là khi người Việt đến tiếp quản vùng đất này thì “bị người các thôn La Thủy, Tác Hồng và Đà Bồng không chịu phục”, đến nỗi “vua Anh Tông phải sai Hành khiển Đoàn Nhữ Hài đến tuyên bố đức ý của triều đình, chọn người trong dân chúng làm quan, cấp cho ruộng đất và miễn tô thuế 3 năm để vỗ về” (Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Khai Trí 1967).

Đó là những cuộc cãi nhau trong nội bộ từng nước. Cao hơn là cuộc cãi nhau quyết liệt giữa hai bên Việt – Chiêm. Năm 1301, Trần Nhân Tông hứa gả nhưng mãi đến tháng 7-1306, cuộc hôn nhân mới ngã ngũ, Huyền Trân mới gạt nước mắt giã từ hoàng tộc và người yêu lên đường sang Chiêm quốc. Theo nhiều người, 5 năm đó là  thời gian để cãi về cái ranh giới của châu Rý (Lý).

Nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng: “Theo lô-gích thông thường, Hải Vân, ngọn đèo cao nhất trên đường từ Bắc vào Nam, một ranh giới tự nhiên hết sức rõ rệt, một tuyến phòng ngự rất khó vượt qua, phải là ranh giới chia đất… Các nhà thương thuyết của triều Trần đã quyết ép và cuối cùng đã đòi được bỏ hẳn ngọn đèo ấy, đi tiếp luôn một mạch hơn 30 cây số nữa về phía Nam cho đến tận bờ bắc sông Thu Bồn” (Từ Đông sang Tây, Nhiều tác giả, NXB Đà Nẵng 2005). Vì rẻo đất chiến lược ấy, hai bên chắc phải cãi qua, cãi lại, giằng co nhau quyết liệt suốt 5 năm trời…

—————————————————

Vì sao Quảng Nam hay cãi, ăn cục nói hòn?

Hồ Trung Tú giải mã giọng Quảng

Có 500 năm như thế của Hồ Trung Tú đã gây thú vị cho giới chuyên môn lẫn người đọc ở những kiến giải táo bạo.

Với kiến giải đột phá bằng dẫn liệu chính xác và phong phú như thế, mới đây cuốn sách đã nhận giải Dấu ấn mới của giải thưởng Sách hay.

Người Quảng Nam nói tiếng Việt bằng giọng Chăm

. Phóng viên: Anh đã viết Có 500 năm như thế bắt đầu như thế nào?

Nhà văn Hồ Trung Tú: Tôi có khát khao tìm hiểu bản sắc mỗi vùng đất nói chung và Quảng Nam nói riêng. Với Có 500 năm như thế, có hai điều rất khó để tôi vượt qua khi viết là tìm kiếm tư liệu và định kiến. Thời gian lịch sử mà tôi nghiên cứu kéo dài suốt 500 năm để có cái nhìn quán xuyến suốt 500 năm của xứ Đàng Trong nên tư liệu rất thiếu. Sau thế kỷ 16 còn có tư liệu được chút ít, còn trước đó thì vô cùng thiếu, chỉ thưa thớt vài dòng trong sử liệu, vài dòng trong các gia phả đáng tin.

Riêng sự định kiến thì khó vượt qua hơn nhiều. Định kiến ở đây là những chân lý được mặc định, hầu như không thể thay đổi với số đông. Lịch sử, lâu nay như mọi người thường hiểu chính là những ghi chép trong các sử liệu. Họ khó chấp nhận quan điểm lịch sử là cuộc hành trình đi tìm bản sắc chứ không phải chỉ là tìm lại các câu chuyện được chép bởi những người biết chữ.

Gây chú ý nhất trong tác phẩm của anh khẳng định “giọng Quảng Nam khác giọng các miền khác vì đó là giọng của người Chăm nói tiếng Việt”. Vì sao anh dám đi ngược lại điều mà mọi người vẫn thường hiểu biết rằng giọng nói các vùng, miền khác nhau chỉ đơn giản là do nguồn nước?

+ Bởi vì các nhà ngôn ngữ nói khác dân gian. Họ đã đúc kết rồi và ta hãy cứ thế mà dùng, không cần phải chứng minh lại. Ví dụ như đúc kết này của Meillet, nhà ngôn ngữ học người Pháp: “Khi một ngôn ngữ biến đổi nhiều, tạo ra một bộ mặt mới khác với trước đó thì rất có thể là có một bộ phận dân cư đã thay đổi ngôn ngữ”Người Thái nói tiếng Anh nó sẽ khác với người Ấn nói tiếng Anh và càng khác với người Việt, người Nhật nói tiếng Anh. Và tất nhiên, người Chăm nói tiếng Việt sẽ không giống người Việt nói tiếng Việt. Vấn đề chỉ là những quy luật biến âm nào đã xảy ra. Sự đóng góp của tôi ở đây là xác định được những giai đoạn phân kỳ, những dấu ấn lịch sử đủ để hình thành một vùng thổ ngữ mới. Và rồi từ đó, khi nó thành công cụ ta có thể dùng nó để hiểu được lai lịch một địa phương.

Sách khảo cứu lịch sử Có 500 năm như thế được nhà văn Hồ Trung Tú bắt đầu viết từ năm 1998. Sách được xuất bản bởi Phương Nam Book & NXB Thời Đại vào đầu năm 2011.

Sự tiếp biến của hai nền văn hóa Việt-Chăm theo kiến giải của anh là gì?

+ Khi nói đến sự tiếp thu, hòa nhập, tiếp biến hai nền văn hóa Việt-Chăm nhiều người đi tìm bằng chứng ở ngữ âm, những từ Việt hiện nay đang dùng có gốc Chăm như: “cù lao – palao”, “ghe – kè”, “con nít con nôi – anưk rineh” Dĩ nhiên đó là những bằng chứng khá thuyết phục thế nhưng theo tôi vẫn không thuyết phục bằng ngữ âm. Giọng nói không những là một bằng chứng mà còn là một bản sắc.

Có sai lè ra cũng phải cãi!

. Vậy bản sắc giọng nói người Quảng Nam là gì, thưa anh?

+ Chính vì người Chăm đã tiếp thu tiếng Việt theo cách của họ nên dấu vết này ta cũng còn nhìn thấy ở vốn từ của người Quảng Nam. Người Quảng Nam có lượng vốn từ nghèo đến tội nghiệp. Họ không hề dùng đến những từ như: chứ, nhỉ, nhé, thế, đấy, bảo, chả, vâng, chữa, chửa được, chết chửa, chết giẫm, chứ ạ, ạ, rách việc, phải gió, dơ lắm, mãi thôi, gọi thưa, xơi nước, vả, đẹp lòng, dạy chuyện, bắt vạ, một thể…Tiếng Quảng cũng không có những mẫu câu như cho lắm vào, vừa phải thôi, hơn bao giờ hết, bỏ quá cho, khí không phải, sốt cả ruột… Khi chưa bắt tay vào làm tôi cũng không nghĩ người Quảng lại có vốn từ ít đến vậy.

Có hệ quả gì từ vốn từ nghèo nàn, như anh vừa nói?

+ Chính vốn từ hạn chế đã ảnh hưởng khá nhiều đến tính cách của người Quảng Nam. Người ta nói người Quảng hay cãi và tôi nhận ra họ hay cãi một phần là do thời gian dài sống cạnh người Chăm, ai cũng phải bảo vệ bản sắc dân tộc mình, suốt 500 năm như thế, có sai phè ra cũng phải cãi lấy được, vì không thế họ đã không tồn tại được lâu đến thế. Và thêm nữa, chính vốn từ thiếu, cũng là một hệ quả của tiếng nói không phải tiếng nói mẹ đẻ, mà người Quảng trở nên “ăn cục nói hòn”, “nghĩ sao nói vậy”, ghét kẻ “mồm miệng đỡ chân tay”… Thế nhưng tại sao lại “ăn cục nói hòn” thì hầu như chưa ai chạm đến? Theo chúng tôi, đó chính là vì sự thiếu vốn từ trong diễn đạt đã khiến sự diễn đạt trở thành “ăn cục nói hòn”.

Anh gửi gắm gì vào quyển sách Có 500 năm như thế?

+ Tôi viết quyển sách này không chỉ bằng một đam mê mà đó còn là cuộc hành trình đi tìm lời đáp cho những nét văn hóa lạ lẫm của chính cha mẹ và bản thân mình vốn là người Quảng Nam. Trong tâm thức nhiều người, phương Nam như một vùng đất không người ở, mờ nhạt trên mặt đất là những con đường mòn cũ, ai đó đã đi qua và tạo nên họ cũng không buồn bận tâm. Trên con đường ấy thỉnh thoảng có vài lưỡi cuốc, lưỡi cày, vài từ ngữ rơi vãi được người Việt đến nhặt lên và sử dụng. Và họ gọi đó là tiếp thu văn hóa! Tất cả chỉ có vậy. Cách hiểu lịch sử như vậy đã thực sự đã đến lúc cần được thay đổi. Văn hóa là sự thích nghi cao nhất của con người trong môi trường, hoàn cảnh sống. Lịch sử đã đến lúc cần phải gắn chặt với dân tộc học chứ không phải chỉ là những dòng sử liệu của các triều đại phong kiến.

Xin cảm ơn anh.

Nhà văn Hồ Trung Tú sinh năm 1958, quê Đại Lộc, Quảng Nam. Anh tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du khóa 3 và từng xuất bản tập truyện ngắn Búp bê cho người lớn (1987). Thời đi học anh đã được nghe những buổi lên lớp của các giáo sư, chuyên gia đầu ngành về lịch sử, ngôn ngữ như Trần Quốc Vượng, Hà Văn Tấn, Từ Chi, Nguyễn Tài Cẩn… để có cho mình một vốn kiến thức khi bắt tay vào viết cuốn Có 500 năm như thế.

HÒA BÌNH thực hiện

 

_________________

PHÊ PHÁN PHÉP NGỤY BIỆN :

HÌNH THỨC – BIỂU HIỆN – NGUYÊN NHÂN

Đề tài này của tác giả được làm nhằm mục đích vạch ra được sự ngụy biện ẩn chứa trong các bài chính luận hay phát biểu khoác áo khoa học, nhưng thực chất, là ngụy biện. Từ đó, để mọi người có thể nhận ra những phép ngụy biện này để làm cho những cuộc tranh luận mang tính khoa học và logic hơn, làm cho chất lượng mỗi cuộc đối thoại được nâng cao hơn, và gián tiếp góp phần cho sự dân chủ hay sự phát triển của nhà nước ngày một vững mạnh hơn.

I.  Ngụy biện và cấu trúc của một mệnh đề logic:

  1. Ngụy biện là gì?

Cho đến thời điểm hiện nay, thuật ngữ ngụy biện vẫn đang được hiểu và sử dụng với nhiều nghĩa và mục đích khác nhau. Trong “ Nhập môn logic học” của TS. Phạm Đình Nghiệm thì tác giả khái niệm thuật ngữ ngụy biện là “sự cố ý vi phạm các quy tắc logic trong suy luận nhằm mục đích đánh lạc hướng người nghe, người đọc, làm cho người khác nhầm tưởng cái sai là đúng, cái đúng là sai”. Còn trong tiếng Hy Lạp, ngụy biện là “Πλάνη” được hiểu như là một cái lỗi – ở đây là lỗi trong thao tác tư duy. Còn trong tiếng Việt, Ngụy tức là “giả dối”, Biện hiểu theo nghĩa “tranh biện”, “ biện giải” tức là quá trình giải thích, chứng minh – biện luận – cho một vấn đề. Ghép hai từ trên ta hiểu nôm na ngụy biện tức là sự biện luận giả dối.

Thời Socrates, từ ngụy biện gán cho những nhà ngụy biện với tính chất khinh bỉ những người dạy học lấy tiền chứ không nhằm khai minh như Socrates hay Platon, và vì thế, thay vì tập trung con người vào lí giải khoa học vào thế giới, các nhà ngụy biện Hy Lạp cổ ( Sophist) lại dạy cho các môn đệ sự dối trá, quanh co, và những mẹo vặt trong hùng biện để giành phần thắng về phía mình. 

Tổng kết các khái niệm nhiều tác giả đã đề cập, tác giả thống nhất sử dụng thuật ngữ ngụy biện là sự phi logic trong lí luận hay suy luận. Ngụy biện khác với logic. Logic, nói một cách ngắn gọn trong trường hợp này, là những qui ước quản lí tính nhất quán trong việc sử dụng ngôn ngữ. Giới triết học Tây phương đã bỏ khá nhiều công sức để phân biệt thế nào là logic và thế nào là ngụy biện. Aristotle có lẽ là một nhà logic học đầu tiên có công phát triển các qui tắc và hệ thống suy luận. Trong quá trình làm việc, ông phát hiện ra nhiều lỗi lầm mà sau này người ta quen gọi là những “ngụy biện. Kể từ Aristotle, cũng đã có khá nhiều nhà triết học và logic học như John Locke, John Stuart Mill, Jeremy Bentham, hay S. Morris Engel cũng có nhiều cống hiến quan trọng trong việc nghiên cứu về ngụy biện.

Như vậy, ngụy biện luôn là một vấn đề của logic học, đó là vấn đề loại bỏ những suy luận hay diễn giải phi logic nhằm hướng sự minh triết, sự chân thực trong tư duy.

2. Cấu trúc một mệnh đề logic:

Xét những yếu tố ảnh hưởng đến tính logic hay độ chân thật của một bài luận chúng ta có yếu tố bên ngoài và yếu tố bên trong.

Yếu tố bên ngoài là sự ảnh hưởng từ người nghe, người theo dõi, gọi chung là đám đông. Yếu tố bên trong trước hết  là chủ thể và khách thể của một bài luận hay suy luận triết học

Chủ thể chính là người sở hữu sự suy luận, ở đây hiểu theo nghĩa hẹp là người tham gia cuộc tranh luận.

Khách thể của cuộc tranh luận hay suy luận triết học là cấu trúc nó

Cấu trúc của một bài luận bao gồm: luận cứ, luận điểm, luận đề và luận chứng.

Luận cứ là các chứng cứ mà người diễn giải dùng để chứng minh luận điểm của mình đưa ra.

Luận điểm là những ý chính là mà người diễn giải dùng để làm rõ những điểm mà luận đề yêu cầu.

Luận đề hiểu theo nghĩa chung nhất là đề bài hay đề tài tranh luận, hay là những câu hỏi mang tính suy tư triết học cần sự giải thích hay chứng minh.

Luận chứng là quá trình làm rõ luận đề đã được đưa ra, tức là nói khái quát nhất: Luận chứng là quá trình dùng luận cứ chân thực để chứng minh tính chân thực những luận điểm nhằm giải thích, làm rõ luận đề.

Như vậy, tính phi logic có thể can thiệp vào những yếu tố bên ngoài của việc luận chứng, vào các yếu tố luận cứ, luận điểm, luận đề và cả sự luận chứng để làm sai lệch tính chân thực đang cần đạt tới.

II. Các hình thức ngụy biện

1.1.               Sự ngụy biện từ yếu tố bên ngoài:

1.1.1.        Lợi dung sự đồng tình của đám đông:

Kiểu ngụy biện này sử dụng sự ủng hộ của đám đông làm chân lý cho cuộc tranh luận. Ví dụ: A cho rằng uống  cà phê sẽ giúp cho việc sáng tạo, B thì không. A chứng minh bằng việc nhiều người đã đồng ý rằng ( kể cả nhà sản xuất cũng đồng ý rằng) cà phê giúp cho việc sáng tạo nên điều này đúng. Đây là sự ngụy biện vì thay vì chứng minh bằng cách chỉ ra các yếu tố khoa học rằng các chất trong cà phê giúp cho não thăng hoa sáng tạo thì A đã dùng đám đông làm luận cứ để chứng minh cho điều mình nói.

1.1.2.        Lợi dụng cảm tính đám đông:

Tương tự sự lợi dụng về sự đồng tình của đám đông, phương pháp ngụy biện này sử dùng lòng trắc ẩn hay cảm tính của con người để đánh tráo tính logic của chân lý. Sở dĩ xếp nó vào nhóm đám đông vì lòng trắc ẩn hay sự cảm tính mang tính cộng hưởng từ dân tộc tức từ số đông là nhiều. Ví dụ: A phạm tội giết người. B là luật sư của A, thay vì chứng minh A không thể giết người thì B lại dùng lí lẽ: “ A mắc bệnh tim bẩm sinh, nếu tòa tuyên phạt A có tội, A sẽ dễ xúc động và rất nguy hiểm. Xin tòa đừng để một người nào chết thêm nữa”

1.1.3.        Lợi dụng quyền lực:

Loại ngụy biện này dựa trên một quyền lực nhất định tác động lên buổi đối thoại. Nó có thể đến từ một nhóm người ( số đông) có thể đến từ một người ( nhưng một người này là đại diện cho một nhóm người nắm giữ quyền lực).

Ví dụ: Khi lớp học đang tranh luận về vấn đề bài học, một sinh viên nói rằng: “ Những gì các bạn đang bàn đi ngược lại chính sách của nhà nước, điều đó là sai trái, các bạn có thể bị tù đấy.” Trong ví dụ này, người sinh viên đã lợi dụng quyền lực nhà nước tác động đến mục đích đúng sai khoa học của buổi tranh luận.

Cũng trong nghĩa quyền lực này, ta có khái niệm nhỏ về tính quyền lực của truyền thống ( hiểu rộng thì truyền thống là thói quen). Ví dụ: Công ty rượu Hà Nội quảng cáo: Chúng ta khi uống rượu hãy uống rượu Hà Nội vì rượu của chúng tôi sản xuất theo công nghệ truyền thống. Người Việt thì phải lưu giữ truyền thống Việt, vì vậy hãy uống rượu của chúng tôi để gìn giữ truyền thống Việt.

1.2.               Sự ngụy biện từ yếu tố bên trong:

1.2.1.        Yếu tố chủ thể của tranh luận:

1.2.1.1.                        Sự ngụy biện bằng việc công kích cá nhân:

Lối ngụy biện này sử dụng việc chỉ trích tư cách cá nhân người tranh biện thay vì chỉ trích các luận điểm hay luận cứ hay phương pháp luận chứng của người tranh biện. Ngụy biện này thường được sử dụng và cũng có nhiều nhầm lẫn trong tranh luận hằng ngày.

Ví dụ: A và B đang tranh luận triết học. A là sinh viên triết học còn B thì không. A nói rằng: “ Vì anh không học triết học nên những gì anh nói không có giá trị.” Trong trường hợp này, A đã ngụy biện vì chuyện học triết không ảnh hưởng đến giá trị chân lý của tranh cãi triết học. Vì tính đặc thù của triết học chủ yếu là sự quan sát và chiêm nghiệm chứ không phải được đào tạo bài bản hay không.

Nhưng sư dễ nhầm lẫn trong việc ngụy biện bằng việc công kích cá nhân rất dễ diễn ra. Ví dụ: A và B đang bàn về vấn đề kinh tế vĩ mô. A là sinh viên kinh tế, B là sinh viên nông nghiệp. A nói: “ B không học về kinh tế thì không có kiến thức kinh tế để bàn luận đúng sai.”, thì trường hợp này không là ngụy biện, vì tính đặc thù của kinh tế là phải học mới biết được cụ thể kiến thức của mình đúng hay sai, phù  hợp hay không phù hợp.

Trong kho tàng văn học dân gian Việt, cũng đã có thành ngữ: “ Danh chính ngôn thuận” cũng nhằm vào lí giải vấn đề trên. Nói tổng quát lại, chỉ trích cá nhân là ngụy biện khi tư cách cá nhân lúc bị chỉ trích ấy không dính tới giá trị chân lý của luận điểm của người bị chỉ trích.

1.2.1.2.                        Sự ngụy biện dựa trên uy tín cá nhân:

Lối ngụy biện này là biểu hiện tả khuynh của việc “ danh chính ngôn thuận”, phép ngụy biện này có nghĩa là khi tham gia biện luận, người biện luận dùng vị thế cá nhân của mình để đảm bảo tính chân lí của luận điểm chứ không phải tính logic của luận điểm.

Ví dụ: A và B tham gia tranh cãi về một vấn đề. A là Tiến Sĩ, B là nghiên cứu sinh. Thay vì trong lí luận để chứng minh mình đúng thì A lại dùng học vị của mình để nói lí luận mình đúng so với B. Giữa vấn đề học vị và vấn đề chân lí của luận điểm không có điểm gắn kết logic nên A đang dùng uy tín cá nhân của bản thân để ngụy biện.

1.2.1.3.                        Sự ngụy biện dựa trên tác phong chủ thể:

Loại ngụy biện này dùng tác phong hay cách làm việc hay một đặc tính nào đó của đối tượng để cố thuyết phục về tính hợp lí của phát biểu. Tiêu biểu cho loại ngụy biện này là những phát biểu như “Nixon thất cử vì ông ta thường hay ra mồ hôi trên trán,” hay “Tại sao anh không nghe theo lời khuyên của anh chàng ăn mặc bảnh bao đó?” Thực ra, “bảnh bao” và “mồ hôi trên trán” chẳng có dính dáng gì đến vấn đề đang bàn thảo.

1.2.1.4.                        Sự ngụy biện “anh cũng vậy”.

Đây là một trong những ngụy biện rất phổ biến. Nó dựa vào lí lẽ rằng một hành động có thể chấp nhận được bởi vì người đối nghịch đã làm. Chẳng hạn như “Anh là một người lừa dối.” “Rồi sao? Anh cũng là một tay lừa dối vậy.”

1.2.1.5.                        Sự ngụy biện khả năng chủ thể:

Sự ngụy biện này khá phức tạp về hình thức, nó được sử dụng trong việc người bị phê phán bảo vệ cho khả năng của mình. Chẳng hạn như, A chỉ trích B làm việc kém hiệu quả, B phản ứng bằng việc: “ Anh có làm được như tôi mà chỉ trích tôi.”

Về phương diện thực tiễn, đúng là A không trong hoàn cảnh và vị trí của B cũng chẳng có khả năng giống B thì không thể lường hết những khó khăn mà B gặp phải nên phê phán là việc phiến diện, thiếu logic.

Thế nhưng về khía cạnh logic, việc làm hay không làm và sự nhận thức vấn đề không nhiều cơ sở để thiết lập mối quan hệ với nhau, nên có thể xem đây là 1 loại ngụy biện để bảo vệ cá nhân.

Nếu muốn bảo vệ cá nhân dưới góc độ logic thì B phải chứng minh cho A thấy kết quả B đạt được là tối ưu hay chí ít cũng hết khả năng B chứ không phải chỉ trích ngược lại A rằng A không thể làm hơn nên không có quyền chỉ trích.

1.2.2.        Ngụy biện yếu tố khách thể trong tranh luận:

Luận cứ là một phần không thể thiếu trong quá trình luận chứng luận điểm, nó đảm bảo tính chính xác của luận điểm, tính khoa học của luận điểm. Nói cách khác là đó là những chứng cứ minh chứng cho luận điểm, luận đề cần luận chứng.

Thế nhưng trong văn phong thông thường rất khó tách rời giữa luận cứ, luận điểm và luận chứng. Vì luận chứng quá trình chứng minh, luận điểm là nội dung chứng minh còn luận cứ là những bằng chứng minh nhằm chứng minh luận điểm. Diễn giải ra tức là, luận điểm là nội dung cần chứng minh, luận cứ là tiền đề xây dựng nội dung ấy vì nó mang tính xác thực cho nội ấy, còn luận chứng xuất hiện với vai trò là phương pháp xây dựng tiền đề ấy.

Chính vì sự gắn kết khó tách rời ấy nên tác giả sẽ trình bày nội dung ngụy biện của ba yêu tố trong một đề mục để không tách rời chúng và cho thấy mối liên hệ với nhau giữa chúng.

1.2.2.1.                        Ngụy biện nặc danh luận cứ:

Trong luận cứ cũng cần một sự vững vàng về độ chân lý, tức là bản thân luận cứ cũng cần chứng minh là đúng. Điều này dẫn đến dẫn cứ một luận cứ là phải đi kèm với điều xác thực cho luận cứ ấy. Một trong những điều xác thực ấy là người làm chứng. Thế nhưng trong một số trường hợp, vì các lí do bảo mật hay các lí do khác, mà danh tính người đảm bảo điều xác thực này cần giữ bì mật. Điều này một mặt giữ bí mật cho người làm chứng, một mặt làm nảy sinh một vấn đề ngụy biện là lạm dụng và sử dụng sai mục đích.

Ví dụ: A luận tội B một lí do nào đó đã dẫn chứng: “ Một người đã nói anh có tội, họ đã làm chứng vì nhưng vì lí do bảo mật chúng tôi không thể tiết lộ danh tính”

1.2.2.2.                        Ngụy biện lạm dụng thống kê:

Thống kê là một phương pháp được sử dụng nhiều trong việc làm luận cứ vì tính khoa học cũng như xác suất chính xác cao của nó. Thế nhưng, trong quá trình sử dụng, việc lạm dụng nó sẽ dẫn đến sự ngụy biện. Một hướng lạm dụng nó là việc ngụy tạo con số thống kê, một hướng lạm dụng dẫn đến qui kết chân lí thuộc về số đông. Chính vì vậy, nó bị xếp vào dạng ngụy biện vì sự sử dụng đến mức lạm dụng nó.

Thống kê dưới góc độ chân lí đánh giá trình độ nhận thức chân lí chứ không phải giá trị chân lí và bản thân nó cũng chỉ có giá trị tham khảo. Vì thế đánh giá cao hay lạm dụng nó sẽ dễ dẫn đến sa vào sự ngụy biện.

1.2.2.3.                        Ngụy biện lạm dụng luận cứ thiên nhiên:

Kiểu ngụy biện này dùng qui luận thiên nhiên làm luận cứ cho quan điểm của bản thân. Ví dụ A giải thích về sự cần thiết của sự bất công trong xã hội như sau: “ Trong tự nhiên, sự vật luôn luôn tuân theo qui luật mạnh được yếu thua, cá lớn nuốt cá bé. Kẻ bất tài thì phải bị trị bởi người có tài. Cho nên một xã hội cần phải có những người giỏi cai trị những kẻ ngu dốt thì xã hội mới trật tự”.

Ngụy biện kiểu này là đồng nhất giới tự nhiên và xã hội, đồng nhất qui luật tự nhiên và qui luật xã hội trong khi xã hội và tự nhiên là hai hệ thống khác nhau, khác về cấu trúc lẫn cơ chế vận hành. Vì thế, không thể đánh đồng chúng như nhau. Dẫu rằng xã hội vẫn là một phần của tự nhiên nhưng việc lạm dụng qui luật thiên nhiên làm luận cứ, cũng tức là đánh mất sự vận động và sự độc lập tương đối giữa xã hội và giới tự nhiên.

1.2.2.4.                        Lạm dụng điển tích làm luận cứ:

Dẫn chứng điển tích là thói quen trong tranh luận của người phương Đông nói chung, và người Việt nói riêng. Trong ngôn ngữ khoa học thì việc dẫn chứng điển tích là phương pháp logic lịch sử, đây là công cụ đắc lực để lí luận vì lịch sử đóng vai trò tiền đề cho hiện tại. Thế nhưng việc lạm dụng nó sẽ khiến luận cứ trở thành ngụy biện. Vì tính lịch sử cụ thể bao trùm lại yếu tố lịch sử này. Nói cách khác, không phải mọi yếu tố lịch sử nào có thể lặp lại tại hiện thực, cũng như không phải giá trị lịch sử nào có thể áp dụng cho hiện thực.

Điều này yêu cầu trong việc luận chứng khi sử dụng điển tích cần xem xét kĩ lưỡng để tránh rơi vào ngụy biện. Điều này vô cùng không đơn giản.

1.2.2.5.                        Ngụy biện dùng luận cứ chưa được chứng minh:

Cuối cùng trong nhóm ngụy biện luận cứ là hình thức ngụy biện khá phức tạp và nhiều cách áp dụng nhất.

Cách đơn giản nhất trong sự ngụy biện này là viện dẫn một luận cứ chưa chắc chắn về tính chân lý, tức là đánh tráo một giả thuyết khoa học thành một kết luận khoa học để làm luận cứ. Ví dụ: “ Vũ trụ rất mênh mông và chưa được khám phá, nên chắc chắn ngoài vũ trụ kia có sự sống ngoài con người.” Ở đây, người lí luận đã ngụy biện vì vũ trụ đã mênh mông và chưa được khám phá nên không có việc “chắc chắn” có sự sống, đáng lí ra để lập luận khoa học, người lí luận phải thay từ chắc chắn thành một từ khác như “ có thể”, “ giả thuyết cần xem xét”, tức là việc khẳng định một sự việc từ một tiền đề chưa xác thực là một sai lầm trong logic.

Một hệ quả từ hình thức trên – từ tiền đề không chắc chắn dẫn đến chắc chắn kết luận là sai lầm – là việc từ tiền đề không chắc chắn đến phủ nhận kết luận cũng là một sai lầm không kém. Như vậy, việc từ một tiền đề không chắc chắn, chúng ta không thể đưa ra một kết luận dù sai hay đúng mà vẫn chỉ đưa ra một giả thiết và phải khẳng định nó là một giải thiết chứ không phải là chân lí đã chứng minh.

Một hình thức phức tạp hơn của phương pháp này là sự kết hợp của nó vào niềm tin. Nó xuất phát từ việc không thể kiểm định luận cứ, niềm tin và nỗi sợ của con người. Ví dụ: Truyền thuyết thời Trung cổ kể rằng, vào ngày thứ Sáu tốt (Good Friday) của mỗi năm, khi giáo đoàn cúi đầu để cầu nguyện, người ta nói rằng bức tượng trên bàn thờ của nhà thờ sẽ quì xuống và rơi lệ. Nhưng nếu thậm chí một người nào đó từ những người cầu nguyện nhìn lên để nhìn những giọt nước mắt thì điều kỳ diệu sẽ không xảy ra nữa. Bức tượng chỉ khóc khi tất cả các thành viên giáo đoàn thể hiện một niềm tin tuyệt đối. Như vậy nếu mọi người đều cuối đầu cầu nguyện, thì không ai sẽ thấy bức tượng khóc. Nếu có 1 người ngó lên xem bức tượng, thì không phải mọi người đều cầu nguyện, và vì thế bức tượng sẽ không khóc. Như thế không thể chứng minh được bức tượng có quì và khóc hay không mà chỉ dùng niềm tin để khẳng định nó là thật.

1.2.2.6.                        Ngụy biện cá trích:

Loại ngụy biện này được dùng với hình ảnh xương cá trích ( sự đâm tua tủa không trật tự của xương cá trích) nhằm nói lên phương pháp ngụy biện bằng cách làm rối luận điểm bởi việc đưa nhiều luận điểm không liên quan đến luận điểm đang cần làm rõ ở luận đề.

Phương pháp này được sử dụng khá nhiều trong tranh luận của người Việt ( lí do sẽ giải trình sau) và kết quả là kéo dài cuộc tranh luận và luận đề tranh luận bị biến dạng khỏi luận đề ban đầu. Kết quả cuối cùng thu nhận được là không ra kết quả của luận đề ban đầu, nên đây là một phép ngụy biện nguy hiểm.

Ví dụ: Luận đề đưa ra là “ Việc sống thử trước hôn nhân có để lại hậu quả cho xã hội không?” A bảo rằng nếu có biện pháp tránh thai hiệu quả thì chẳng để lại hậu quả gì cho xã hội, mặt khác làm cho người tham sống thử nhận thức được đâu là nhu cầu thực sự của mình cho một gia đình tương lai. B phản biện cho rằng: “ Đó là vi phạm đạo đức truyền thống, và không phải ai cũng biết biện pháp tránh thai hiệu quả”.

Ở ví dụ trên, B đã ngụy biện cá trích bằng việc đưa “ đạo đức truyền thống” vào trong khi đang bàn về “ có để lại hậu quả hay không”, còn việc “không phải ai cũng biết tránh thai hiệu quả” chẳng qua là lời lập lại của A đã nói trong khi đang ở vai trò phản biện A. Nếu dùng luận điểm bổ sung thì B cần phải nói “ Nhưng không phải ai cũng biết được tránh thai an toàn và nhận thức đúng, cho nên cần phải đưa giáo dục can thiệp vào vấn đề này”, thì đó mới hợp logic. Còn việc đưa ra  “không phải ai cũng biết tránh thai hiệu quả” không phải là luận điểm bác bỏ.

1.2.2.7.                        Ngụy biện chẻ đôi giá trị:

Lối ngụy biện này sử dụng việc chẻ đôi giá trị như: “ đúng – sai”, “ có – không có”, “bạn hay thù” để làm kết luận cho tiền đề và che đi những giá trị khác có trong luận điểm.

Ví dụ: A bảo B “ Anh nói anh không tin vào chúa vậy anh là kẻ phản chúa”. Trong ví dụ này, A đã qui kết B vào hai giá trị “ có Chúa” và “ phản Chúa” trong khi tồn tại nhiều giá trị khác xung quanh hai giá trị này.

1.2.2.8.                        Ngụy biện do dùng phép tương tự  sai:

Loại sai lầm này bắt nguồn từ luận điểm: “ Có A thì có B, nên có B thì phải có A”. Điều này hoàn toàn vi phạm logic, đặc biệt là logic hình thức. Trong logic hình thức, mệnh đề “ A kéo theo B” tương đương với “ không B kéo theo không A” chứ không có “ có B kéo theo A”.

Trong thực tế, ngụy biện hướng này cũng rất thường được sử dụng.do sai lầm logic trong suy luận. Ví dụ: “ Các nước có IQ cao đều xây có đường sắt cao tốc, nên nước nào có đường sắt cao tốc thì nước đó IQ cao. Nước ta cũng phải xây đường sắt cao tốc để có IQ cao”.

Cũng trong nhóm ngụy biện này, chúng ta có dạng kết luận “ Có A có B, không có A thì không có B”. Điều này hoàn toàn sai vì B có thể được sinh ra từ nhiều vấn đề, việc không có A mà không có B thì không có cơ sở để kết luận trừ khi “ Có B khi và chỉ khi có A” thì phủ định như vậy là chính xác. Ví dụ: “ Tôi quét nhà thì nhà sách, tôi không quét nhà thì nhà không sạch.” Điều này chỉ đúng khi nhà chỉ có mình tôi quét, trong khi còn rất nhiều điều kiện có thể diễn ra song song với điều kiện đó, loại ngụy biện này thường đi kèm với loại ngụy biện lược bỏ mệnh đề.

1.2.2.9.                        Ngụy biện lợi dụng tính phong phú từ ngữ Việt:

Từ ngữ Việt vốn phong phú về nghĩa cũng như từ đồng âm. Loại ngụy biện này là lợi dụng những yếu tố đấy trong ngôn ngữ Việt.

Hình thức ngụy biện này rất dễ nhận ra, nhưng lại khó bác bỏ vì cách hiểu khái niệm từ phần lớn chưa được thống nhất khi bắt đầu tranh luận hay trình bày luận điểm.

Ví dụ: Một cô gái lần đầu tiên đi tắm hồ bơi. Ông chủ hồ bơi hỏi cô ta: – Cô muốn mướn đồ tắm hả? – Dạ – Cô muốn mướn đồ hai mảnh hay một mảnh? Cô ta mắc cở nói: – Ơ, mặc đồ hai mảnh kì chết, tôi mướn đồ một mảnh thôi. Ông chủ ranh mãnh hỏi: – Cô muốn mảnh trên hay mảnh dưới? Cô gái đỏ mặt chẳng biết trả lời sao.

1.2.2.10.                   Ngụy biện sử dụng mệnh đề rời rạc:

Loại ngụy biện này sử dụng phương pháp sử dụng các mệnh đề không liên quan đến nhau để làm luận điểm phát biểu. Vì tính không rời rạc nên nó vừa phi logic vừa khiến người phản biện không có cơ sở phản biện thành ra mặc nhiên sự phi logic này đúng theo lối giả tạo.

Lối ngụy biện mệnh đề rời rạc này có dạng biểu hiện bằng những sự liên kết phi logic giữa các mệnh đề. Ví dụ: “Người Ai Cập đã từng làm nhiều khai quật để xây dựng những kim tự tháp, họ chắc chắn phải rất thạo về cổ sinh vật học”.

1.2.2.11.                   Ngụy biện nguyên nhân sai ( post hoc)

Lối ngụy biện này phát triển từ loại ngụy biện mệnh đề rời rạc. Chính vì sự rời rạc của mệnh đề mà khi thiết lập mối liên hệ giữa các mệnh đề ấy thành nguyên nhân – kết quả sẽ dẫn đến ngụy biện nguyên nhân sai.

Biến thể của “post hoc” này tồn tại nhiều dạng như: ảnh hưởng liên đới, nguyên nhân phức tạp, Nguyên nhân sai (Non causa pro causa). Ví dụ: “ Khi tôi tham gia 1 cuộc đua, mẹ tôi đưa tôi sợi dây chuyền may mắn và tôi đã chiến thắng. Chính sợi dây chuyền đã giúp tôi chiến thắng”

1.2.2.12.                   Ngụy biện dựa vào cái mới:

Thông thường, một cái mới được sinh ra nhằm khắc phục các nhược điểm của cái cũ. Vì thế, cái mới được xem là tiến bộ hơn cái cũ. Chính vì điều này, người ngụy biện tận dụng nó để làm tuyệt đối hóa vai trò cái mới, làm mất đi vai trò của logic trong lập luận. Vì về tính tiến bộ không nằm ở cái danh mới và cũ mà nằm ở việc bản thể cái mới có tiến bộ hơn cái cũ hay không.

Ví dụ: “ Windown ME phải tốt hơn Windows 98 vì Windows ME ra đời sau Windows 98”. Kết luận này là sai vì muốn chứng minh tốt hơn người lí luận phải đưa ra các bằng chứng minh Windows ME khắc phục được những nhược điểm Windows 98 chứ không phải vì ra đời sau mà nó tốt hơn.

1.2.2.13.                   Ngụy biện bằng luận điệu ngược ngạo:

Ngụy biện này dựa trên lối ứng xử thường nhật mang tính phi logic của con người. Các hình thức cụ thể của nó như: “ Kẻ nói lớn tiếng là người thắng”, “ Nói cướp lời người khác không cho người khác nói là thắng”, hay “ giao việc chứng minh cho người khác”. Tức là trong quá trình luận chứng, người lí luận dùng những yếu tố phi logic để đàn áp người phản biện.

Ví dụ: A bảo “ Sau sự sống là một thế giới của linh hồn”, B bảo: “ Không có thế giới linh hồn”. A bảo B hãy chứng minh đi. Ở đây đáng lẽ ra A phải chứng minh luận điểm của mình nhưng lại không thực hiện mà bắt B chứng minh. Trong trường hợp B bảo A phải chứng minh thì từ một cuộc tranh luận khoa học biến thành một cuộc cãi nhau mà trong đấy việc ép người khác phải chứng minh điều mình nói là trọng tâm buổi tranh luận.

Hay trong những cuộc tranh luận, một người chỉ cần lớn tiếng và át lời người khác, không cho người khác nói nghiễm nhiên được công nhận là người thắng. Đấy là được xem là lối ngụy biện ngược ngạo cả về logic và cả về lối sống. Và trong đời sống hằng ngày, lối ngụy biện này thường được sử dụng rộng rãi và phổ biến.

1.2.2.14.                   Lí lẽ quanh co:

Một dạng biến tướng khác của việc ngược ngạo nhưng ít mang tính bạo lực hơn là việc diễn giải dài dòng không đi vào vấn đề chính của cuộc tranh luận, nhằm đưa người phản biện đi vào mê cung của chữ nghĩa và luận điểm.

Một dạng biến tướng khác của lí lẽ quanh co này là việc cứ lặp đi lặp lại một vấn đề nhằm ám thị cho người nghe nhầm tưởng điều đang nói là 1 chân lí, mặt khác viện dẫn những luận cứ mà người nghe không có điều kiện tra cứu độ xác thực khiến họ tin tưởng vào những điều đang nói cũng là dạng quanh co trong lập luận này.

Loại ngụy biện này dễ thấy ở các buổi hội thảo nơi mà những người hội thảo luôn muốn hướng thính giả vào mục đích mình đang muốn nhấn mạnh. Loại ngụy biện này thường đi kém với loại ngụy biện dựa vào uy tín cá nhân để tăng độ thuyết phục của luận điểm.

1.2.2.15.                   Ngụy biện do qui nạp sai:

Loại ngụy biện này được vi phạm đa phần là do vô ý của người sử dụng, bởi lỗ hổng của phép quy nạp thông thường. Lỗ hổng này được phát hiện đầu tiên có lẽ bởi David Hume về trường hợp “ Black Swarn” của ông. Nhưng dù có là phát hiện của ai thì qui nạp truyền thống sử dụng kinh nghiệm trực quan làm tiền đề nhưng kinh nghiệm trực quan này lại không đảm bảo tính chính xác nên kết luận bao giờ cũng bấp bênh trong cán cân chân lý.

Loại ngụy biện này thường được dùng với tên gọi “ khái quát hóa vội vã, khái quát hóa không đúng chỗ,…” nhưng tác giả thống nhất xếp chung những loại ấy vào dạng qui nạp sai để có tính khái quát cao nhất về loại ngụy biện này.

1.2.2.16.                   Ngụy biện do ám thị:

Ngụy biện ám thị được hiểu là loại ngụy biện mà người tranh luận suy diễn vô căn cứ luận điểm của đối phương rồi phê phán chính sự suy diễn ấy. Trong một số tác phẩm loại ngụy biện này mang tên: “ Nhét chữ vào miệng người khác hay ngụy biện rơm” thì đều là dạng này.

Ví dụ: A và B đang tranh luận về việc sống thử trước hôn nhân, A ủng hộ còn B phản đối. B chỉ trích A bằng luận điểm: “ Sở dĩ anh ủng hộ vì nó mang lại lợi ích cho anh và nó giúp anh có thể sống thử với ai đó anh thích”. Như vậy B đã mang lại cuộc tranh luận một luận điểm không liên quan gì luận đề đang được bàn cãi và nhằm mục đích công kích A.

1.2.2.17.                   Loại ngụy biện từ ngữ:

Loại ngụy biện này thường được sử dụng rất nhiều trong cách hành văn của người Việt. Nó có thể được xem là loại ngụy biện lạm dụng từ ngữ hay đánh vào sự không biết của người nghe.

Loại ngụy biện này thường thêm vào câu văn những từ như: “ Nói chung”, “ Dưới góc độ nào đó” hay “ theo cách hiểu nào đó”, hay “ trong tính tương đối nào đó”. Những từ ngữ này chúng ta thường dùng như lời chốt một ý cuối cùng cho luận điểm thế nhưng để cụ thể một cách tiếp cận, người trình bày cần làm rõ “ cái gì đó” hay “ cái nào đó” thành một cái cụ thể – cái hướng tiếp cận vấn đề – mà người trình bày đang nói đến. Còn sử dụng nó một cách vô cớ sẽ dẫn đến sự ngụy biện.

Ví dụ: bàn về kẹt xe trong thành phố có ý kiến cho rằng: “ Theo một cách hiểu nào đó, việc kẹt xe cũng giúp con người có thời gian tĩnh tâm lại sau những thời gian chạy đua cùng cuộc đời, nên xét dưới góc độ nào đó, nó cũng có lợi cho con người”.

III. Vài biểu hiện của ngụy biện trong đời sống:

  1. Các biểu hiện ngụy biện có trong dân gian:

Trong văn học dân gian Việt Nam, hình thức ngụy biện thường ẩn chứa trong cách suy luận về thế giới nhưng chủ yếu về thân phận con người trong thế giới, tức là nó ẩn chứa trong ca dao, trong tục ngữ, thành ngữ Việt Nam.

–   Ai ơi, chớ nghĩ mình hèn

Nước kia dù đục lóng phèn cũng trong

Hình thức ngụy biện trong câu ca dao này là dùng hình ảnh tương phản nước phèn và phận người. Về tính logic, không có mối liên qua giữa chuyện lóng phèn và chuyển hèn thành sang. Bên cạnh đấy, câu ca dao lại ngụy biện theo lối qui nạp sai cho rằng tất cả các loại nước phèn đều lóng sẽ trong làm tiền đề thuyết phục con người sẽ cải được phận hèn của mình. Như vậy, trong ca dao này vi phạm hai phép ngụy biện và nội dung dùng để cho người đời tự an ủi bản thân mình. Phải chăng, đây là bệnh thắng lợi tinh thần AQ?

–   Không có lửa làm sao có khói

Trong câu tục ngữ này, người xưa đã sử dụng nguyên nhân sai dẫn đến tính logic của câu bị sai. Vì thực tế nếu có lửa thì sẽ không có khói, khói chỉ xuất hiện khi lửa chuẩn bị cháy và trước khi cháy. Dẫu biết rằng ý câu này muốn nói về mối quan hệ nguyên nhân kết quả nhưng hệ quả sử dụng không đúng logic dẫn đến thế hệ sau cứ tranh cãi mãi việc “ không có lửa sao có khói” và “không có khói sao có lửa”. Có nên chăng sửa lại là “ Không đốt lửa làm sao có khói” sẽ rõ nghĩa hơn.

–   Chẳng ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời

Câu tục ngữ trên vi phạm vào xây dựng tiền đề không chắc chắn từ việc qui nạp sai. Nó có tác dụng an ủi tinh thần con người nhưng mặt khác lại là sự ngụy biện khi không chỉ ra sự hợp lí của việc “ tại sao không giàu được ba họ, tại sao lại chẳng thể khó ba đời”.

Cũng trong phép qui nạp sai chúng ta có những câu tục ngữ đại loại như:

  • Giàu đổi bạn, sang đổi vợ.
  • Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ
  • Phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc
  • Rau nào sâu nấy, cha nào con nấy.
  • Cha dạy học, con đốt sách

Lỗi của phép qui nạp suy đến cùng nguyên nhân thì do sự hữu hạn trong kinh nghiệm của con người để xây dựng tiền đề khái quát, hầu hết nó chỉ  nói lên tính đúng của đa số trường hợp trong sự khái quát ấy. Vì thế tính qui nạp sai này hầu hết hiện diện trong mọi hình thức ca dao, tục ngữ trong việc khái quát hóa loại người hay phán xét người của người xưa. Điều này dẫn đến sự tranh cãi không dứt của hậu thế ở những câu ca dao tục ngữ này, lại vừa là cơ sở cho người ngụy biện sử dụng đến phiến diện cách đánh giá của mình.

Hệ quả từ việc sai lầm của người xưa là rất to lớn cũng từ điểm này mà nên. Và một trong những sai lầm ấy là người xưa viết nên những câu truyện Trạng, một mặt góp phần đả kích vào thói hư tật xấu người Việt và đả kích giai cấp phong kiến cầm quyền nhưng lại đa phần sử dụng các thuật ngụy biện để giải quyết vấn đề ấy. Nguy hiểm thay, thế hệ sau lại truyền dạy nhau như minh chứng cho sự thông minh, khéo léo, tài giỏi của dân gian Việt Nam

  1. Các biểu hiện ngụy biện thời hiện đại:

Chúng ta đang sống trong một kỉ nguyên hiện đại với sự phát triển của mạng thông tin vũ bảo. Báo chí nhờ đó mà cũng phát triển rất mạnh so với trước. Những trang báo giấy tuy vẫn còn tồn tại nhưng sự phát triển của báo mạng cũng rất vũ bão. Nhờ báo mạng, dường như nhà nhà ai cũng có thể làm báo, lượng báo từ các cộng tác viên đến bạn đọc thông thường hay các nhà báo chuyên lẫn không chuyên đều rất lớn. Cũng nhờ đó, con người càng biết đến sự ngụy biện lẫn nhau nhiều hơn, mà đôi khi sự ngụy biện ấy lại ít lộ diện như sự ngụy biện mà lại dưới lớp vỏ logic và khoa học, vô tình chung tạo nên những thói quen tư duy không lành mạnh ở người Việt.

Một lối ngụy biện khá phổ biến trong cộng đồng báo mạng đó là lợi dung sự nặc danh của đối tượng đề cập để viết những bài hàm hồ, thiếu căn cứ và mang yếu tố “ giật gân”, dễ dãi là chính. Minh chứng cho điều đấy là những bài dạng tin nhanh, hay tâm sự ở các báo như Vietnamet, VNExpress, mà đề cử là bài: “Thám tử phát hiện nhóm teen ‘yêu’ tập thể”  đề cập chuyện nhóm học sinh lớp 9 thuê nhà nghỉ để quan hệ tình dục. Trong bài báo, nhân vật được đề cập cũng như các tình tiết diễn ra gợi cho người xem – những ai có đầu óc hoài nghi – một câu hỏi về độ chân thực của bài báo. Những tình tiết vô lí diễn ra, những luận cứ không căn cứ phải chăng là sự non nớt trong tưởng tượng của tác giả? Dường như sự nặc danh hay yếu tố bảo mật danh tính đã bị lợi dụng trong việc những bài báo mang tính chất giật gân, câu khách như thế này. Vô tình chung tạo ra thói quen tư duy dễ dãi ở một bộ phận nhà báo cũng như người đọc. Thiết nghĩ, những vấn đề này cần được siết mạnh, làm chặt tay ở bộ phận ban biên tập để những bài báo phản ánh xã hội có chất lượng hơn.

Thời gian gần đây, các phương tiên thông tin đại chúng đang nóng lên về vấn đề bộ ảnh nude “ vì môi trường” của người mẫu Ngọc Quyên. Dĩ nhiên rằng, tính nghệ thuật hay không của bộ ảnh nude đang cần phải thẩm định thêm, cũng như ý nghĩa môi trường sẽ được tạo ra tới đâu từ tập ảnh cũng cần thời gian xem xét, nhưng dù thế nào, người mẫu Ngọc Quyên cũng đã tạo dấu ấn riêng trong sự nghiệp yên bình của mình qua tập ảnh này và cũng nhờ vấn đề này, tác giả phát hiện ra những phép ngụy biện từ nhiều phía trong vụ việc trên.

Trong bài báo có tiêu đề: “Ngọc Quyên: Mẹ và bạn trai chấp nhận ảnh nude của tôi”  trên báo điện tử VNExpress ngày 23/3/2011 của nhà báo Ngọc Trâm có đoạn: “Trước khi công bố rộng rãi, tôi đưa bộ hình cho mẹ xem. Ban đầu, mẹ tôi không đồng ý vì không thể chịu nổi việc con gái mình trút bỏ quần áo để lên báo chí. Tôi đã phải thuyết phục mẹ rất nhiều. Lần cuối cùng tôi nói với bà: “Mẹ phải tin tưởng con, mẹ không ủng hộ con thì chẳng ai ủng hộ con nữa. Con không đủ mạnh mẽ để chống lại những thứ đổ ập lên con nếu không có mẹ làm chỗ dựa”. Cuối cùng bà đành chấp nhận.” . Như vậy chúng ta có thể thấy rõ ràng người mẫu Ngọc Quyên đã dùng sự trắc ẩn và tình thương con của người mẹ để kêu gọi sự ủng hộ cũng như sự cho phép của người mẹ để có thể đưa những bức ảnh này ra công chúng. Về mặt logic, đáng lẽ ra, Ngọc Quyên phải thuyết phục mẹ dựa trên tính thẩm mỹ và tính giá trị của bộ ảnh của mình. Thế nhưng thay vì đó, Quyên lại thuyết phục mẹ dựa trên sự cảm tính để rồi tuyên bố rằng “ mẹ tôi đã ủng hộ tôi” là phép ngụy biện của Quyên trong vấn đề này.

Cũng trong bài báo, khi được hỏi: “Bộ ảnh được đánh giá là khá đơn điệu, sơ sài về ý tưởng chứ chưa đạt đến trình độ nude nghệ thuật. Dường như chị chưa thực sự đầu tư cho nó?”  Ngọc Quyên trả lời rằng: “Tôi chỉ có khuôn mặt và cơ thể để đóng góp cho những khuôn hình. Tôi tụt đồ để cuốn hút sự chú ý đến thông điệp mình đưa ra, chứ không phải nude một cách tục tĩu. Một bộ ảnh nude hướng về thiên nhiên, tất cả cần đơn giản. Nếu cầu kỳ, nó là bộ hình nude nghệ thuật với trung tâm bức ảnh là nhân vật chứ không phải khung cảnh xung quanh nó. Tôi tạo dáng bên cây cối, con suối trong tư thế thoải mái nhất. Khi đó, tôi cảm giác mình là một cái cây đang vươn lên. Trái đất khi không có cây cũng giống như con người khi không mặc quần áo – không còn gì bảo vệ, những tác động từ bên ngoài sẽ không còn gì ngăn cản. Tôi mong người xem hãy nhìn khung cảnh sau tôi chứ không phải nhìn một Ngọc Quyên đang nude.” Trong câu trả lời này, Ngọc Quyên cũng đã sử dụng nhiều phép ngụy biện.  Thứ nhất là việc qui đồng vấn đề “ cầu kỳ trong xử lý” sẽ dẫn đến “ trung tâm bức ảnh là nhân vật”, hai vấn đề không có mối liên kết hay quan hệ với nhau. Việc xử lý nghệ thuật một bức ảnh là yếu tố kĩ thuật trong việc nâng đối tượng cần tập trung trong ảnh ở đây là cảnh và vật, Quyên đã che mất mệnh đề vật để hướng người nghe vào việc “ cứ cầu kỳ kĩ thuật” là “ nổi bật người không nổi bật cảnh”. Hay nói một cách khác, một bức ảnh nào cũng cần phải đầu tư trong việc xử lí kỹ thuật ( mà Quyên gọi là cầu kì đó) còn “vật hay cảnh” là đối tượng xử lý chứ không chỉ “vật” là đối tượng duy nhất của việc xử lý, như thế cũng không có nghĩa là “Một bộ ảnh nude hướng về thiên nhiên, tất cả cần đơn giản”. Lý lẽ trên là ngụy biện loại bỏ bớt mệnh đề.

Mặt khác, Quyên cho rằng “Tôi mong người xem hãy nhìn khung cảnh sau tôi chứ không phải nhìn một Ngọc Quyên đang nude”, nếu vậy, tại sao Quyên lại đi chụp ảnh nude rồi bảo mọi người nhìn khung cảnh chứ không nhìn Quyên nude? Như vậy phải chăng Quyên đang phủ nhận chính việc Quyên đang kêu gọi? Điều này xuất phát từ việc sử dụng phép ngụy biện mệnh đề rời rạc khiến người nghe không rõ Quyên đang muốn nói chính yếu về vấn đề gì.

Cũng trong câu trả lời, Ngọc Quyên lý giải về nội dung tập ảnh nude của mình: “Trái đất khi không có cây cũng giống như con người khi không mặc quần áo – không còn gì bảo vệ, những tác động từ bên ngoài sẽ không còn gì ngăn cản.”Đây là sự lấy tính tương đồng không hợp lý trong so sánh của Ngọc Quyên. Vì hai đối tượng so sánh ở đây là “ trái đất khi không có cây” và “ con người khi không mặc quần áo” còn tính tương đồng là “ không còn gì bảo vệ những tác động từ bên ngoài”. Rõ ràng đây là tính tương đồng sai, vì cái yếu tố bảo vệ trái đất khỏi tác động bên ngoài là tầng ozon hay tầng từ trường xung quanh trái đất giống như quần áo – con người mà Quyên đang muốn nói đến, còn cây xanh chỉ đóng vai trò là sự điều hòa về nhiệt độ cũng như hàm lượng không khí trên địa cầu. Như vậy đây là phép ngụy biện tính tương đồng sai mà Ngọc Quyên đã sử dụng.

Minh chứng tiếp theo đến từ sự kiện “ Nên hay không nên cấm học sinh lưu thông xe máy và sử dụng điện thoại di động” đã từng là tiêu điểm trên các mặt báo. Bắt đầu từ bài báo từ học sinh cấp 3: “Bức thư nói ‘không’ bất ngờ của nhóc 9X” . Bỏ qua cách đặt tiêu đề hết sức mơ hồ về từ “không” và chẳng ăn nhập gì về nội dung bài viết, chúng ta phân tích các luận điểm trong bài viết của học sinh này.

Học sinh này cho rằng: “Thế nhưng, có phải đa số học sinh sử dụng phương tiện này là xấu? Câu trả lời là KHÔNG.”, nhưng chứng minh luận điểm học sinh đơn giản chỉ dẫn: “Trong số hàng ngàn, hàng vạn học sinh sử dụng điện thoại di động thì chỉ có một bộ phận nhỏ sử dụng nó vào mục đích xấu mà chưa nói đến những bạn sử dụng chúng rất hữu ích.” Như vậy khái niệm “ chỉ một bộ phận nhỏ” đã không được làm rõ là nhỏ thế nào? con số cụ thể ra sao? hay nó chỉ là phỏng đoán hay cách tư duy ngụy biện dễ dãi của một đối tượng học sinh cấp 3?

Học sinh này cũng lập luận hết sức ngây ngô và khó hiểu ở điểm: “Em không phủ nhận là có bạn suốt ngày nhắn tin, có bạn “nghiện” điện thoại, có bạn dùng vào việc không nên. Do vậy, em càng không thể phủ nhận những cái tích cực của nó”. Chứ “ do vậy” ở đây không liên kết được 2 mệnh đề em học sinh này đưa ra, vừa làm câu văn khó hiểu, vừa thể hiện sự rời rạc của mệnh đề em đang cố liên kết. Những luận điểm tiếp theo được em đưa ra để minh chứng cho sự tiện dụng của điện thoại di động là: “Em rất thích dùng điện thoại trong giờ tiếng Anh để tra từ điển (sau khi xin phép cô giáo), và hiệu quả đem lại là cao bởi học tiếng Anh không thể thiếu cuốn từ điển.”, hay  “Em cũng dùng nó để tìm hiểu thêm khi có những tiết thuyết trình về bài lịch sử,… hay đôi khi dùng nó để giải trí trong giờ ra chơi, nghỉ giữa giờ.” Những luận điểm trên đã lược bỏ những mệnh đề liên quan đến luận điểm. Việc điện thoại có thể sử dụng dể tra từ điển là có thế nhưng còn những cuốn từ điển liệu quá ít từ cho em hay chăng mà phải dùng điện thoại mới có thể tra từ điển được? Việc tìm hiểu thêm khi có thuyết trình lịch sử không thể diễn ra ở nhà hay tìm tòi ở tư liệu hay sao mà phải cần điện thoại để tra cứu? Đó là chưa kể việc người khác thuyết trình em lại mày mò tra cứu thì em sẽ nằm thông tin người đang thuyết trình hay nắm thông tin em có được trên mạng? Độ ngây ngô còn thể hiện ở việc em dùng điện thoại để giải trí trong giờ chơi. Giờ chơi được sinh ra để các em vận động cơ thể để học tập tốt hơn chứ không phải để các em giải trí các trò chơi điện tử trên điện thoại. Như vậy, các luận điểm em đưa ra đều là ngụy biện để giải thích sự tồn tại hợp lý của điện thoại di động trong việc học cũng như việc chơi của các em.

Phải chăng, việc cấm các em sử dụng điện thoại là không thể vì nhu cầu của lứa tuổi và điều kiện gia đình thế nhưng việc kiên quyết không cho các em sử dụng trong giờ học là việc có thể và cần thiết.

Ngoài ra khi em đề cập đến việc sử dụng xe máy, em sử dụng luận điểm : “ Khi em sử dụng xe máy để đi lại với các bạn, chúng em vẫn nhắc nhau đội mũ bảo hiểm đầy đủ, không kẹp ba, không đi nhanh, lạng lách, đến đèn đỏ thì bảo nhau đỗ lại. Thử đặt ra câu hỏi: Vì sao phải đến 18 tuổi mới được điều khiển xe máy thay vì 16 tuổi? Câu trả lời sẽ đại loại là: Do con người ở tuổi 18 đã sắp hoàn thanh giai đoạn phát triển cơ thể, do tuổi 18 sẽ có những suy nghĩ chín chắn, vân vân. Nhưng bây giờ học sinh phát triển thể chất rất nhanh, 16 tuổi nhưng đã rất cao lớn. Còn về suy nghĩ, nó là một quá trình từ bé đến lớn, chứ không phải từ tuổi 16 đến 18 mới vững chắc về suy nghĩ. Vì thế, để tránh những clip xấu, yêng hùng xa lộ tương lai thì nên là giáo dục ý thức, tư tưởng cho học sinh từ khi còn bé. Bé tức là từ mẫu giáo, tiểu học.” Ở luận điểm một, em đưa ra bằng chứng về việc em chấp hành tốt luật lệ, không những thế lại nhắc nhở nhau thực hiện, thế nhưng căn cứ xác thực cho luận cứ này ở đâu? Và phải chăng, đây là phép ngụy biện đánh vào cảm tính của người nghe. Luận điểm thứ hai của em là phê phán việc cho rằng 18 tuổi sẽ có những suy nghĩ chín chắn nhưng em luận chứng bằng luận điểm 16 tuôi đã cao lớn, tức là em đánh tráo khái niệm từ việc suy nghĩ thành thể chất, mặt khác mang tiếng là phê phán, em không phủ định hay bác bỏ nó mà đưa ra luận điểm bổ sung cho nó “Còn về suy nghĩ, nó là một quá trình từ bé đến lớn, chứ không phải từ tuổi 16 đến 18 mới vững chắc về suy nghĩ. Vì thế, để tránh những clip xấu, yêng hùng xa lộ tương lai thì nên là giáo dục ý thức, tư tưởng cho học sinh từ khi còn bé. Bé tức là từ mẫu giáo, tiểu học.” nhưng lại nhầm tưởng là đang phê phán và bác bỏ nó. Tư duy này thể hiện sự dễ dãi trong suy luận của em học sinh, hay nói cách khác, bệnh ngụy biện đang tồn tại trong em học sinh này.

Cũng trong vấn đề “ xe máy và điện thoại” này, chúng ta đến với bài báo: “10 km có đáng gì…” , bài báo là sự tổng hợp các ý kiến của bạn đọc về vấn đề đang nêu trên. Lướt qua, chúng ta dễ dàng thấy những sự lí giải mang yếu tố ngụy biện hết sức đến từ các tầng lớp khác nhau trong xã hội:

  • “ Các bạn sống ở thành phố được hưởng nhiều điều tốt đẹp, nên bây giờ vì không được như ý muốn là các bạn đã lên tiếng phản đối. Các bạn có biết có những bạn cùng trang lứa sống tại các vùng rừng núi xa xôi phải đi bộ tới trường. Mà trường thì cách xa nhà tới 10km, đường đi khó khăn nhiều, nhưng họ vẫn luôn yêu đời và học giỏi. Có thể nói, đa số những người thành đạt đều xuất phát từ nông thôn”
  • “Và thật xấu hổ cho bạn học sinh nào nói rằng đi xe đạp thì “đến lớp chỉ có nằm vật ra thở”!
  • “Các cô ấm cậu chiêu có khi nào đi xe máy ra đường mà nghiêm chấp hành luật giao thông đâu”
  • “Thôi đi bạn ơi làm gì có chuyện ấy có chắc là bạn chịu đội mũ bảo hiểm khi bạn có một bộ tóc làm xoăn rất đẹp, còn các bạn nam thì đầu đầy keo lại chịu đội mũ làm gì có chuyện “10 bạn thì 9 bạn phục vụ mục đích đúng đắn”. Bạn đi học có 10km còn những bạn vùng sâu vùng sa đi bộ, đạp xe cả ngày đường thì làm sao”

Những tưởng sự ngụy biện này đôi khi chỉ xảy ra ở con trẻ hay những người ít tư duy hay học vấn thấp, thế nhưng bài báo: “Phản hồi đanh thép của phụ huynh 6X” lại bổ sung đối tượng là người lớn tuổi ( ở đây là tầm trên dưới tuổi 40) để thấy rằng sự ngụy biện chẳng chừa một ai.

Phụ huynh này dẫn ra luận đề thứ nhất: “Quỹ thời gian giành cho việc học, kể cả học ở trường, học thêm ở các lò, học ở nhà nhiều khi cỡ 14/24 giờ vẫn chưa bơi hết, vẫn phải cố gắng. Mười giờ còn lại thì ăn uống, sinh hoạt cá nhân hết chừng 3 giờ, còn lại chừng 7 giờ dành cho việc ngủ. Nếu phải đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường sẽ khiến các em luôn vội vàng, hốt hoảng và quỹ thời gian nghỉ sẽ hẹp lại. Khi đến trường là mệt nhoài, nhất là với các em ở cự li xa trường hơn 5 km. Nhìn vào lịch này, thấy quỹ thời gian dùng cho việc du hí, ngao du thì học sinh thuộc nhóm ít nhất xã hội nếu so với thanh niên sinh viên, công nhân, thậm chí so với người lớn.” Cũng như các luận cứ đã dẫn chứng trên, loại ngụy biện xuất hiện trong luận điểm này là ám thị và loại bỏ mệnh đề. Con số 14/24h là con số áng chừng và không đại diện chung cho mọi tầng lớp học sinh.

Mặt khác, tự nhiên đã qui định sự phân chia thời gian hợp lí cho mỗi nhóm hoạt động là 8 tiếng học tâp ( làm việc); 8 tiếng nghỉ ngơi tái sản xuất sức lao động; 8 tiếng vui chơi, tự đào tạo. Phụ huynh đã làm sai qui tắc tự nhiên bằng việc sử dụng 14/24h cho việc học thì làm sao lại trách là “Nhìn vào lịch này, thấy quỹ thời gian dùng cho việc du hí, ngao du thì học sinh thuộc nhóm ít nhất xã hội nếu so với thanh niên sinh viên, công nhân, thậm chí so với người lớn.”.

Mặt khác, phụ huynh đã ám thi việc “Nếu phải đi bộ hoặc đi xe đạp đến trường sẽ khiến các em luôn vội vàng, hốt hoảng và quỹ thời gian nghỉ sẽ hẹp lại.”, câu hỏi đặt ra cho phụ huynh là vai trò của phụ huynh ở đâu trong việc đưa đón con trẻ, và rất nhiều phương tiện khác ngoài chuyện đi bộ và xe đạp đến trường. Phải chăng để cố làm vững luận điểm của mình, phụ huynh đã ngụy biện bằng cách lược bỏ hết mệnh đề liên quan để chẻ giá trị lí luận theo hướng có lợi cho mình. Bên cạnh đó, phụ huynh cho rằng: “. Nhìn vào lịch này, thấy quỹ thời gian dùng cho việc du hí, ngao du thì học sinh thuộc nhóm ít nhất xã hội nếu so với thanh niên sinh viên, công nhân, thậm chí so với người lớn”  là một luận điệu cá trích trong ngụy biện. Vấn đề đang bàn ở đây là việc nên hay không nên cho học sinh sử dụng xe máy chứ không phải thời gian du hí và ngao du của học sinh mà phụ huynh lại đưa luận điểm này vào để làm rối luận đề mọi người đang bàn tới.

Luận đề thứ hai phụ huynh đề cập là: “ thao tác lái xe”, phụ huynh lại càng lộ rõ tính chất ngụy biện trong luận điểm của mình. Thứ nhất là đưa một luận điệu cá trích vào luận điểm: “Luật giao thông hiện nay KHÔNG CẤM một cụ già 65 tuổi hoặc một bà trung niên nhà quê chừng 50 -60 tuổi cầm lái xe gắn máy nếu đã có giấy phép”.

Thứ hai là đưa ra một luận cứ cảm quan thiếu xác thực và khái quát hóa không đúng chỗ: “Tôi đã quan sát nhiều trường hợp những phụ nữ từ nông thôn ra thành thị, 50 tuổi mới mó vào cái xe lần đầu, một tháng sau đã chở cả đống  hàng trên xe chạy ngon lành.” để rồi kết luận một luận điểm “ Do đó, không gì vô lý, duy lí hơn việc nghĩ rằng học sinh không biết lái xe, không có bằng cấp là không lái được xe trong khi thanh niên 16-17 tuổi là loại thông minh, nhạy cảm là linh hoạt nhất đời người. Nhìn vào việc học –hành thì việc học tập để nắm luật giao thông,  để có thể đi , thậm chí đi xe gắn máy giỏi chỉ là chuyện nhỏ so với những kỹ năng khác mà các em phải học. Trên thực tế các em đi xe rất giỏi, giỏi hơn các cụ già, các bà phụ nữ nhiều”  thì việc “  việc học tập để nắm luật giao thông,”  là kiến thức và “đi xe gắn máy giỏi chỉ là chuyện nhỏ”  là kĩ năng, là 2 vấn đề khác nhau và không thể liên kết. Mặt khác cho rằng: “Trên thực tế các em đi xe rất giỏi, giỏi hơn các cụ già, các bà phụ nữ nhiều”  là kiểu ngụy biện khái quát sai. Nếu cũng trên quan điểm thế và lối tư duy để có thể nói “ Các em không được đi xe máy vì đi tệ hơn những người đàn ông trưởng thành” thì cũng rất hợp lí. Việc các em học sinh đi xe máy giỏi hơn, có khả năng đi xe máy hay không không là vấn đề mà mọi người đang bàn tới, mà vấn đề là ý thức khi điều khiển tham gia giao thông của lứa tuổi học sinh là non nớt cũng như kinh nghiệm non trẻ trước các tình huống. Việc phụ huynh này đưa vào những luận điểm chẳng ăn nhập vào luận đề mọi người đang quan tâm tới là hình thức ám thị và loại bỏ, chẻ các giá trị luận điểm ra nhằm quanh co lí luận làm người đọc khó nắm bắt nội dung chính mà phụ huynh này muốn nói tới.

Đỉnh điểm của sự ngụy biện của phụ huynh là việc phụ huynh đưa ra luận điểm: “Không có gì vô lí, nực cười hơn việc một bà mẹ gầy yếu chạy xe chở một ông con to béo, đang tuổi “bẻ gãy sừng trâu” ngồi  ngất ngư đằng sau, suốt ba năm học cấp ba.” Luận điệu cá trích được tác giả sử dụng triệt để trong luận điểm này khi nó chẳng liên quan gì đến việc mọi người đang quan tâm tới là ý thức điều khiển tham gia giao thông của lứa tuổi học sinh

Rời các bằng chứng cho thấy sự ngụy biện trở thành quen thuộc trong lối tư duy Việt ở các mặt báo tác giả đến với những nhận định mang yếu tố ngụy biện đến từ những người đáng tin cậy hơn vì xét về “ chính danh” thì những phát biểu hàm hồ của nhóm đề cập trên không thể hiện được sức mạnh của ngụy biện đã lan tỏa thế nào trong tư duy Việt.

Sự việc đình đám gần đây nhất là việc giải cứu cụ Rùa ở Hồ Gươm có lẽ gây dấu ấn nhiều người là những phát biểu hết sức ngây ngô từ những vị có học hàm học vị trong buổi hội thảo giải cứu cụ Rùa. Thế nhưng chỉ xét về vấn đề ngụy biện có lẽ không bỏ qua được  một thạc sĩ Kim Văn Vạn, Trưởng Bộ môn Nuôi trồng Thủy sản-Đại học Nông nghiệp Hà Nội trong bài báo “Cuối tháng 2 và đợi trời ấm sẽ cứu cụ rùa” khi ông phát biểu “Th.S Vạn không cho là rùa tai đỏ tấn công cụ rùa vì rùa tai đỏ không hung dữ như ba ba. Hơn nữa, rùa tai đỏ có kích cỡ nhỏ, còn cụ rùa có kích cỡ lớn hơn và các sinh vật này ứng xử với nhau theo quy luật “cá lớn nuốt cá bé” chứ ít khi ngược lại.” Có lẽ vị thạc sĩ này khi đưa ra cụm ngữ “ cá lớn nuốt cá bé” đã không tính chất trong cụm ngữ này muốn đề cập tới. Tính chất cụm ngữ này muốn nói tới hình sức trực quan “ cá lớn ăn thịt cá bé” tức là đề cập đến những loài cá ăn thịt. Trong khi, rùa thì không ăn thịt, và ở đây cụ Rùa và rùa tai đỏ cạnh tranh nguồn thức ăn lẫn nhau, mà số lượng rùa tai đỏ nhiều hơn cụ Rùa nên cụ Rùa thiếu hụt nguồn thức ăn mới là đáng bàn. Việc rùa tai đỏ tấn công cụ Rùa, có lẽ khi dẫn câu “ cá lơn nuốt cá bé”, thạc sĩ lại quên câu chuyện “ Kiến thắng sư tử” hay “ Kiến thắng voi” hay quên cả việc chuyện “ cá lớn nuốt cá bé” không diễn ra ở một chiều mà việc cá bẻ rỉa vết thương của cá lớn cũng diễn ra ở tự nhiên. Phải chăng, bên trong sự ngụy biện dẫn điển tích này, là cả việc vị thạc sĩ quên mất ( hay không biết) về những câu chuyện vở lòng của tiểu học và những kiến thức cơ bản của tự nhiên. Nếu sự quên hay sự không biết này là sự thật thì cũng có thể thông cảm cho sự ngụy biện của một vị thạc sĩ, vì đơn giản ông ta không biết.

Hay ý kiến của một vị Chủ tịch Hội đồng Quản trị Tập đoàn Thương mại Hà Nội (KAT Group), ông Nguyễn Ngọc Khôi nói: “Nếu có bãi rùa sẽ lên nằm. Nhưng phương án làm bãi cát mà tôi đưa ra, đến ngày 22-2, vẫn chưa thấy TP Hà Nội có động thái gì. Nếu có bãi cát, cụ Rùa sẽ lên nằm phơi nắng, nấm sẽ chết và các vết thương sẽ khô lại”.  lại đầy sức phỏng đoán và thiếu căn cứ. Ông nói cứ như, cụ Rùa chỉ chờ có bãi cát là sẽ tự lên nằm cho lành vết thương. Có lẽ tư duy ngây ngô hay phi logic thế này, quả thực không chừa một ai từ thạc sĩ cho đến một chủ tịch hội đồng quản trị một tập đoàn. Nhưng có lẽ ông ta không biết mình ngây ngô nên mới ngây ngô phát biểu những câu ngây ngô thế này lên báo chí.

Vẫn còn nhiều và rất nhiều những minh chứng khác trong xã hội và đặc biệt đời sống hằng ngày của người Việt về lối tư duy ngụy biện như những kiểu mà tác giả đã trình bày. Vậy câu hỏi đặt ra là, nguyên nhân từ đâu đã hình thành về lối tư duy ngụy biện này, và tại sao nó được duy trì cho đến hiện nay. Câu hỏi này quả thật rất khó, và trong sự hữu hạn của mình, tác giả đúc kết thành những vấn đề sau

IV.            Nguyên nhân hình thành và tồn tại của lối tư duy ngụy biện:

1. Nguyên nhân hình thành của lối tư duy ngụy biện Việt: 

1.1                  Tư duy người Việt mang tính biện chứng cao nhưng méo móp:[1] 

Nước Việt có một nền văn minh lúa nước lâu đời, chính nền văn mình này đã khiến dân tộc sống chan hòa cùng thiên nhiên, nhận biết được tương quan biện chứng giữa tự nhiên và tự nhiên, con người và con người, con người và tự nhiên vì thế tư duy biện chứng là một trong đặc tính cơ bản của tư duy người Việt hay nói rộng hơn là Việt Triết.

Thế nhưng, việc tồn tại văn hóa làng xã, văn hóa mà “phép vua thua lệ làng”, văn hóa “ Ta về ta tắm ao ta/ Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn”, đã khiến màu sắc biện chứng trong tư duy Việt không tính biện chứng tiến bộ, phát triển mà lối biện chứng cục bộ tức là tuyệt đối hóa một vai trò nào đó không một nhóm vai trò tác động đến đối tượng. Thế nên, mới hình thành lối tư duy ngụy biện “ Qui nạp sai ( Khái quát hóa vội vã)”, về các tác nhân của hiện tượng xã hội. Ví dụ: “ Phú quí sinh lễ nghĩa, bần cùng sinh đạo tặc” hay “ Giàu nhờ bạn, sang nhờ vợ”. Những câu tục ngữ ấy mang tính khái quát cao và đại diện tuy nhiên vì tuyệt đối hóa một vai trò như “ phú quí”, như  “ bần cùng”, như “ bạn”, như “ vợ” mà vô tình chung tính chân lí bị giảm sút. Điều này khác hẳn với phương Tây, họ cũng so sánh và đúc kết nhưng họ biết đưa thêm những từ “ đôi khi” hay “ đa số”, hay “một phần” khiến cho lối nhìn của họ tuy không bay bổng và vần nhịp như người Việt nhưng khó mà bác bỏ được họ như ca dao tục ngữ Việt.

Chính vì thế, tác giả tạm gọi tư duy dạng này, là tư duy biện chứng méo móp.

1.2.    Nước Việt có một nền học thuật yếu:[2] 

Học thuật ở nước Việt có thể nói là tương đối yếu so với các nền văn hóa, văn minh khác, đặc biệt là phương Tây. Ngay cả những nước phương Đông như Trung Quốc, Ấn Độ thì nền học thuật của Việt Nam cũng yếu hơn rất nhiều. Điều này lí giải là do văn hóa làng xã đã khiến sự giao lưu tư tưởng, giao lưu học thuật không được phát triển.

Chính vì điều này, sự đối thoại trong triết học không được phát triển, sự đối thoại giữa những tư tưởng không được thúc đẩy nên ngụy biện không được nhận diện trong một thời gian dài cho đến khi nền văn minh phương Tây du nhập vào Việt Nam, thì sự ngụy biện dường như ăn sâu vào tư duy Việt với cái tên là “ khôn khéo và thông minh” như chuyện Trạng mà nhóm đã phân tích của ở phần trên.

Cũng chính nền học thuật yếu, đã khiến dân tộc Việt ảnh hưởng mạnh bởi lối tư duy Hán Học[3] nên việc diễn giải điển tích, hay viện giải uy tín cá nhân, hay lợi dụng sức mạnh cá nhân để tác động lên tính chân lý thành ra mới có quan niệm trong dân gian Việt là “ văn sử triết bất phân” cũng vì điểm này.

Cũng do nên học thuật yếu mà ngôn ngữ Việt có thời gian dài sử dụng Hán ngữ làm quốc ngữ, sau đấy lại chỉnh thành chữ Nôm và cuối cùng trở thành Quốc ngữ với hình thức Latin ngữ. Điều này dẫn đến sự phức tạp trong ngôn ngữ Việt. Càng là điểm sơ hở để các nhà ngụy biện “ khua môi múa mép” trên cơ sở chơi chữ, và tận dụng đồng âm cũng như tính đa nghĩa của từ. Điều này tương cộng một lần nữa với yếu tố học thuật yếu càng làm suy luận trở nên rối rắm và khó phân tích.

Cũng do nền học thuật yếu nên khi tiếp nhận văn minh phương Tây, chúng ta bị ảnh hưởng và vô tình tạo nên lối tự ti trong suy luận. Chúng ta vẫn thường suy nghĩ một cách dễ dãi như: “ Phương Tây phát triển, Việt Nam lạc hậu”. Một sự thật rằng, không thể chối bỏ điều đấy, nhưng mỗi quốc gia, mỗi dân tộc có nền văn hóa, nền văn minh riêng, có bản sắc riêng, việc quá tả hay quá hữu trong nhìn nhận sự việc sẽ dẫn đến lệch lạc và tinh thần cực đoan. Điều này dẫn đến hàng loại lối ngụy biện dựa vào phương Tây để phê phán hay xây dựng Việt Nam cho tiến bộ, văn mình nhưng thực chất mang nặng yếu tố “ Tây Hóa” trong việc xây dựng này.

1.3.    Người  Việt với tính cách trung dung, dĩ hòa vi quí nên lí tính mang nặng màu sắc cảm tính: 

Điều này xuất phát từ nền văn minh lúa nước và văn hóa làng xã, khiến tính duy cảm trong tư duy Việt được cơ hội phát triển theo dạng “ khi thương trái ấu cũng tròn, khi ghét trái bồ hòn cũng méo”, nên những vấn đề như “ sự đồng thuận của đám đông”, “ lợi dụng uy tín cá nhân”, “ lợi dụng quyền lực”, có cơ hội hình thành và phát triển. Điều này cũng được phê phán trong ca dao – tục ngữ Việt như: “ Một miệng làng bằng ba miệng trống” hay “ Trăm năm bia đá cũng mòn/ Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ”. Những điều đấy, làm tính ngụy biện có đất sống và phát triển. Vì tính chân lý của sự vật không được đem ra phê phán và đấu tranh tới cùng.

Cả ba yếu tố nêu trên cùng tác động, cùng ảnh hưởng đến nhau để tạo nên lối tư duy dễ dãi, và thiếu tính logic của người Việt. Thế nhưng, đến thế kỷ 21, sự ngụy biện này dường như vẫn còn tồn tại, không chỉ Việt Nam, mà còn ở thế giới.

Điều này sẽ lí giải ra sao, như thế nào?

2. Nguyên nhân tồn tại của ngụy biện:

Xuất phát từ tiền đề, không gì có thể tồn tại nếu nó không phục vụ lợi ích con người sẽ cho chúng ta cái nhìn rộng mở để lí giải câu hỏi trên.

Ngụy biện, xét về mục đích, chẳng qua cũng là một phương tiện để đạt được mục đích của con người. Nếu đi bằng logic thông thường, sẽ khiến người nghe – vốn hữu hạn về nhận thức – khó tiếp thu và đồng ý. Trong tình huống này, ngụy biện đóng vai trò là con đường ngắn nhất để đạt được mục đích đó. Xét về tính mục đích, nó là biện pháp tối ưu, vừa ít tốn công, vừa đỡ tốn sức.

Thế nhưng, khi lí giải và hành động như thế những người sử dụng đã quên một tiền đề khác là con người chỉ làm khi họ có nhu cầu hay nói cách khác, họ muốn làm hành động đấy. Việc thuyết phục có thể hiểu góc độ nhỏ là sự ép buộc, cưỡng bức vô hình với người bị thuyết phục. Nhóm đồng ý một quan điểm cho rằng: “ Mục đích không biện minh cho phương tiện”, tức là để thuyết phục một ai đó làm một việc gì đó, hay dùng logic chân chính để lý giải cho họ hiểu vì sao họ cần làm thế thay vì dùng lí lẽ ngụy biện để đánh mù lí trí của họ và bắt họ làm theo.

Mặt khác, ngụy biện được hình thành dựa trên nền học thuật yếu – mà hệ quả trực tiếp – là sự logic trong lí luận không vững vàng, vì thế đến thời điểm hiện nay, khi mà tính logic trong lí luận người Việt cũng chưa thực mạnh thì ngụy biện cũng còn tồn tại là lẽ tất nhiên.

Thứ ba, ngụy biện đã ăn sâu vào tâm thức người Việt, dường như nó là nét văn hóa, đặc biệt nhóm ngụy biện dựa vào sự duy cảm, vì thế việc xóa bỏ nó không phải là một sớm một chiều mà phải đấu tranh liên tục từ thế hệ này sang thế hệ khác.

Nguyễn Chiến Trường


 

 

 

 

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s