Sài Gòn 30.04.1975

alt 

John Pilger là phóng viên chiến tranh kỳ cựu, nhà làm phim và biên kịch người Anh. Ông đã hai lần đoạt “Nhà báo của năm” – giải báo chí cao nhất nước Anh – vì những hoạt động ở Việt Nam và Campuchia. Ngoài ra, Pilger còn nhận giải “Phóng viên quốc tế của năm” và “Giải Liên minh báo chí Liên Hợp Quốc”. Dưới đây, ông mô tả những gì được chứng kiến trong những ngày cuối cùng của chính quyền Sài Gòn năm 1975.(Nguyễn Hạnh dịch)

Sài Gòn, tháng 4/1975.

Mỗi bình minh, tôi thức dậy trNhà báo John Pilger.ên tấm nệm trên sàn nhà lát gạch, nhìn chăm chú vào chiếc giường đặt cạnh cửa sổ. Nó ở đó để bảo vệ tôi khỏi bị kính va, nhưng nếu khách sạn bị tấn công bằng rocket, thì nó sẽ đè xuống người tôi. Chết do giường sập: cũng đáng chú ý đây!

Bây giờ là 8 giờ; tôi đi dọc Công trường Lam Sơn để mua ít cà phê. Sài Gòn bị nã rocket đã hai đêm nay. Một quả rocket xén một vạt rộng ở khu nhà san sát của người Hoa ở Chợ Lớn. Người ta đứng đó bất động nhìn đống tôn múi là những gì còn sót lại từ ngôi nhà của mình. Hầu như không có phóng viên; những quả rocket hôm qua là tin sốt dẻo, đó là quả rocket đầu tiên rơi xuống Sài Gòn 10 năm nay; nhưng đợt tấn công rocket hôm nay thì không còn được quan tâm nhiều như thế nữa.

Chỉ có một phóng viên ảnh người Pháp mò mẫm trong đống sắt vẫn còn ngọn lửa cháy âm ỉ. Anh kéo tay tôi và đưa tôi đến một nơi trước kia là khu bếp. Ở đó một em gái nhỏ khoảng 5 tuổi, hai má bầu bĩnh. Em bị bỏng. Chúng tôi cố gắng cho em chút nước trong khi chờ băngca đến.

Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà Graham Martin.
Đại sứ Mỹ tại Việt Nam Cộng hoà Graham Martin.

Đại sứ Mỹ Graham Martin xuất hiện trên truyền hình Sài Gòn, cam kết Washington sẽ không rời Việt Nam. “Tôi, Đại sứ Mỹ, sẽ không chạy trốn lúc nửa đêm. Bất kỳ ai cũng có thể tới nhà tôi và chứng kiến tôi chưa thu dọn hành lý”, Martin nói. Đại sứ Mỹ là một người kiên quyết và nóng nảy. Ông ta không khoẻ lắm, má hóp và nước da sạm vì bị viêm phổi nhiều tháng nay. Bài phát biểu đôi khi phải ngừng lại do ảnh hưởng của những viên thuốc mà nhà ngoại giao phải uống. Ông hút thuốc lá liên tục, và những cuộc nói chuyện của đại sứ thường bị gián đoạn bởi những tràng ho dài.

Nhiều tuần nay, Martin khẳng định với Washington rằng Nam Việt Nam có thể tồn tại với “vành đai thép” bao quanh Sài Gòn và những máy bay B-52 hiện đại. Tuy nhiên, đại sứ không thể hoàn hoàn phớt lờ những gì ông chứng kiến..

Trong sứ quán Mỹ, một trong những cây me do người Pháp trồng từ cách đó một thế kỷ ngả bóng trên hành lang, trong khu vườn bên ngoài phòng họp chính. Khoảng không duy nhất còn lại đủ lớn cho một trực thăng hạ cánh là bể bơi ở giữa, và sân bay dành cho máy bay lên thẳng trên mái nhà đại sứ quán được thiết kế dành cho trực thăng nhỏ Huey mà thôi. Nếu “Option Four” (Di tản bằng trực thăng) được tiến hành, thì chỉ có trực thăng Chinook và Jolly Green Giant của lính thủy đánh bộ là có thể chuyển số lượng người lớn sang Hạm đội Bảy, ở ngoài khơi khoảng 50 km, trong một ngày. Cây me là thắc mắc cuối cùng của Graham Martin. Ông đã nói với nhân viên rằng khi cây này đổ, uy tín của Mỹ cũng đổ theo và ông không còn gì nữa.

Click vào ảnh
Quang cảnh hỗn loạn bên ngoài sứ quán Mỹ tại Sài Gòn cuối tháng 4/1975.

Ngày 28/4, Mặt trận Giải phóng miền Nam đã kéo cờ trên cây cầu cách trung tâm thành phố 5 km. Ảnh hưởng của đợt gió mùa sớm khiến Sài Gòn nằm dưới đám mây nặng như chì. Tổng thống Việt Nam Cộng hoà Dương Văn Minh kêu gọi ngừng bắn và đàm phán. Khi ông ta kết thúc bài phát biểu, tiếng sấm vang lên. Chiến tranh sắp kết thúc.

Tôi đi nhanh trên đường Tự Do (nay là đường Đồng Khởi) trong ánh chớp. Hơn chục cửa hiệu đã đóng cửa từ hôm trước, các chủ hiệu đã tới sân bay Tân Sơn Nhất, trả một khoản tiền hậu hĩ để được xếp hàng chờ di tản. Ông thợ may ở số 24 đường Tự Do, trong cửa hiệu Austin”s Fine Clothes, đang đếm tiền và chửi đổng vì radio không bắt được BBC World Service. Tôi đã biết người thợ may này lâu nay và mối quan hệ cũng tốt đẹp. Ông có ít nhất 5.000 USD trong ngăn kéo và hộ chiếu Ấn Độ thò ra khỏi túi áo sơmi. “Cộng sản tôn trọng hộ chiếu”, người thợ may nói trong tiếng sấm, nhưng tiếng sấm lần này có vẻ khác.

Trong nửa giờ tiếp theo, tôi và người thợ may đứng yên tại chỗ, không dám ra ngoài. Đài VOA chơi bài hát “Cherry Pink and Apple Blossom White”. Tôi và thợ may cùng hát theo, và có lẽ tôi sẽ không bao giờ quên được lời bài hát. Khi những âm thanh rền vang chấm dứt, người thợ may thu hết tiền bạc trong ngăn kéo vào nói “OK, chạy được rồi đấy!”.

Có vẻ như cả Sài Gòn đang chạy trốn nỗi sợ hãi trong sự yên lặng. Viên quân cảnh đứng ở góc phố cố gắng ngăn cản mọi người. Một gái bar từ khách sạn Miramar vấp phải rãnh nước, rồi lại chạy tiếp. Đối diện khách sạn Caravelle, một viên cảnh sát bắn chỉ thiên bằng khẩu M-16. Bên cạnh anh ta là một người đàn ông nằm trên đường, xe đạp đổ trên người.

Sài Gòn đang sụp đổ trước mắt bạn: một Sài Gòn được người Mỹ hậu thuẫn, một thành phố tuyên bố là kinh đô của giới tiêu dùng thế giới mà chẳng cần sản xuất cái gì. Trong hàng ngũ của quân đội lớn thứ tư thế giới vào thời điểm đó (Quân đội Việt Nam Cộng hoà), binh lính đang đào ngũ với tốc độ 1.000 người/ngày.

1 giờ sáng, đại sứ Graham Martin tổ chức cuộc họp với các quan chức cao cấp trong sứ quán để thông báo ông đã nói chuyện với Henry Kissinger. Ngoại trưởng Mỹ cho biết đại sứ Liên Xô tại Washington Anatoly Dobrynin hứa sẽ chuyển thông điệp muốn đàm phán của chính phủ Dương Văn Minh tới Hà Nội.

Kissinger hy vọng người Nga có thể sắp xếp chuyện này. Đại sứ nói Ngoại trưởng muốn việc di tản bằng máy bay phải được tiếp diễn càng lâu càng tốt, có lẽ là trong 24 giờ.

Hơn 4 giờ sáng, nhiều quả rocket rơi xuống sân bay Tân Sơn Nhất, tiếp đó là một cuộc bắn yểm hộ của pháo hạng nặng. Thời gian chờ đợi đã kết thúc, cuộc chiến giành Sài Gòn bắt đầu. Bầu trời bình minh như tấm nền cho đạn lửa. Một máy bay trực thăng phát nổ và rơi xuống ở tầm thấp, lửa vẫn cháy. Ở phía đông, tại khu vực ngoại vi, tiếng súng cối vang lên. Điều đó có nghĩa quân đội của Mặt trận Giải phóng miền Nam đã có mặt tại Sài Gòn và đang hướng về phía sứ quán Mỹ.

Di tản treê nóc sứ quán Mỹ tại Sài Gòn ngày 29/4/1975.
Di tản trên nóc sứ quán Mỹ tại Sài Gòn ngày 29/4/1975.

6 giờ sáng, cuộc họp giữa Martin với các quan chức đầy sự bất đồng. Tất cả mọi người, trừ đại sứ, nhất trí phải tiến hành di tản ngay lập tức. Martin thì không cho là như vậy, ông tuyên bố sẽ không “chạy trốn” và sẽ tự lái xe tới sân bay Tân Sơn Nhất để đánh giá tình hình. Không một ai trong sứ quán nghi ngờ chuyện mất Sài Gòn. Khi cuộc họp kết thúc, phụ trách CIA tại Nam Việt Nam Tom Polgar ra lệnh chặt cây me.

Các máy đốn cây được tập hợp lại. Một nhóm khá đông các sĩ quan CIA, cựu thành viên Đặc nhiệm (Mũ nồi Xanh) và cựu lính Mỹ đến từ California để bảo vệ sứ quán cũng có mặt. Họ mang theo súng máy, súng trường và dao. Họ còn có rìu và cưa điện. Các thư ký trong sứ quán mang bia và sandwich ra. Họ sắp đốn cây me của đại sứ mà không được đại sứ cho phép.

Trong lúc đó, một loạt ôtô và xe tải đi vào khu chợ bên ngoài Thảo cầm viên, nhanh chóng đưa hàng xuống: thịt bò đông lạnh, thịt lợn, nước cam, những bình hoa quả dầm và rượu anh đào lớn, bơ, bánh Sara Lee, bia Budweiser, 7-Up, kẹo cao su Wrigley, xì gà với đầu bịt bằng nhựa Have-A-Tampa… Số hàng này được đưa ra từ khu quân nhu Sài Gòn, địa điểm đã bị lính Việt Nam Cộng hoà bỏ lại. Một máy làm nước lạnh nhanh chóng được bán và chở đi trên xe xích lô. Một máy rửa bát mang nhãn hiệu Blue Swan, trên hộp vẫn còn khẩu hiệu của hãng “Chỉ có hàng hoá tốt nhất là dành cho khách hàng”. Chiếc máy được người ta lấy ra khỏi hộp và đặt trên đường. Hai giờ sau, nó vẫn ở đó, không ai mua và người ta chỉ lấy đi những bộ phận quan trọng.

Thiết quân luật 24/24 giờ được áp dụng ở Sài Gòn, nhưng vẫn có người trên phố. Một số trong đó là binh lính Sư đoàn số 18 Quân đội Việt Nam Cộng hoà. Tôi nghĩ họ sẽ tức giận khi thấy người Mỹ sắp ra đi. Sáng đó, khi họ xuất hiện ở trung tâm thành phố, họ chỉ nhìn những người nước ngoài hoặc đe doạ hoặc bắn chỉ thiên để giải toả nỗi tức giận.

Tôi trở lại khách sạn Caravelle, nơi tôi sẽ gặp phóng viên Sandy Gall của ITN. Chúng tôi là “người có trách nhiệm di tản” thuộc diện TCN Press, tức là Công dân nước thứ ba (không phải người Mỹ hay người Việt Nam). Vài ngày nay, tôi và Sandy đã gánh trách nhiệm cố gắng tổ chức cho các đại diện của báo chí Anh, Canada, Italy, Đức, Tây Ban Nha, Argentina, Brazil, Hà Lan và Nhật Bản – những người muốn ra đi. Sứ quán Mỹ đã phát hành cuốn sách dày 15 trang có tên SAFE – viết tắt của “Chỉ dẫn và Tư vấn tiêu chuẩn cho thường dân trong trường hợp khẩn cấp”, trong đó có bản đồ Sài Gòn, đánh dấu những khu vực nơi trực thăng sẽ đưa người đi. Một trang đính kèm viết: Chú ý biển báo di tản. Không tiết lộ cho người khác. Khi được lệnh di tản, mã sẽ được đọc trên Đài phát thanh Quân đội Mỹ. Mã là: NHIỆT ĐỘ Ở SÀI GÒN LÀ 112 ĐỘ VÀ ĐANG TĂNG LÊN. TIẾP SAU ĐÂY LÀ GIAI ĐIỆU BÀI “I”M DREAMING OF A WHITE CHRISTMAS”. Các phóng viên Nhật lo ngại họ sẽ không nhận ra giai điệu đó và băn khoăn liệu ai có thể hát bài hát đó cho họ không.

Tại Caravelle, tôi và Gall đề nghị một số người phụ trách công tác di tản ở tầng trệt. Họ đảm bảo rằng các phóng viên ốm yếu, nghễnh ngãng, buồn ngủ, bị kẹt trong nhà tắm… sẽ không bị bỏ lại. Có một chút ít tư lợi ở sự sắp xếp này. Tôi có cảm giác sẽ không bị bỏ lại.

Hai máy bay C-130 Hercules từ căn cứ không quân Clark tại Philippines đang bay phía trên sân bay Tân Sơn Nhất. Họ được lệnh không hạ cánh. Trinh thám báo tin về sân bay: 2 trung đội bộ binh Quân đội Nhân dân Việt Nam đã được tăng viện cho công binh.

Một phi công Việt Nam Cộng hoà đã hạ cánh máy bay chiến đấu F-5 trên đường băng và bỏ lại phương tiện trong khi máy vẫn chạy. Một chiếc xe jeep toàn lính Việt Nam Cộng hoà cố chạy tới một chiếc máy bay trước khi nó cất cánh.

“Có khoảng 3.000 thường dân rất lo lắng đang ở đường băng”, tướng Homar Smith báo cáo. “Tình hình có vẻ như đã vượt ra khỏi tầm kiểm soát”.

Click vào ảnh
Trực thăng đưa người khỏi Sài Gòn.

Graham Martin ngồi một mình trong phòng làm việc, nhìn thấy cây đổ và nghe thấy tiếng trưởng văn phòng CIA thét ở ngoài sân. Khi Kissinger gọi điện thoại ngay sau đó để thông báo ý của Tổng thống Ford là đại sứ Mỹ sẽ ra quyết định cuối cùng về chuyện di tản, ông lắng nghe giọng mệt mỏi, kiệt sức và ốm yếu của Graham Martin một cách kiên nhẫn.

10h43″: Lệnh tiến hành “Option Four” (di tản bằng đường biển và đường không) được đưa ra. Tuy nhiên, Martin vẫn tin chắc rằng vẫn “còn thời gian” để đàm phán và có một “giải pháp danh dự”.

Khách sạn Caravelle trống trải. Không ai nói gì với tôi hết. Bing Crosby không hát trên đài phát thanh. Những căn phòng lộn xộn những quần áo, giấy tờ, bàn chải đánh răng. Tôi chạy về phòng, thu thập máy đánh chữ, radio và những mẩu giấy ghi chú, tống tất cả vào một chiếc túi nhỏ. Số vật dụng khác thì tôi bỏ lại. Hai nhân viên phục vụ phòng tới và nhìn tôi vội vã thu dọn. Họ sửng sốt và hơi sợ một chút. Một người hỏi: “Ông sắp đi à?”. Tôi trả lời là đúng vậy. Anh ta cho biết: “Nhưng đồ giặt khô của ông sẽ không được trả trước tối nay”. Tôi cố gắng không nhìn anh ta. “Anh hãy giữ lại, bất kỳ thứ gì mà anh thấy”. Tôi cho họ vài đồng bạc, tôi hiểu rằng mình đang mua sự chiều khách trong lúc phải ra đi. Sau 9 năm, cách ra đi này mới khổ sở làm sao.

Bên ngoài, Công trường Lam Sơn trống trải, chỉ có vài binh lính Việt Nam Cộng hoà đi lại chán nản. Một người trong số này đi nhanh lên đại lộ Tự Do, thét vào mặt tôi. Anh ta say xỉn. Anh ta lấy súng lục, ngắm bắn, chọn mục tiêu và bóp cò. Viên đạn sượt qua đầu tôi trong khi tôi chạy.

Chen lấn
Người dân xô đẩy, cố gắng vượt qua bức tường để vào trong sứ quán Mỹ.

Một đám đông chen lấn ở trước cửa sứ quán Mỹ. Một số người có mặt ở đây chỉ vì tò mò; một số khác ôm chặt cánh cổng sắt, vừa nài xin viên lính thuỷ đánh bộ cho vào, vừa giơ ra những văn bản được niêm phong và những lá thư từ các quan chức Mỹ. Một ông già có lá thư của một trung uý mà cách đó một thời gian dài đã quản lý quán bar tại câu lạc bộ sĩ quan Không lực tại Pleiku. Người đàn ông đó rửa bát ở câu lạc bộ, và lá thư đề ngày 5/6/1967 ghi: “Ông Nhạ, người đem bức thư này, đã trung thành phục vụ sự nghiệp tự do của Việt Nam Cộng hoà”. Ông Nhạ cũng đưa ra một món đồ chơi là ngôi sao Texas Ranger mà một trong các phi công ở Texas đã tặng. Ông ta giơ lá thư và ngôi sao, nói với viên lính thủy đánh bộ đang thét lên với đám đông là “Đừng lo lắng!”. Những người làm việc cho Mỹ từng được khuyên là nên sợ Cộng sản, bây giờ thì lại được bảo là không nên lo.

Người đàn ông già tìm cách lách qua khe cửa nhưng bị viên lính đẩy ngã xuống đất. Ông ta đứng dậy, cố một lần nữa và bị viên lính thứ hai đẩy ra ngoài bằng súng trường, ném mạnh ngôi sao Texas Ranger vào đám đông. Tôi cảm thấy hổ thẹn khi cố gắng vượt qua đám đông, dùng sức đẩy những người khác ra.

Bên trong sứ quán, những viên lính thuỷ đánh bộ đứng quanh gốc cây me vừa bị đốn. “Chúng ta sẽ làm gì với cái đồ của nợ bất động to đùng này nhỉ?”, một sĩ quan nói vào bộ đàm. “Thoải mái đi, Jed”, giọng từ đầu bộ đàm bên kia trả lời. “Hãy cưa bớt đi ít nhất là 30 cm nữa, để có thêm chỗ cho cánh quạt. Và Jed, nhớ là dọn sạch chỗ vỏ bào vì nếu không thì động cơ sẽ hút vào và gặp trục trặc”. Các binh lính dùng cưa cưa bớt gốc cây me. Họ tức điên vì việc đốn cây trở thành trò cười với những người cả ở trong và ngoài sứ quán, với những binh lính gác cổng sứ quán Pháp ở bên cạnh.

Tục ngữ Việt Nam có câu “Cháy nhà mới ra mặt chuột”. Phan Quang Đán, cựu phó thủ tướng kiêm bộ trưởng phụ trách an sinh xã hội và giải pháp tị nạn, đi cùng vợ vào sứ quán. Đi cùng họ là những người thân – số lượng tương đương một trung đội.

Trong số những người sắp di tản còn có các thanh niên ở độ tuổi đi quân dịch nhưng cha mẹ giàu có đã hối lộ những khoản tiền lớn để họ không vào quân đội. Dù vẫn có tên trong danh sách của một đơn vị nào đó, nhưng họ chưa bao giờ ra chiến trường. Họ có cuộc sống phong lưu ở Sài Gòn: đi uống cà phê, cưỡi xe Honda, đi bể bơi trong khi con trai nhà nghèo phải tham gia quân đội Việt Nam Cộng hoà, bỏ mạng ở Quảng Trị, An Lộc…

“Nhìn này, tôi đây… Cho tôi vào đi, cảm ơn rất nhiều… xin chào, tôi đây”. Giọng nói chói tai vang lên từ cuối đám đông bên ngoài cánh cổng là của trung tướng Đặng Văn Quang. Viên lính thuỷ đánh bộ có danh sách những người được vào, và tướng Quang ở trong số đó. Hết sức cẩn thận, viên gác cổng giúp ông này (thuộc diện béo mập) vào. Viên tướng thở ra một hơi khi vào đến nơi. Cậu con trai 20 tuổi của ông ta đang vùng vẫy vô vọng trong đám đông. Hai túi đầy chặt đôla ở túi ngực áo của tướng Quang khiến chiếc áo chùng xuống.

Tâm trạng những người Mỹ trong sứ quán như trong ngày hội. Họ ngồi trên bãi cỏ quanh bể bơi với chai champagne đặt trong các bình đá được lấy từ khu nhà hàng của sứ quán. Họ vỗ tay hoan hô. Một người đội mũ kiểu cao bồi miền tây mở chai champagne cho bọt tràn vào người khác.

Hai thợ cơ khí trên máy bay, Frank và Elmer, hát bài “The Camp Town Races”:

We”re goin” home in freedom birds,
Doo dah, doo dah;
We ain”t goin” home in plastic bags,
Oh doo dah day.

“Đây là nơi tôi phải đến sau 10 năm”, Warren Parker nói gần như khóc. “Nhìn người đàn ông ở đằng kia kìa. Ông ta là một quan chức Cảnh sát Quốc gia… không hơn gì một người đi tra tấn”. Cho tới sáng hôm đó, Warren Parker là lãnh sự Mỹ tại Mỹ Tho. Nhà ngoại giao này ít nói, đã dành 10 năm qua ở Việt Nam để làm tâm lý chiến và suy nghĩ tại sao quá nhiều người không nghe tư vấn của ông.

Tôi và ông tới chỗ nhà hàng bên cạnh bể bơi, đi qua một người đàn ông nói: “Không có người Việt Nam ở đây, không người Việt Nam”. Chúng tôi lấy một chai rượu vang Taylor New York đã được làm lạnh. Không còn ly, nên chúng tôi tu cả chai. “Tôi sẽ kể cho ông vài chuyện”, Parker nói với tôi bằng giọng bang Georgia. “Nếu có khoảnh khắc sự thật thì với tôi đó là hôm nay. Những năm qua tôi ở đây, làm việc cho đất nước tôi và đất nước này. Và hôm nay tất cả những gì tôi thấy là chúng ta đã chia rẽ người tốt khỏi người xấu… và chúng ta thu được người xấu”.

3h15″ chiều 29/4

Sai Gon ngay 30 4 1975 trong mat mot phong vien Anh 4
Chen lấn xô đẩy để lên máy bay.

Graham Martin sải bước, qua phòng chờ tới khu nhà bên trong. Những chiếc trực thăng lớn sắp đến và gốc cây me không thể thấp hơn được nữa dù mấy người lính thuỷ đánh bộ đã tìm hết cách cưa, chặt. Chiếc Cadillac của đại sứ Mỹ tại Sài Gòn đang chờ ông và, trong khi các nhân viên sứ quán choáng váng, chiếc Cadillac đi về phía cánh cổng, nơi đang được bảo vệ nghiêm ngặt. Viên lính thuỷ đánh bộ đứng ở cổng không thể tin nổi vào mắt mình. Chiếc Cadillac dừng lại, đại sứ bước xuống, đi qua gốc cây và các binh sĩ. “Tôi sẽ đi bộ một lần nữa tới nhà mình”, Martin tuyên bố. “Tôi sẽ đi bộ thoải mái trong thành phố này. Tôi sẽ rời Việt Nam khi Tổng thống bảo tôi làm vậy”. Ông này rời sứ quán bằng cổng phụ, vượt qua đám đông và đi bộ một đoạn tới nhà. Một tiếng rưỡi sau, Martin quay lại cùng chú chó xù Nitnoy và một người giúp việc Việt Nam.

Khi chiếc trực thăng Chinook đầu tiên hạ cánh, các cánh quạt va phải một ngọn cây, và tiếng các cành cây khô rơi xuống giống như tiếng súng nhỏ. “Xuống ngay! Xuống ngay!”, một hạ sĩ thét lên, hướng về dòng người đang cố gắng trèo tường, chờ đến lượt được di tản, cho tới khi một sĩ quan bước tới và trấn an anh ta.

Trực thăng có thể đưa 50 người, nhưng cuối cùng cất cánh với 70 người. Phi công thể hiện khả năng tuyệt vời khi bay thẳng lên độ cao 61 mét, nhiều tài liệu của sứ quán được huỷ đi. Tuy nhiên, không phải toàn bộ văn bản bị huỷ, một số vẫn được để lại trong túi nilon. Tôi có một trong những tài liệu đó. Nó đề ngày 25/5/1969 và ghi: “Tuyệt mật… biên bản ghi nhớ từ John Paul Vann, chống nổi loạn… 900 ngôi nhà ở Châu Đốc bị không lực Mỹ phá huỷ mà không có dấu hiệu cho thấy một đối phương nào bị giết… vụ phá huỷ ngôi làng này của hoả lực Mỹ là sự kiện sẽ luôn được ghi nhớ và không bao giờ được những người sống sót tha thứ…”.

Tiền rơi như mưa từ trên nóc sứ quán: những đồng 20 USD, 50 USD và 100 USD. Hầu hết bị cháy xém. Những người Việt chờ dưới mặt đất không thể tin nổi vào mắt mình; các cựu bộ trưởng, tướng lĩnh và những người tra tấn tranh cướp nhau để kiếm khoản tiền ở trên trời. Một quan chức sứ quán cho biết hơn 5 triệu USD đang bị đốt. “Tất cả các két trong sứ quán đã trống rỗng nhưng được khoá cẩn thận”, ông này nói, “để đánh lừa những tên trộm”.

Vẫn còn ít nhất 1.000 người trong sứ quán, chờ được di tản, trong khi hầu hết các nhân vật nổi tiếng như tướng Quang đã có mặt trên những trực thăng đầu tiên. Số còn lại chờ đợi một cách bị động, trông họ như thể bị choáng. Bên trong sứ quán, champagne sủi bọt tràn trên bàn trong khi một số nhân viên cố gắng huỷ hoại chính văn phòng mình: đập máy làm lạnh nước, đổ rượu ra thảm, quẳng tranh từ trên tường xuống. Trong một văn phòng ở tầng 3, ảnh cố tổng thống Johnson được cho vào thùng giấy loại. Chỉ còn câu trích của Lawrence trên tường: “Thà để họ làm dở dang còn hơn là tự bạn làm một cách hoàn hảo, vì đây là đất nước của họ, cuộc chiến của họ, và thời gian của bạn thì ngắn ngủi”. (Lawrence tên đầy đủ là Thomas Edward Lawrence, 1988-1935, nổi tiếng từ sau Thế chiến I vì đóng vai trò nổi bật trong thời gian làm sĩ quan liên lạc của Anh trong cuộc nổi dậy người Ảrập năm 1916-1918).

Đã gần nửa đêm. Sứ quán được thắp sáng bằng đèn pha ôtô, và mỗi trực thăng hiệu Jolly Green Giant giờ đưa đi 90 người. Phụ trách an ninh Martin Garrett tập trung tất cả những người Mỹ còn lại. Những người Việt Nam đang chờ ra đi cảm thấy điều gì đó sắp xảy ra. Một đại tá lính thủy đánh bộ xuất hiện, một lần nữa đảm bảo rằng đại sứ Martin đã khẳng định ông sẽ là người cuối cùng rời đi. Tất nhiên, đó là lời nói dối.

2h30″ sáng 30/4, Kissinger gọi điện cho Martin và yêu cầu ông kết thúc kế hoạch di tản lúc 3h45″ sáng. Nửa tiếng sau, Martin xuất hiện cùng một cặp da, một túi xách và các tài liệu. Ông im lặng đi lên tầng 6, nơi một chiếc trực thăng đang đợi.

Trực thăng tại
Trực thăng tại số nhà 22, đường Gia Long (nay là đường Lý Tự Trọng).

“Lady Ace 09 đang ở trong không trung cùng Code Two”. “Code Two” là mật mã ám chỉ đại sứ Mỹ. Tuyên bố này có nghĩa cuộc xâm lược Đông Dương của Mỹ đã kết thúc. Khi trực thăng ra đến ngoại vi thành phố, đại sứ nhìn thấy đèn pha xe tải của Quân đội Nhân dân Việt Nam.

Những viên lính thủy đánh bộ cuối cùng lên đến mái nhà và bắn hơi cay xuống thang bộ. Họ nghe thấy tiếng kính vỡ và tiếng cạy mở những két sắt trống rỗng của các cựu đồng minh. Những viên lính thủy đánh bộ đã kiệt sức và bắt đầu lo lắng; chiếc trực thăng cuối cùng chưa tới trong khi đã sắp bình minh.

Ba giờ sau, khi mặt trời ló rạng, những chiếc xe tăng cắm cờ Mặt trận Giải phóng miền Nam tiến vào trung tâm thành phố. Các binh sĩ trên xe tăng không bắn phát nào. Một người nhảy xuống, trải bản đồ trên xe tăng và hỏi những người đứng gần đó: “Hãy chỉ cho chúng tôi đường đến dinh tổng thống. Chúng tôi không biết Sài Gòn, chúng tôi không ở đây lâu rồi”. Các xe tăng qua Công trường Lam Sơn, dọc theo Đại lộ Tự Do, qua Nhà thờ Đức Bà và qua những cánh cổng đẹp đẽ của dinh tổng thống, nơi Minh “Lớn” (Dương Văn Minh) cùng nội các đang chờ để đầu hàng. Ngoài phố, binh lính Việt Nam Cộng hoà vứt bỏ quân phục. Họ đã hoà vào cùng đám đông. Không có “biển máu”. Kẻ xâm lược bị đẩy lùi, Việt Nam lại là một đất nước thống nhất. Cuộc chiến dài nhất thế kỷ 20 đã kết thúc.

Nguyễn Hạnh dịch

—————————–

SỐ PHẬN CỦA 10 NHÂN VẬT QUYỀN LỰC NHẤT SÀI GÒN SAU NĂM 1975

Số phận của họ đi theo những ngả đường khác nhau, người ở lại đất nước và được trọng dụng, người ra đi và sống lặng lẽ nơi xứ người…

Nguyễn Văn Thiệu (1923-2001) là Tổng thống chế độ Sài Gòn từ 1967-1975. Đêm 25/4/1975, ông rời VN đi Đài Loan dưới danh nghĩa phúng điếu Tưởng Giới Thạch, rồi bay thẳng sang Anh định cư. Đầu thập kỷ 1990, ông Thiệu chuyển sang sống tại Foxborough, Massachusetts, Mỹ và sống một cuộc sống thầm lặng trong quãng đời còn lại ở đây. Ông qua đời ngày 29/9/2001, sau khi đột quỵ tại nhà riêng ở Foxborough, thọ 78 tuổi.

Dương Văn Minh (1916-2001) là Tổng thống cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau năm 1975, ông sống tại TP Hồ Chí Minh, cho đến năm 1983 thì sang Pháp định cư. Nhưng ngay sau đó, ông lại chuyển sang California (Mỹ), sống với gia đình con gái. Ông qua đời ngày 6/8/2001, thọ 86 tuổi. Thời gian cuối đời, Ông Dương Văn Minh đã bày tỏ mong muốn được trở về quê hương và sống như một người dân Việt Nam bình thường.

Trần Văn Hương (1902-1982) là cựu Thủ tướng (1964–1965; 1968–1969), phó tổng thống (1971-1975), rồi Tổng thống trong thời gian 7 ngày (21-28/4/1975) của chế độ Sài Gòn.  Sau 1975, ông chọn ở lại quê hương, tiếp tục sống ở căn nhà của mình ở Sài Gòn. Những năm tháng cuối đời, ông sống chung với em gái, em rể, và người con trai lớn là Lưu Vĩnh Châu – từng là một đại úy Quân đội Nhân dân Việt Nam, đã tham gia trận Điện Biên Phủ. Ông mất ngày 27/1/1982, hưởng thọ 80 tuổi.

Nguyễn Cao Kỳ (1930-2011) là một sĩ quan cao cấp và là cựu Thủ tướng và Phó Tổng thống của chế độ Sài Gòn. Năm 2004, ông đã về thăm quê hương trong tinh thần hòa giải dân tộc. Ông mất ngày 23/6 tại một bệnh viện ở Malaysia, thọ 81 tuổi.

Nguyễn Xuân Oánh (1921–2003), là cựu Phó Thủ tướng kiêm Thống đốc Ngân hàng, 2 lần là quyền Thủ tướng trong chính phủ Sài Gòn. Sau 1975, ông tiếp tục được chính quyền mới trọng dụng. Trong tiến trình Đổi mới cuối thập niên 1980, ông đã có đóng góp lớn vào việc cải cách các lĩnh vực ngân hàng, tài chính, đầu tư nước ngoài… tại VN. Ông từng là cố vấn kinh tế cho Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh, Thủ tướng Võ Văn Kiệt và cũng là Đại biểu Quốc hội, Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN. Ông mất ngày 29/8/2003 tại TP HCM.

Vũ Văn Mẫu (1914-1998) là một chính trị gia kiêm học giả về ngành luật nổi tiếng ở Sài Gòn trước năm 1975. Ông từng giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao rồi Thủ tướng của chế độ Sài Gòn. Sau 1975, ông ở lại VN trong một thời gian, rồi sau đó sang Pháp và định cư ở đây cho đến tận cuối đời. Ông Vũ Văn Mẫu mất ngày 20/8/1998 tại Paris, thọ 84 tuổi.

Nguyễn Hữu Có (1925-2012) là cựu Phó thủ tướng kiêm tổng trưởng Quốc phòng và tổng tham mưu trưởng quân lực chính quyền Sài Gòn. Sau năm 1975, ông ở lại VN và phải đi cải tạo đến năm 1987. Tuy vậy, đến cuối năm 2004, ông được bầu làm Ủy viên UBTW Mặt trận Tổ quốc VN và được chính phủ VN xem như một biểu tượng của sự hòa giải dân tộc, xóa bỏ hận thù của 30 năm chiến tranh. Ông mất tại TP HCM ngày 3/7/2012, hưởng thọ 87 tuổi. Trong ảnh là vợ chồng ông Nguyễn Hữu Có, chụp vào tháng 2.2012.

Trần Văn Đôn (1917-) là tướng lĩnh cao cấp của Quân lực Sài Gòn và là Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Quốc phòng trong nội các cuối cùng của Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu. Vào ngày 29/4/1975, ông là một trong những người di tản trên chuyến trực thăng nổi tiếng của Mỹ xuất phát từ tầng thượng tòa nhà 22 phố Gia Long (nay là phố Lý Tự Trọng) ở Sài Gòn. Sau đó, ông sang Pháp định cư và sinh sống ở đó cho tới nay.

  Cao Văn Viên (1921-2008) là 1 trong 5 người được phong hàm đại tướng quân lực chế độ Sài Gòn. Ông là vị tướng giữ chức vụ Tổng Tham mưu trưởng trong thời gian lâu nhất (1965-1975) và cũng là người cuối cùng giữ cương vị này của chế độ Sài Gòn. Năm 1975, trước các thất bại quân sự, ông từ nhiệm ngày 27/4 và lên máy bay di tản sang Mỹ. Sau 1975, ông sống lặng lẽ tại Arlington, Virginia. Ông mất ngày 22/1/2008 tại viện dưỡng lão, thọ 87 tuổi.

 Vương Văn Bắc (1927-2011) là một luật sư và Tổng trưởng Ngoại giao vào những năm cuối cùng của chế độ Sài Gòn. Sau ngày 30/4/1975, ông sang Pháp định cư. Nhờ học vấn uyên thâm, ông được ngành luật của nước Pháp trọng dụng và làm việc cho đến năm 80 tuổi mới nghỉ ngơi. Ông mất ở Paris ngày 20/6/2011.

——————————

CHÂN DUNG MỘT SỐ TƯỚNG NGỤY( đã tự sát trước giờ giải phóng )

Bí ẩn vụ tự sát của tướng ngụy Nguyễn Khoa Nam

Nhiều người ở Cần Thơ vẫn tin rằng Nguyễn Khoa Nam chưa chết, và vụ “tự sát” rạng sáng 1/5/1975 chỉ là được dàn dựng.

Tướng chế độ Sài Gòn Nguyễn Khoa Nam

Mấy chục năm qua, các tài liệu lịch sử đều cho rằng viên thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, tư lệnh Quân đoàn 4 kiêm tư lệnh Vùng 4 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn cũ, đã tự sát vào đêm 30/4 rạng sáng 1/5/1975. Nhưng mới đây khi về Cần Thơ, tôi lại thật sự bất ngờ khi nghe rất nhiều người hiểu chuyện cho biết không tin là Nguyễn Khoa Nam tự sát.Dưới chế độ Việt Nam Cộng hòa do Nguyễn Văn Thiệu làm tổng thống, miền Nam Việt Nam chia làm 4 “vùng chiến thuật”. Vùng 1 bao gồm khu vực 6 tỉnh miền Trung, lấy Đà Nẵng làm “thủ phủ”. Vùng 2 là phần miền Trung còn lại và Tây Nguyên, bộ tư lệnh vùng đặt ở Nha Trang. Vùng 3 bao gồm miền Đông Nam bộ và và 2 tỉnh Hậu Nghĩa, Long An (đều thuộc tỉnh Long An ngày nay), bộ tư lệnh vùng đặt ở Biên Hòa. Vùng 4 là vùng rộng lớn nhất, bao gồm cả đồng bằng sông Cửu Long, “thủ phủ” đặt tại Cần Thơ. Mỗi vùng có biên chế quân đội là 1 quân đoàn, đứng đầu là tư lệnh quân đoàn. Thường thì vị tướng tư lệnh vùng kiêm luôn tư lệnh quân đoàn. Vào thời điểm đầu 1975, tư lệnh Vùng 4 kiêm tư lệnh Quân đoàn 4 là thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam. Phụ tá ông ta là viên chuẩn tướng Lê Văn Hưng.Thăng tiến nhanh chóngNguyễn Khoa Nam lúc đó khá nổi tiếng trong những tướng tá quân đội Sài Gòn, vì dù đã gần 50 tuổi nhưng vẫn sống độc thân, không vợ con. Nguyễn Khoa Nam sinh năm 1927 ở làng An Cựu Tây, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, học tiểu học ở Ðà Nẵng, sau đó ra Huế học trung học; rất có năng khiếu về hội họa và âm nhạc. Nếu không xảy ra một biến cố trong tình cảm riêng tư, có lẽ Nguyễn Khoa Nam đã đi theo con đường hội họa: một số tác phẩm của ông ta thời đó được trưng bày ở Đà Nẵng.

Nguyễn Khoa Nam đã đăng ký vào học Trường Sĩ quan trừ bị Thủ Đức thuộc “Quân đội Quốc gia Việt Nam” trong Liên hiệp Pháp năm 1953. Pháp thua trận phải cuốn gói về nước, Nguyễn Khoa Nam quay qua phục vụ cho chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm với chức vụ đại đội trưởng lính dù, đeo quân hàm đại úy. Phục vụ trong binh chủng “con cưng” của Ngô Đình Diệm rồi Nguyễn Văn Thiệu – “lính dù” luôn khét tiếng về sự tàn ác đối với đồng bào – Nguyễn Khoa Nam liên tục thăng tiến lên cấp tá, rồi được Nguyễn Văn Thiệu tin cẩn phong chuẩn tướng, rồi thiếu tướng, giao làm Tư lệnh Vùng 4, trấn giữ cả vùng đồng bằng rộng lớn.

Phá sản kế hoạch lập “mật khu tử thủ” Cần Thơ

Đầu tháng 4/1975, một vùng rộng lớn miền Trung và Tây Nguyên đã được giải phóng, quân ta ngày càng áp sát đô thành Sài Gòn. Trong khi đó, hầu hết các tỉnh thuộc Vùng 4 đều còn chịu sự kiểm soát của ngụy quyền, đứng đầu là viên tư lệnh vùng Nguyễn Khoa Nam. Ngày 21/4/1975, khi các cánh quân của ta không còn cách Sài Gòn bao xa, Nguyễn Văn Thiệu đã từ chức tổng thống, trao quyền lại cho Trần Văn Hương. Trong bài diễn văn từ chức, Nguyễn Văn Thiệu đã “diễn” rất hay khi nói trong nước mắt: “Đất nước mất một tổng thống Nguyễn Văn Thiệu, nhưng quân đội vẫn còn một trung tướng Nguyễn Văn Thiệu, còn một chiến sĩ Nguyễn Văn Thiệu chiến đấu bên cạnh anh em binh sĩ…”. Và ai cũng biết, sau đó chỉ 3 ngày, Nguyễn Văn Thiệu đã cùng gia đình lên máy bay đi nước ngoài với bao tài sản.

Ngay trước khi từ chức tổng thống, Nguyễn Văn Thiệu đã có cuộc làm việc với Nguyễn Khoa Nam tại dinh Độc Lập. Tại đó, nhận định về khả năng Sài Gòn sẽ thất thủ, Nguyễn Văn Thiệu và Nguyễn Khoa Nam đã bàn về phương án cho quân đội Sài Gòn rút về tử thủ ở miền Tây, cụ thể là Cần Thơ. Nguyễn Khoa Nam về Cần Thơ lập kế hoạch chuẩn bị cho Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn rút về tử thủ. Quân Giải phóng áp sát và chiếm giữ nhiều đoạn Quốc lộ 4 (Quốc lộ 1A ngày nay). Đại tá Nguyễn Văn Năm – Tỉnh trưởng tỉnh Long An – nhiều lần gọi điện gặp tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam xin dùng thuốc nổ phá hủy 2 cây cầu lớn trên Quốc lộ 4 là Tân An và Bến Lức để làm chậm bước tiến của Quân Giải phóng. Tướng Nguyễn Khoa Nam không cho phá cầu vì vẫn tin tưởng chính quyền Sài Gòn và Bộ Tổng tham mưu ngụy sẽ rút về Cần Thơ tiếp tục chiến đấu, cần giữ con đường bộ huyết mạch để rút lui.

Hũ tro cốt được cho là của Nguyễn Khoa Nam

Đến cuối tháng 4/1975, quân Giải phóng đã tràn vào Sài Gòn mà chẳng thấy cánh quân nào từ Sài Gòn rút về Cần Thơ. Dù vậy, Nguyễn Khoa Nam vẫn “tử thủ” ở Cần Thơ, đồng thời liên lạc với các tỉnh trường trong Vùng 4 “thề thốt” sẽ chiến đấu tới cùng. Chỉ một vài tỉnh trưởng tin lời “thề thốt” của tư lệnh Nguyễn Khoa Nam, điên cuồng chống lại quân Giải phóng và bị tiêu diệt (đó là số phận của đại tá tỉnh trưởng tỉnh Chương Thiện, nay là tỉnh Hậu Giang), còn lại hầu hết các tỉnh trưởng đều bỏ chạy trước khi quân Giải phóng vào tiếp quản. Trưa 30/4/1975, sau khi tướng Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện quân Giải phóng, tướng Nguyễn Khoa Nam vẫn còn ngoan cố triển khai phòng tuyến tử thủ ở Cần Thơ. Thế nhưng khi kiểm tra kế hoạch “tử thủ”, Nguyễn Khoa Nam mới biết tay trợ lý thân cận nhất đã vứt cái “kế hoạch tử thủ” đó vào sọt rác chứ không triển khai đi các nơi, và y đã cùng vợ con “chơi khăm” thiếu tướng tư lệnh bằng cách “hớt tay trên” chiếc máy bay trực thăng dành riêng cho tư lệnh để bay ra Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi. Nguyễn Khoa Nam đã hoang mang tột độ khi biết tay trợ lý đã phản bội mình, nhất là khi y đã lấy chiếc trực thăng đậu trong bộ tư lệnh vùng, bây giờ Nguyễn Khoa Nam có muốn tẩu thoát cũng không còn phương tiện.Cả 2 viên tướng Vùng 4 đều “tự sát”Ba ngày sau khi Sài Gòn giải phóng, đài BBC loan tin cả 2 viên tướng tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam và Tư lệnh phó Lê Văn Hưng đều đã “tự sát” chết tại bộ tư lệnh vùng ở Cần Thơ. Viên chuẩn tướng Lê Văn Hưng đã tự sát chết trước mặt vợ con và nhiều thuộc cấp vào tối 30/4/1975. Chính Nguyễn Khoa Nam đã đến viếng Lê Văn Hưng và an ủi vợ con ông ta vào tối hôm ấy. Còn chuyện Nguyễn Khoa Nam “tự sát”, hầu như không có ai chứng kiến. Ngoài nguồn tin của BBC được dẫn từ một người lính nào đó ở Cần Thơ, chuyện “Nguyễn Khoa Nam tự sát” sau này được kể lại trong hồi ký của tay trung úy Lê Văn Danh, một trong những thuộc cấp của Nguyễn Khoa Nam có mặt bên “chủ tướng” vào đêm 30/4/1975. Lê Văn Danh đã viết rất tốt về “chủ tướng” của mình, đặc biệt là tả lại khá tỉ mỉ khoảnh khắc tướng Nguyễn Khoa Nam tự sát.Hồi ký của viên trung úy Lê Văn Danh nào đó, không ai có thể kiểm chứng. Nhưng trong hồi ký của Lê Văn Danh có những đoạn “hư cấu” mà sau này, ta có thể kiểm chứng được. Đó là chuyện Lê Văn Danh viết, vào tối 30/4/1975, phía quân Giải phóng có cử một đoàn “cán bộ cùng nhân dân” vào thuyết phục Nguyễn Khoa Nam buông súng; Nguyễn Khoa Nam đã tiếp đoàn “thuyết khách” rất lịch sự, có cả pha trà mời khách, xong tiễn họ ra về mà không chấp nhận lời yêu cầu “đầu hàng”. Thực tế thì, theo những cán bộ được giao theo dõi hoạt động của bộ tư lệnh Vùng 4 lúc ấy, phía cách mạng có giao cho một phụ nữ hoạt động hợp pháp tìm cách tiếp cận, thuyết phục Nguyễn Khoa Nam đầu hàng. Bà tên là Phan Thị Báu, lúc ấy đã có chồng và 2 con nhỏ, hoạt động hợp pháp trong lòng địch. Sau khi nhận chỉ thị của Khu ủy “Phải thuyết phục cho bằng được Nguyễn Khoa Nam đầu hàng. Nếu không được thì tiêu diệt”, bà Báu đã viết lá thư thuyết phục Nguyễn Khoa Nam, nhờ nội tuyến chuyển đến thư ký riêng cho ông ta. Khi hay tin do nội tuyến truyền ra là Nguyễn Khoa Nam đã đọc và xé bức thư trên, bà Báu liền chuẩn bị kế hoạch đột nhập vào Bộ Tư lệnh để thực thi nhiệm vụ. Hình dung đó là việc vô cùng nguy hiểm nên trước khi đi, bà đã viết “lá thư thuyệt mệnh” để lại cho chồng con, phòng khi bà bị Nguyễn Khoa Nam sát hại. Bức thư viết: “…Mình ơi! Sau trận này tôi có bề nào, mình đừng buồn, vui lòng ở lại gánh vác thêm nhiệm vụ cho tôi và tập hợp các con về, mình cố gắng nuôi dạy cho con khôn lớn nghe mình. Các con ơi, bây giờ đã ba giờ sáng, mẹ ra khỏi phòng bí mật, mẹ tiếp tục chiến đấu với kẻ thù…”. Sáng sớm 1/5/1975, khi bà Báu đột nhập được vào bộ tư lệnh vùng, thì có người báo là Nguyễn Khoa Nam đã tự sát. Bà đã chứng kiến trong phòng làm việc của viên tư lệnh đó, một người mặc quân phục cấp tướng, trên túi có tên Nguyễn Khoa Nam, đang ngồi chết ở bàn làm việc, tay còn cầm súng, đầu bị đạn bắn… Sau đó xác chết được đưa đi chôn ở “nghĩa trang quân đội” TP Cần Thơ. Bà Báu nhớ lại, bà thấy tên người chết trên túi ghi Nguyễn Khoa Nam thì tin đó là tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam, chứ có đúng ông ta không thì lúc đó không ai để ý.

Ngôi nhà từng là nơi làm việc của Nguyễn Khoa Nam, cũng là nơi mà ông ta đã “tự sát”

——————————————-

Thiếu Tướng Nguyễn Khoa Nam của quân lực VNCH là hậu duệ dòng họ Nguyễn Khoa danh tiếng ở đất Thần Kinh Huế mà các cụ tổ từ đời này sang đời khác đều có công trạng giúp Chúa Nguyễn. Ông có người cháu gọi chú là Nguyễn Khoa Điềm từng là ủy viên BCT của đảng CSVN. Tướng Nam được coi là vị tướng “tuẫn tiết” khi thua trận vào 30 tháng 4.1975. Dưới đây là hồi ký của cựu Trung úy, Tùy viên Tư lệnh Nguyễn Khoa Nam về những ngày cuối cùng của ông.

LÊ NGỌC DANH

(Cựu Trung Úy, Tùy Viên Tư Lệnh QĐIV-QK4 NKN).

Về Cần Thơ – Tùy Viên Tư Lệnh Quân Đoàn

Vào một buổi sáng cuối tháng 11 năm 1974, Tướng Nguyễn Vĩnh Nghi, Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4 đến thăm Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 và mọi người được biết Thiếu Tướng sẽ về Quân Đoàn thay Tướng Nghi. Lúc nghe tin, tôi rất hồi hộp không biết mình sẽ ra sao? Đi hay ở lại, ở lại Sư Đoàn hay về Trung Đoàn 10. Thiếu Tá Phước luôn luôn nói:

– Tao và Ngoan theo Thiếu Tướng về Quân Đoàn còn mày ở lại. Anh Phước cứ nói liên tục, tôi bực mình:

– Thiếu Tá và Ngoan đi với Thiếu Tướng còn tôi bất quá về lại Trung Đoàn 10, vẫn ở văn phòng hết đi lội rồi.

Tôi đã bị thương nhiều lần, miễn to còn ở đùi phải, ngực, mắt, mặc còn đầy miểng bêta, tôi đã mệt mỏi việc đánh nhau ngoài chiến trường.

Thời gian nặng nề chầm chậm trôi qua, chuyện đi ở luôn luôn vây quanh trong tôi. Tôi thầm an ủi nếu được theo Thiếu Tướng, tôi sẽ hết lòng phục vụ người. Tôi quan niệm tôi xuất thân từ đơn vị tác chiến, không thân thế được Thiếu Tướng cho về làm tùy viên là điều vinh hạnh, vài bạn bè hỏi tôi:

– Mày làm Tùy Viên tốn hết bao nhiêu?

Tôi bực mình nói:

– Tao về Thiếu Tướng là ông chọn, chắc thấy tao dễ thương, làm việc tốt và hiền lành, chớ có lo lót gì đâu. Tư Lệnh không dính dáng về tiền bạc bất chính. Tiền lương của Thiếu Tướng, ông còn cho tao và Ngoan xài, không tin gặp Trung Úy Ngoan hỏi. Đừng nói bậy! Thiếu Tướng hay ông buồn.

Mấy ngày sau đó, một buổi sáng khoảng 10 giờ, Tư Lệnh bấm loa nói:

– Bảo Trung Úy Danh vào gặp tôi.

Thiếu Tá Phước nhận và bảo tôi vào gặp Tư Lệnh. Tôi hé cửa vào phòng làm việc, Tư Lệnh kéo cặp mắt kính trắng lệch xuống nhìn tôi.

– Dạ, Thiếu Tướng gọi em.

– Danh chuẩn bị lên Quân đoàn IV làm việc với qua.

– Dạ.

Tôi trở ra bàn làm việc, Thiếu Tá Phước vội hỏi:

– Thiếu Tướng nói gì?

Tôi không thân anh Phước nên tôi dấu việc đi về Quân Đoàn và nói trớ Tư Lệnh bảo lo sắp hành lý, còn Trung Úy Ngoan tôi cũng dấu luôn. Tôi suy nghĩ mải tại sao không cho Trung Úy Ngoan đi theo ông (anh là tùy viên củ mà). Sau này mới được anh Ngoan cho biết Thiếu Tướng bảo anh ở lại vì Ngoan ở lâu tại sư đoàn, biết rành bản đồ và các đơn vị trực thuộc. Còn tùy viên của Tướng Hai không biết nhiều về hành quân vì đơn vị trước của anh là Cảnh Sát.

Sáng hôm sau, chiếc trực thăng của Tư Lệnh đang đậu ở sân bay trước Bộ Tư Lệnh, khoảng 11 giờ sẽ bốc Tư Lệnh về Cần Thơ nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4. Tư Lệnh từ phòng làm việc bước ra với cặp mắt kính đen, khẩu Colt-45 mang bên hông, đưa tay chào giả biệt thuộc cấp từ từ tiến đến chiếc trực thăng. Tôi xách cặp táp theo sau còn trung sĩ Hộ dùng xe theo Quốc Lộ 4 về  Cần Thơ sau. Chiếc trực thăng UH-1B do Đại Úy Thanh, Không Quân lái, đưa Thiếu Tướng từ Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh về nhậm chức Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4. Hơn 20 phút bay, chiếc trực thăng đáp xuống sân vận động thành phố Cần Thơ. Xe Jeep và xe hộ tống đã đậu sẵn đưa Tư Lệnh về Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn. Đến Bộ Tư Lệnh nhìn tổng quát, tôi thấy: Tướng Nghi, Tướng Chương Dzềnh Quay, Đại Tá Thiệt, Đại Tá Sáu và các trưởng phòng khác.

Lên bậc thềm tam cấp vào phòng họp cũng là nơi làm việc của Tư Lệnh, các ông vào phòng Tư Lệnh nói những gì tôi không được biết. Tôi được Thiếu Tá Thụy, chánh văn phòng của Tướng Nghi hướng dẫn vào phòng làm việc của Tùy Viên (Khỏi bậc tam cấp, đi thẳng vào phòng làm việc của Tư Lệnh rẻ phải là phòng làm việc của Chánh Văn Phòng và Tùy Viên). Nơi đây, Thiếu Tá Thụy giới thiệu các hạ sĩ quan và binh sĩ thuộc cấp. Sau khi họp bàn giao xong, Tư Lệnh xuống Trung Tâm Hành Quân rồi về tư dinh ở cầu Cái Khế. Tư dinh mặt trước đối diện đại lộ Hòa Bình, từ lộ Hòa Bình nhìn vào dinh bên trái là cầu Cái Khế, sông ôm sát hông trái dinh vòng về phía sau rồi chạy thẳng lên bến Ninh Kiều, bên phải là hãng bia và nước ngọt của Pháp. Trước khi vào thẳng dinh, trước cửa là cột cờ, dưới chân cột cờ có đặt một khẩu súng đồng thời Pháp thuộc để trang trí. Bên trái, cặp theo bờ sông là dãy nhà dành cho quân nhân bảo vệ và hộ tống. Dãy nhà này có khoảng 15 phòng. Trung Úy Việt, sĩ quan liên lạc, ở đầu dãy kể từ lộ vào, còn Trung Úy Hỉ, hộ tống, ở cuối dãy. Phòng ăn Tư Lệnh ở bên phải nối liền với mặt tiền dinh. Phòng ngủ của tùy viên nối tiếp với phòng ăn, phòng này lúc về Thiếu Tướng mới ra lệnh xây cho tôi. Kế tiếp phòng tôi là nhà xe, tiếp theo là nhà bếp cùng với phòng trung sĩ Hộ quản gia. Sau cùng cửa ra nhìn thấy hãng bia có đường hẻm đi ra tới lộ Hòa Bình.

Phía sau phòng ăn, một Trailer dài độ 15 mét nằm chênh góc 30 độ hướng về phòng ăn, có hai cửa ra vào. Chỉ một cửa lớn vào dinh, dinh chia làm hai tầng, tầng trên có 4, 5 phòng dành cho khách đến ngủ đêm, có sân thượng nhỏ trước cửa. Lúc mới về Quân Đoàn, tôi ngủ ở đây. Tầng dưới khi bước vào cửa: Bên trái là phòng thuyết trình cũng là nơi làm việc của tùy viên, phía trên ách tường có bản đồ của Vùng 4 Chiến Thuật, bàn làm việc của tùy viên và 1 bộ sofa. Bên phải là phòng thờ Phật với bàn thờ Phật đặt giữa bức tường phía sau. Trên bàn thờ có tượng Phật Thích Ca, phía phải bàn thờ có một cái chuông nhỏ, giữa là lư hương điện cắm nhang được, bên trái là dĩa trái cây và hai cây đèn cầy bằng điện ở hai bên bàn thờ. Trước bàn thờ độ 2 thước có một bộ sofa (sofa này là nơi Tư Lệnh ngồi trước khi tự sát). Bên phải phòng thờ Phật là phòng ăn của Tư Lệnh, phòng rất dài trên 10 mét, đặt một bàn ăn dài trải vải trắng (tấm vải trắng này đã đắp Tư Lệnh khi chết). Trong phòng ăn có hồ cá kiểng, tivi và ít tranh ảnh trên tường.

Dưới chân tư dinh có hầm ngầm rất lớn và rộng, nhìn vào toàn là nước, có thể đây là hầm chứa nước mưa (sau khi Thiếu Tướng tự sát, tôi trở về Sài Gòn đến nhà Thiếu Tướng ở số 403, cư xá Lê Đại Hành, quận 11, tôi đã vứt bỏ khẩu súng nhỏ của Thiếu Tướng cho ở hầm này. Khẩu súng, nhỏ hơn lòng bàn tay một chút, tôi không biết là loại súng gì, đạn nhỏ như hột sen. Thiếu Tướng cho vào tối 30 tháng 4 và nói tôi giữ súng này để hộ thân).

Về Quân Đoàn IV, chỉ có tôi và anh Hộ là người Sư Đoàn 7 đi theo. Sau đó Tư Lệnh chọn thêm Thiếu Tá Đức làm chánh văn phòng, Trung Úy Việt làm sĩ quan liên lạc. Trung Úy Việt là người Sài Gòn, Đại Tá Hai, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Định Tường giới thiệu. Anh Việt có gia đình, vợ và hai con, còn tôi độc thân. Các bộ phận trong văn phòng vẫn giữ nhân viên củ. Phần trung đội hộ tống do Trung Úy Hỉ chỉ huy, các lính hộ tống và lính gác trong tư dinh vẫn giữ như củ, không thay đổi tài xế và thợ hớt tóc.

Trong thời gian đầu, Trung Úy Việt ở Sài Gòn nhiều hơn còn tôi luôn đi theo công tác với Tư Lệnh. Về sau, Tư Lệnh cho hai đứa tôi thay phiên nhau mỗi ngày một người. Công việc của tôi và anh Việt, mỗi ngày một trong hai người theo Thiếu Tướng đi bay, thăm các đơn vị, tiểu khu, hay đi họp ở Tổng Tham Mưu, phủ Tổng Thống, phó Tổng Thống, phủ Thủ Tướng v.v… Người ở nhà theo dõi tình hình bạn địch, dán lên bản đồ ở tư dinh chiều Tư Lệnh về thuyết trình lại. Người đi theo nhận những chỉ thị của Tư Lệnh chuyển về Quân Đoàn hay ghi lại về thông báo các phòng để thi hành. Trong lúc làm việc, ai muốn gặp Tư Lệnh phải vào phòng làm việc của Tư Lệnh trình báo, nếu ông chấp thuận thì sẽ mời vào. Khi Tư Lệnh cần gặp hay nói chuyện với ai thì mời vào hay chờ sẵn trên phone. Ngoài ra trên đường bay, trước khi đi phải lấy tình hình bạn địch, nơi chạm súng để tránh tai nạn, tóm lại phải giữ an ninh tối đa trong lúc di chuyển. Như muốn về họp ở Tổng Tham Mưu từ Cần Thơ bay theo sông Hậu đến tiểu khu Vĩnh Bình, qua tiểu khu Kiến Hòa đến tiểu khu Định Tường, theo quốc lộ 4 lên Tổng Tham Mưu tránh vùng Trị Pháp ở chi khu Cái Bè  có phòng không và SA-7.

Có lần xuống thăm chi khu Cầu Ngang thuộc tiểu khu Vĩnh Bình, chi khu này bị Việt Cộng tấn công thiệt hại đến 70% nhưng không mất, pháo binh bắn trực xạ địch bị thiệt hại nặng. Tư Lệnh cho tất cả quân nhân ở chi khu lên một cấp.

Ngoài nhiệm vụ tháp tùng Tư Lệnh, sĩ quan tùy viên còn phải lo chu toàn những phần vụ quy định. Đại loại, những việc hàng ngày chúng tôi thường làm như:

1.Tư Lệnh thường giao cho Thiếu Tá Đức, Chánh Văn Phòng, những lệnh viết tay hoặc khẩu lệnh để Thiếu Tá Đức chuyển đến các phòng thi hành. Các lệnh xuống tiểu khu, đơn vị cũng do Thiếu Tá Đức chuyển. Gần ngày 30 tháng 4 năm 75, nhật lệnh và hình của Tư Lệnh đọc trên đài truyền thanh, truyền hình Cần Thơ cũng do Thiếu Tá Đức chuyển cho phòng Chiến Tranh Chính Trị.

2.Những lần Tư Lệnh muốn gặp các đơn vị trưởng như Tư Lệnh Sư Đoàn, Tiểu Khu Trưởng, các Trưởng Phòng thường bảo tôi hay anh Việt gọi trước, có sẵn đầu máy rồi tổng đài chuyển qua, trong lúc nói chuyện nội dung tôi không rỏ. Ngoài ra Tư Lệnh có đường dây Hotline gọi thẳng lên Tổng Tham Mưu, phủ Tổng Thống, phủ Phó Tổng Thống hay các đơn vị trực thuộc không cần chúng tôi gọi trước.

3.Lo an ninh cho Tư Lệnh trong lúc di chuyển bằng xe Jeep hay xe Falcon, lúc đầu có trung đội hộ tống do Trung Úy Hỉ chỉ huy, mỗi khi Tư Lệnh đi đều có trung đội này chạy xe sau hộ tống. Về sau, Tư Lệnh thấy rườm rà nên bỏ, đi đâu chỉ có tài xế và tôi hay Trung Úy Việt. Với xe jeep, Tư Lệnh ngồi trước, tôi ngồi quay mặt về phía sau, bên hông một khẩu Colt-45 với một khẩu AR-15 đã lên đạn sẵn, còn đi xe Falcon, tôi ngồi trước, Tư Lệnh ngồi phía sau. Lúc đi họp ở Tổng Tham Mưu hay các Phủ, Tư Lệnh dùng xe jeep, đôi khi xe Falcon, lúc di chuyển bao bảng “sao”, nhiều lúc bị cảnh sát hay quân cảnh chận lại, nhìn vào xe thấy Thiếu Tướng chào và mở đường cho xe đi nhanh. Có lần ở Cần Thơ, Tư Lệnh muốn dạo một vòng quanh thị xã, bảo tôi lấy xe Falcon để đi, lúc chầm chậm chạy, Tư  Lệnh nói:

– Quay kiếng lên coi chừng bọn VC ném lựu đạn.

4.Nhiệm vụ tùy viên ngoài ra còn kiểm soát quà biếu nếu có, xem xét cẩn thận trước khi trình Tư Lệnh. Tôi nhớ gần dịp Tết, Đại Tá Của, Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Châu Đốc gởi tặng Tư Lệnh một bức tranh bằng gỗ, tôi mở ra thấy khắc chữ ở dưới: Kính tặng Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Châu Đốc. Phía dưới một hàng chữ: Tòa Hành Chánh tỉnh Châu Đốc. Tôi vội gọi điện thoại gặp ngay Đại Tá và nói:

– Đại Tá tặng tranh cho Tư Lệnh phải không?

Ông vồn vã hỏi:

– Sao Tư Lệnh thấy chưa? Có nói gì không?

– Đại Tá gởi tranh lộn rồi, để em đọc cho Đại Tá nghe: Kính tặng Đại Tá Tiểu Khu Trưởng ….. Tòa Hành Chánh tỉnh Châu Đốc.

– Chết rồi, Tư Lệnh thấy chưa?

– Dạ chưa.

– Mày bảo mấy nhỏ đem tiệm tháo bỏ phần chữ này giùm tao và in lại: Kính tặng Thiếu Tướng Tư Lệnh Quân Đoàn IV-Quân Khu 4. Ở dưới ghi: Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Châu Đốc kính tặng. Giúp giùm tao, tao sẽ gặp mày sau.

– Dạ.

Rồi đại tá sai lính đến tặng riêng cho tôi 1 túi lớn thuốc hút hiệu Adam trên 50 gói, mặc dầu tôi không biết hút thuốc, chỉ phì phà vài điếu cho vui thôi.

Trong thời gian từ  Sư Đoàn 7 Bộ Binh đến Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV, tôi thấy Tư Lệnh sống rất cô đơn, không thấy hay rất ít ai đến thăm, thỉnh thoảng lên họp ở Sài Gòn về nhà ở số 403 Lê Đại Hành, trước trường đua Phú Thọ. Tư Lệnh suốt ngày làm việc, ngoài những lúc đi thăm các đơn vị rảnh tôi thấy ông ở Trung Tâm Hành Quân. Tư Lệnh làm việc mỗi ngày đến sau 6 giờ chiều mới về tư dinh, trưa ăn cơm ở câu lạc bộ Cửu Long, tối về, trung sĩ Hộ nấu ít món ăn đơn giản để Thiếu Tướng dùng, không bao giờ ông than phiền ngon dỡ. Tư Lệnh không uống rượu, có lần party ở Tiểu Đoàn 7 Quân Y ở Đồng Tâm, Tư Lệnh uống champagne một chút. Một mình buồn, thỉnh thoảng Tư Lệnh nói chuyện với  tôi. Có lần thấy Tư Lệnh vui vẻ nói chuyện, tôi nói:

– Cơm ở câu lạc bộ chắc không ngon miệng, vậy em nói trung sĩ Hộ lo cơm trưa, Thiếu Tướng về ăn thay vì xuống câu lạc bộ.

Tư Lệnh ôn tồn nói:

– Thôi lính tráng ăn sao, qua ăn vậy.

Đối với thuộc cấp, Tư Lệnh ăn nói rất nhẹ nhàng, thường gọi thuộc cấp là em hay cấp bậc kèm theo tên, còn Tư Lệnh xưng “tôi” hay “qua”. Tư Lệnh rất tôn trọng và tiếp xúc ngay, gặp mặt hay bằng điện thoại với các đơn vị trưởng, nói chung là các quân nhân, còn các bà quả phụ qua điện thoại xin gặp Tư Lệnh, ông từ chối và bảo cần việc gì Thiếu Tá Đức, Chánh Văn Phòng, tôi hay Trung Úy Việt giải quyết. Có lần bà quả phụ của một cố đại tá gọi đến và xin gặp Tư Lệnh. Ông nói:

– Hỏi Bà cần gì nói Thiếu Tá Đức giải quyết.

Tôi chuyển lời Tư Lệnh và nói:

– Tư Lệnh bận, bà cần gì nói cho tôi biết.

Bà nói:

– Trung Úy trình với Tư Lệnh cho tôi xin 200 lít xăng.

– Tôi sẽ chuyển lời xuống Tổng Hành Dinh cho Bà xăng.

Còn các ông xì thẩu (ông chủ người Hoa Kiều) ở Cần Thơ nhiều lần xin gặp Tư Lệnh, ông đều từ chối lý do bận không tiếp.

Lúc đi kinh lý, thăm các tiểu khu có lúc ăn cơm trưa tại đây với các Tỉnh Trưởng. Tư Lệnh bảo tôi ăn cơm chung một bàn với Tư Lệnh và Tỉnh Trưởng. Trong bàn ăn, Tỉnh Trưởng ngồi đối diện với Tư Lệnh còn tôi ngồi bên phải của Tư Lệnh. Có lần đến Tiểu Khu Kiến Phong (Cao Lãnh), Đại Tá Tỉnh Trưởng đãi món bún riêu, 3 tô bún bốc khói dọn ra, rau muống chẻ nhỏ, bắp chuối sắt mỏng và mỗi tô để kế bên một chai nho nhỏ, giống như chai dầu Nhị Thiên Đường. Tư Lệnh đang nói chuyện chưa dùng, quay qua bảo tôi:

– Danh ăn đi kẻo nguội.

– Dạ, để Tư Lệnh và Đại Tá ăn trước, tôi sẽ ăn sau.

Tôi đang thắc mắc về ba chai nhỏ gần tô bún để làm gì? Tôi tần ngần việc quá quê mùa, viện cớ đứng dậy gọi điện thoại về Trung Tâm Hành Quân-Quân Đoàn để hỏi tình hình tổng quát, lúc gọi điện thoại tôi liếc nhìn về bàn ăn. Tôi thấy Tư Lệnh và Đại Tá từ từ mở nắp chai đó ra, dùng cây tăm nhỏ nhúng vào trong chai rồi đưa nhúng vào tô bún. Tôi trở lại bàn ăn và làm như vậy, một mùi thơm thoảng bay qua thì ra đó là dầu con cà cuống. Sau này, mấy anh quân nhân nói cho biết, tinh dầu này có một chút trong cà cuống, phải lấy thật nhiều con mới có một chai nho nhỏ này.

Có lần xuống họp ở tiểu khu Định Tường (Mỹ Tho), sau khi họp xong, Đại Tá Hai mời Tư Lệnh dùng cơm trưa, trong đó có món “hầm vỉ chí dục tản” (một khoanh cá mặn, thịt heo ba rọi bầm nhuyễn, hột vịt đánh tan đổ vào thêm ít lát gừng, xắt thành cọng nhỏ như bún, ít bột ngọt, tiêu, tỏi, đường để vào một tô nhỏ đem chưng cách thủy). Tư Lệnh ăn thấy ngon quay qua hỏi tôi:

– Ở Cần Thơ có món này không Danh?

– Dạ ở tiệm Tàu có.

Thời gian sau, lúc rảnh rỗi, tôi đi mua vật liệu, gia vị làm món này và mang lên Tư Lệnh dùng cơm tối. Tư Lệnh hỏi tôi:

– Danh mua món này ở tiệm nào ngon vậy.

Tôi mỉm cười nói:

– Dạ em nấu. Thiếu Tướng ăn ngon miệng không?

Tư Lệnh hỏi:

– Sao Danh biết nấu ăn?

– Dạ hồi còn học sinh em nấu rất giỏi, hơn nữa ba nuôi của em là người Tàu, đã chỉ cho em lâu rồi quen em nấu rất nghề. Tư Lệnh mỉm cười.

Ở tư dinh, Tư Lệnh thường trầm ngâm ít nói chuyện. Vài lúc về sớm, Tư Lệnh đi vòng ra phía sau và thường đứng ở sân nhỏ trước cửa trailer nhìn những con gà chọi nhau, gà giò mới lớn, chỉ nhảy cỡn chưa đá được. Tư Lệnh liệng từng nắm thức ăn mỉm cười một mình. Nơi bàn thờ Phật, tôi đã trang trí dây điện xanh có, đỏ có, vàng có trên hệ thống đèn. Tư Lệnh gọi tôi đến và bảo:

– Danh thay các bóng đèn điện màu này, thế bằng dây diện màu đen. Qua không thích màu mè.

– Dạ.

Rồi tôi thay tất cả hệ thống dây điện bằng màu đen.

Mỗi buổi sáng, trước 7 giờ, trước khi Tư lệnh đi làm việc, mặc quân phục xong đến bàn thờ Phật đốt hương xá Phật, cắm hương vào lư nhang và gõ vài tiếng chuông. Chiều về sau khi đến phòng thuyết trình xem tình hình tổng quát, tắm rửa ăn tối, xem truyền hình ở phòng ăn, sau đó đến bàn Phật đốt nhang như buổi sáng trước khi vào trailer ngủ. Tư Lệnh có thói quen, mỗi buổi sáng trước khi đi làm việc, tôi đứng nghiêm chào, Tư Lệnh chỉ đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và mỉm cười, ngày này qua ngày khác không nói gì thêm. Một buổi sáng nọ, tôi đứng chờ Tư Lệnh đi làm việc ở trước cửa dinh, Tư Lệnh đứng sát bên tôi chờ xe ra tiện tay sờ vào cằm tôi và nói:

– Râu Danh ra dài, thôi vào cạo đi rồi đi làm việc.

– Dạ.

Tôi sờ râu, mới lùn phùn chớ đâu có dài.

Có lần ở dinh, Tư Lệnh nói với tôi:

– Đối với qua, ở đây không có bà con ruột thịt gì hết. Đừng thấy ai nhận bà con mà sợ.

Tối đến, Tư Lệnh đứng trước cửa trailer hay đi bách bộ trên đường tráng xi măng quanh sân sau. Tư Lệnh không uống rượu còn tôi trẻ tuổi, lu bù loại rượu nào cũng được nhưng tửu lượng cũng ít chớ không nhiều. Có lần, tôi và anh bạn Trung Úy Thành của Không Quân đến bar bà Năm Cần Thơ ở lộ 20 đường lên Trà Nóc làm đứt một chai Martel, say lúy túy ráng lái xe jeep về dinh. Vào cổng, tôi sợ Tư Lệnh đứng hóng mát bắt gặp, tôi tắc đèn chạy vào mặc dù ở cổng có hai ngọn đèn chiếu sáng nơi Quân Cảnh đứng gác, bất cẩn, xe đụng vào góc cổng bị móp đầu và bể đèn trước. Sáng hôm sau, tài xế đem qua Tổng Hành Dinh nhờ ban Quân Xa sửa gấp, chiều về thấy đẹp như xưa. Không biết Tư Lệnh có biết chuyện này hay không, nhưng không thấy ông la rầy gì cả.

Có một lần Tư Lệnh đi thăm một tiểu đoàn của Trung Đoàn 12 đang đánh nhau với VC ở Long Khốt sát biên giới Tiểu Khu Kiến Tường với Kampuchea. Tư Lệnh đáp trực thăng xuống thăm đơn vị trong lúc VC đang pháo kích bằng hỏa tiễn 122 ly cách đơn vị không xa. Vị tiểu đoàn trưởng thấy vậy đến gần tôi nói:

– Danh cho trực thăng về phi trường Mộc Hóa đậu, chừng nào xong gọi đến rước Tư Lệnh. Ở đây nguy hiểm quá, rủi 122 ly nổ trúng thì chết tao.

– Vâng để tôi trình Tư Lệnh.

Tôi đến gần Tư Lệnh và nói:

– Trình Thiếu Tướng, em cho trực thăng về phi trường Mộc Hóa, chừng nào xong em gọi lên rước.

Thiếu Tướng trầm ngâm không trả lời. Một lúc sau, vị tiểu đoàn trưởng lại thúc tiếp:

– Pháo nổ gần quá, nguy hiểm, Danh cho trực thăng về Mộc Hóa đi.

Một lần nữa, tôi đến gần bên Thiếu Tướng nhỏ giọng nói:

– Trình Thiếu Tướng, em cho trực thăng về …..

Nói chưa hết câu, Tư Lệnh xoay qua hướng tôi và nghiêm nét mặt nói:

– Lẩm cẩm hoài! Lẩm cẩm hoài!

Tôi cụt hứng tiu nghỉu không dám nói gì thêm. Ở lại thăm đơn vị trực thuộc trong khi pháo địch nổ bên cạnh hơn 30 phút, Tư Lệnh mới cho trực thăng cất cánh về Cần Thơ.

Vào một buổi tối ở tư dinh, Tư Lệnh đến bên hồ cá đặt trong phòng ăn. Nhìn những con cá tung tăng bơi lội, trồi lên lặn xuống. Trong hồ có những tháp nhỏ, những bông hoa đá, đá hoa, đá trứng, những con cá kiểng tha hồ bơi lội. Bất chợt Tư Lệnh quay qua hỏi tôi:

– Danh, những con cá thích cái tháp đó sao nó chun vô hoài vậy?

Tôi vừa cười vừa nói:

– Dạ, em không rỏ, chắc nó thích mới chui vào đó.

Rồi tôi qua phòng thuyết trình gọi Trung Tâm Hành Quân-Quân Đoàn, hỏi tình hình tổng quát. Lúc sau, Tư Lệnh cũng đến kề bên và hỏi tôi:

– Tình hình có gì lạ không?

– Dạ không có.

Tư Lệnh ngước nhìn bản đồ Vùng 4 treo trên tường, đi tới đi lui, rồi đến gần bàn làm việc của tôi hỏi:

– Danh trung úy bao lâu rồi?

Thấy Tư Lệnh vui, tôi trả lời và nói:

– Em được trên hai năm. Thiếu Tướng cho em lên Đại Úy?

Tư Lệnh vui vẻ, mỉm cười và nói:

– Được rồi.

Xong Tư Lệnh hỏi tiếp:

– Danh có quen Thu em của Thông?

Bất chợt Tư Lệnh hỏi, tôi ngẩn người một chút và nhớ lại đã 3 năm qua:

– Dạ em có biết Thu nhưng không thân lắm vì năm 1971 em và anh Thông, anh của Thu đã học chung khóa 37/71 Tình Báo Căn Bản Cây Mai ở Chợ Lớn. Em có đến nhà Bác (mẹ anh Thông) vài lần, ở gần rạp hát Phạm Ngũ Lão.

Có lần ở tư dinh, Tư Lệnh ở trong trailer bấm speaker gọi tôi. Tôi không có mặt ở đây, nghe trung sĩ Hộ nói lại:

– Thiếu Tướng gọi phone gặp ông thầy, nhưng em trả lời ông không có ở đây.

Nghe vậy, tôi đến bấm ngược phone gọi lại Tư Lệnh, bấm hoài sao không thấy trả lời, một chốc Tư Lệnh nói:

– Có gì đó?

– Dạ lúc nãy Thiếu Tướng gọi em.

Tư Lệnh ôn tồn trả lời:

– Lúc nãy có gọi nhưng bây giờ không cần, phone khi nào tôi gọi ra chứ đừng gọi vào.

– Dạ.

Có lần ở phòng làm việc Tùy Viên, vào khoảng 6 giờ chiều Tư Lệnh chưa về tư dinh, Thiếu Tá Đức đề nghị dạy tôi nhảy đầm. Trước Thiếu Tá Đức dạy tôi điệu slow, điệu này hơi khó chuyển qua điệu Cha Cha Cha. Điệu này dễ hơn nên tôi đang nhún nhảy dượt lại, còn Thiếu Tá Đức cũng nhảy tới nhảy lui và đếm 1-2-3-4 giữ nhịp cho tôi. Bất chợt, Tư Lệnh hé cửa nhìn vào vui vẻ gọi:

– Thôi về chứ nhảy hoài.

Chắc Tư Lệnh đứng ngoài cửa hơi lâu thấy tôi không ra mới gọi.

– Dạ.

Tôi vội xách cặp táp ra xe về. Ra xe Tư Lệnh hỏi:

– Thiếu Tá Đức dạy nhảy đầm?

– Dạ.

– Danh không biết hả? Nhảy được chưa?

Tôi nói:

– Dạ em đi lội đâu biết nhảy đầm. Lúc còn học ở quân trường Thủ Đức đâu có dạy nhảy đầm. Nghe nói ở trường Vỏ Bị Đà Lạt  có dạy nhảy đầm phải không Thiếu Tướng?

– Có dạy.

Tóm lại trong suốt thời gian sống và làm việc với Thiếu Tướng, ông xem tôi như người nhà, người con trong gia đình, không bao giờ la rầy hay nặng tiếng.

Tháng 4 năm 1975

Tình hình chung vào tháng 3 năm 1975 rất căng thẳng. Vùng 1, vùng 2 đang đánh lớn còn Vùng 3 và 4 vẫn còn nguyên vẹn. Tư Lệnh đi họp liên tục ở Tổng Tham Mưu, ở dinh Độc Lập gặp Tổng Thống, lúc ở dinh phó Tổng Thống. Thời gian còn lại, Tư Lệnh thường đến các Tiểu Khu và Sư Đoàn nhưng đến nhiều nhất là tiểu khu Long An, Định Tường, Kiến Tường và Châu Đốc. Vào đầu tháng 4, VC tấn công mạnh, nhằm vào quốc lộ 4 thuộc hai tiểu khu Định Tường và Long An. Sư Đoàn 7 Bộ Binh chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Định Tường còn Sư Đoàn 22 Bộ Binh rút từ Vùng 2 về chịu trách nhiệm khu vực tiểu khu Long An. Vào buổi trưa Tư Lệnh đến tiểu khu Long An để biết tình hình địch, VC đã pháo rớt một quả hỏa tiễn 122 ly trên giữa cầu Long An nhưng không gây thiệt hại gì. Địch càng ngày càng tấn công mạnh vào quốc lộ 4, Tư Lệnh ngày đêm đến các đơn vị hay gọi điện thoại khích lệ tinh thần chiến đấu, không để mất vị trí hay bỏ chạy nên VC không chiếm được một vị trí nào cả.

Có một đêm, địch pháo kích trên 10 hỏa tiễn 122 ly vào thành phố Cần Thơ, mục tiêu chính là Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn IV và tư dinh Tư Lệnh. Vị trí pháo hướng Đông chi khu Bình Minh thuộc tiểu khu Vĩnh Long, bay qua dinh Tư Lệnh rớt bên xóm nhà đèn cách dinh độ 300 thước, kết quả tổn thất nhẹ về phía dân chúng.

Tình hình càng ngày càng căng thẳng, dân chúng di tản bằng tàu thủy hay máy bay có nhiều chuyến chở về Quân Đoàn IV đổ dân xuống vùng Tri Tôn, Sa Đéc. Trong lúc này, công việc của Tư Lệnh rối bời, lớp lo phòng thủ, lớp lo thăm viếng an ủi dân đã di tản từ vùng ngoại ô. Thiếu Tướng ra lệnh các tiểu khu ra sức cứu trợ nạn nhân chiến cuộc. Tư Lệnh chỉ thị các đơn vị sẵn sàng chiến đấu bảo vệ Quân Đoàn IV và nhất là giữ Quốc Lộ 4 đừng để VC cắt đứt. Tư Lệnh đặc biệt đến thăm tiểu khu Châu Đốc, đi bộ thăm vòng đai phòng thủ quy mô của tiểu khu. Những ngày kế tiếp họp liên tục với các Tiểu Khu và Sư Đoàn. Trong lúc tình hình hỗn loạn, nhiều máy bay trực thăng từ hướng Sài Gòn lũ lược bay về phi trường Trà Nóc và một số bay ra hướng Phú Quốc.

Sáng ngày 24 tháng 4, Tư Lệnh đi họp ở bộ Tổng Tham Mưu, nội dung tôi không rõ. Sáng 25 tháng 4, họp ở tiểu khu Định Tường, có Tướng Trưởng tham dự. Ngày 27 tháng 4, Tư Lệnh ra lệnh giới nghiêm, các đơn vị ở thế sẵn sàng chiến đấu, không được rời vị trí. Sáng 28 tháng 4, cố vấn Mỹ có đến văn phòng Tư Lệnh để nói chuyện, nội dung tôi không rõ. Ngày 29, Tư Lệnh vẫn đi bay, buổi chiều 29 về họp với Tướng Mạch Văn Trường ở Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn 21 Bộ Binh ở gần phi trường Trà Nóc. Trên đường về, tôi thấy dân chúng lao xao, nhớn nhác chạy lung tung đi lượm đồ của tòa Tổng Lãnh Sự Mỹ rút đi bỏ lại, giấy liệng đầy mặt đại lộ Hòa Bình, quần áo, lon, ly, đồ hộp lon bia vất tứ tung.

Áp lực địch vẫn nặng ở Quốc Lộ 4, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp Tư Lệnh báo cáo tình hình nguy ngập và xin giật sập cầu Long An. Tư  Lệnh không cho và ra lệnh các đơn vị tiếp tục phòng thủ. Tư Lệnh viết Nhật Lệnh đưa Thiếu Tá Đức, Chánh Văn Phòng chuyển đến phòng Chiến Tranh Chính Trị để đọc trên đài phát thanh và truyền hình để trấn an dân chúng và anh em binh sĩ. Vào buổi chiều, tôi thấy được hình Tư Lệnh và kèm theo là Nhật Lệnh, nội dung ngắn gọn trấn an dân chúng không được bạo động còn việc tử thủ không được đọc trên đài truyền hình. Sau khi thấy đọc, Tư Lệnh buồn buồn chấp tay về phía sau đi tới đi lui trong phòng làm việc ở Bộ Tư Lệnh. Sau đó, Tướng Hưng, Tư Lệnh Phó vào gặp Tư Lệnh (Nội dung cuộc nói chuyện tôi không rỏ). Về sau, tôi được biết nội dung bản Thông Cáo đã bị sửa lại, không chính xác như lời Tư Lệnh đã viết.

Đêm 29, VC tấn công mạnh ở phi trường thuộc tiểu khu Vĩnh Bình. Địch đã nhiều lần đánh rát vào phi trường nhưng bị đẩy lui và thiệt hại nặng. Tư Lệnh bảo tôi gọi Trung Tá Sơn, Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Vĩnh Bình để ông nói chuyện. Trong lúc VC tấn công mạnh vào phi trường, tiểu khu xin máy bay yểm trợ nhưng không có máy bay.

Sáng sớm 30 tháng 4, Tư Lệnh bay xuống họp ở tiểu khu Định Tường. Cuộc họp chấm dứt nhanh chóng xong ông bay về Cần Thơ. Thành phố Cần Thơ sáng 30 tháng 4  rất vắng vẻ, dân chúng và xe cộ thưa thớt đi lại. Mặc dầu địch tăng cường những cuộc tấn công mạnh và tình hình chung đang bất lợi cho Chính Phủ Việt Nam Cọng Hòa, tinh thần chiến đấu của binh sĩ thuộc Quân Đoàn 4 vẫn hăng say, các đơn vị không nơi nào bỏ vị trí, không nơi nào bị địch chiếm đóng.

Bất chợt, tiếng của Tổng Thống Dương Văn Minh vang lên trên đài phát thanh. Ông tuyên bố đầu hàng vô điều kiện với VC và nói:

– Tất cả các đơn vị trưởng và anh em binh sĩ ở yên tại chỗ, bàn giao vị trí cho Chính Phủ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.

Tôi vội xô cửa vào phòng làm việc của Tư Lệnh và nói:

– Tổng Thống Dương Văn Minh đã ……..

Tôi nói chưa hết câu, Tư Lệnh nhỏ nhẹ cắt ngang lời tôi:

– Qua đã nghe rồi.

Tôi lặng người chầm chậm bước ra. Trong lúc này, nhiều lần Tư Lệnh Phó liên tục đi vào cửa chánh gặp Tư Lệnh. Qua điện thoại, Đại Tá Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Long An xin gặp gấp Tư Lệnh, lần thứ hai, đại tá xin giật sập cầu Long An để cắt đường VC chuyển về Vùng 4. Tư Lệnh bảo tôi chuyển lời, cầu để yên không được phá sập.

Khoảng gần trưa, tôi được báo cáo là Thiếu Tá Chánh Văn Phòng rời văn phòng bỏ đi với Đại Tá Tỉnh Trưởng kiêm Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh cùng một số sĩ quan, lộ trình sông Hậu ra biển. Tôi vội xuống hầm, nơi làm việc mới của Tư Lệnh để báo cáo cho ông rỏ. Căn hầm này là phòng làm việc thứ hai của Tư Lệnh ngay dưới chân phòng làm việc chính thức, được xây lúc Vùng 1 và 2 đang xảy ra việc đánh lớn. Hầm này, rộng và cao, thiết trí giống như phòng làm việc ở tầng trên, có lối đi xuống từ văn phòng Tư Lệnh. Tư Lệnh thấy tôi theo thường lệ kéo lệch cặp mắt kiếng xuống và hỏi:

– Có gì không?

– Trình Thiếu Tướng, Thiếu Tá Chánh Văn Phòng và Đại Tá Tỉnh Trưởng Phong Dinh đã bỏ đi cùng với một số sĩ quan bằng tàu theo sông Hậu.

Tư Lệnh điềm nhiên không giận và nói:

– Đi hả! Đi làm chi vậy.

Nói xong, Tư Lệnh tiếp tục xem giấy tờ, thái độ trầm tĩnh như không có gì xảy ra. Tôi bước lên cầu thang về phòng làm việc của mình, lúc này tôi mở radio 24/24 để theo dõi tình hình ở Sài Gòn. Tư Lệnh bấm chuông gọi tôi vào và bảo:

– Gọi Đại Tá Thiên gặp tôi.

– Dạ.

Rồi Tư Lệnh chỉ định Đại Tá Thiên nhận chức vụ Tiểu Khu Trưởng Tiểu Khu Phong Dinh kể từ sáng hôm đó.

Trưa 30 tháng 4, sau khi đi ăn cơm trưa ở câu lạc bộ Cửu Long về, Tư  Lệnh đi thẳng vào phòng làm việc. Qua lỗ kiếng nhỏ thông qua phòng làm việc, tôi thấy Tư Lệnh đang soạn một số giấy tờ để trên bàn. Tư Lệnh nhìn từ trang một, rồi từ từ xé bỏ vào sọt rác. Khoảng 2 giờ chiều, Tư Lệnh xuống phòng làm việc dưới hầm. Tôi không biết Tư Lệnh làm gì bởi vì phòng làm việc này không có nơi nhìn thấy Tư Lệnh được. Tư Lệnh bấm loa gọi tôi:

– Danh xuống đây tôi bảo.

Tôi vào phòng trên đi theo cầu thang xuống gặp Tư Lệnh. Ông đang ngồi ở sofa nhìn về hướng bản đồ Vùng 4, thấy tôi đến Tư lệnh nói:

– Danh tháo bỏ những ranh giới, những mũi tên trên bản đồ (Những đường ranh và những mũi tên làm bằng những băng keo màu xanh đỏ).

Tôi từ từ tháo bỏ, nhìn tổng quát, tôi thấy bản đồ chia ra từng ô nhỏ, những mũi tên xanh đỏ châu đầu vào nhau, những răng bừa màu xanh với những mũi tên đỏ chĩa vào (có thể đây là bản đồ về Hành Quân Mật theo như tin đồn). Tôi tháo gỡ tất cả những băng keo bỏ vào sọt rát, tháo xong tôi nói:

– Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.

– Được rồi.

Tư Lệnh buồn buồn theo cầu thang lên phòng làm việc tầng trên, tôi chầm chậm bước theo Tư Lệnh và ra phòng làm việc của tôi. Độ 10 phút sau, Tư Lệnh bấm loa gọi tiếp:

– Danh vào tôi bảo.

– Dạ.

Tôi xô cửa đi nhanh vào, Tư Lệnh nhìn tôi nói:

– Tháo bỏ những vị trí trên bản đồ này nữa.

– Dạ.

Tôi đang lúi húi tháo và liếc nhìn, tôi thấy Tư Lệnh chấp tay về phía sau chầm chậm đi tới, đi lui. Tôi tháo xong:

– Trình Thiếu Tướng, em đã tháo xong.

Nói về phòng làm việc của Tư Lệnh, trước khi vào phải qua ba vọng gác: Từ ngoài vào, vọng gác 1 ngoài đầu đường trước khi vào phòng chờ đợi. Vọng gác 2 ngay phòng chờ đợi sát cổng Bộ Tư Lệnh. Vọng gác 3 lên tam cấp trước cửa vào phòng làm việc của Tư Lệnh. Vào khoảng 4 giờ chiều, Quân Cảnh ở phòng chờ đợi (vọng gác 2) lên gặp tôi nói:

– Có hai ông VC mặc đồ thường phục, trên dưới 50 tuổi xin vào gặp Tư Lệnh.

Tôi nói:

– Anh bảo họ chờ một chút để tôi trình Tư Lệnh.

Tôi gõ cửa vào gặp Tư Lệnh và nói:

– Trình Thiếu Tướng, có hai VC mặc thường phục xin vào gặp Thiếu Tướng.

– Được, mời họ vào.

Tôi xuống phòng khách gặp hai VC, tôi thấy hai người đang chờ ở đây, một người cao ốm nước da trắng, tóc hoa râm độ trên 50 tuổi, ăn mặc thường phục giống như thầy giáo, một người hơi thấp, nước da ngâm đen cũng mặc thường phục, họ đi tay không, không mang giấy tờ và vũ khí. Tôi hướng dẫn hai người này lên bậc tam cấp vào phòng làm việc của Tư Lệnh. Tư Lệnh chào hỏi và mời ngồi sofa, tôi bước nhanh ra phòng làm việc gọi người hạ sĩ quan mang trà vào. Tôi mang vội khẩu súng colt và lấy khẩu AR-15 lên đạn và bước nhanh vào phòng làm việc Tư Lệnh. Tôi đứng sau hai ông VC này cách khoảng 4 thước với tư thế sẵn sàng, tôi sợ hai ông này ám sát Tư Lệnh, tay súng sẵn sàng nếu hai ông này có hành vi lạ là tôi nổ súng bắn liền. Tư Lệnh ngồi đối diện với họ, đang nói chuyện rất nhỏ tôi không nghe được. Bất chợt Tư Lệnh ngước lên, nhìn tôi và bảo:

– Danh đi ra ngoài để tôi nói chuyện.

Tôi ấp úng trả lời:

– Dạ … em ở đây với Thiếu Tướng.

– Được rồi không sao đâu! Em ra ngoài đi.

– Dạ.

Tôi ra lại phòng làm việc, súng vẫn thế thủ, mắt nhìn về hướng theo kẽ hở của cánh cửa đang hé mở. Tôi thấy Tư Lệnh với họ vừa uống trà vừa nói chuyện. Cuộc nói chuyện kéo dài trên 10 phút. Tư Lệnh và hai người chỉ nói chuyện không đưa ra sổ sách hay giấy tờ gì cả. Hai người đứng dậy giã từ, Tư Lệnh bắt tay, rồi hai người theo cửa trước xuống bậc tam cấp ra về. Tư Lệnh ngồi buồn, kế đứng dậy đi tới đi lui như lúc trước, thời gian này rất căng thẳng và ngộp thở. Tôi suy nghĩ lung tung, nếu VC chiếm được Vùng 4 thì Tư Lệnh sẽ ra sao? tại sao Tư Lệnh vẫn bình thản như không có chuyện gì xảy ra, bây giờ còn đi ngoại quốc được không? Còn máy bay không? Hay là Thiếu Tướng có người thân phía bên kia? Những câu tự hỏi đã vây chặt trong tôi. Bất chợt tiếng la ó vang dậy ở ngoài đường. Đoàn người rất đông chạy ngang qua cửa Bộ Tư Lệnh, chạy dài xuống cầu Cái Khế. Họ vừa chạy vừa la hét vui mừng, thì ra đó là những người tù vừa được thoát trại giam, tôi thò đầu ra cửa sổ nhìn ra ngoài đường, tôi thấy bọn tù trên dưới 50 người, quần áo xốc xếch, có người mặc quần cụt, có người cởi trần vừa chạy vừa nhảy lên vừa reo hò vui vẻ nhưng họ không phá phách.

Khoảng 6 giờ chiều, điện thoại có tiếng lạ. Thông thường khi có chuông reo, tôi thường nói:

– Tôi Trung Úy Danh, Tùy Viên Tư Lệnh, xin lỗi ai đầu dây.

Ở đầu dây xưng cấp bậc tên họ chức vụ rồi nói nhu cầu. Đàng này sau khi tôi nói, bên kia đầu dây đáp:

– A lô ai đó!A lô ai đó!

Nghe tiếng lạ không quen thuộc, tôi gác máy không trả lời. Còn đường dây Hotline trực tiếp của Tư Lệnh tôi không rỏ. Như vậy VC đã vào đường dây điện thoại. Trong lúc rối rắm, tôi qua phòng Tư Lệnh Phó gặp Trung Úy Nghĩa, tùy viên Tư Lệnh Phó. Lúc gặp anh Nghĩa, tôi nói tình trạng điện thoại đã bị VC chiếm và tôi đã nghe có tiếng lạ. Tôi đề nghị, nếu Tư Lệnh và Tư Lệnh Phó muốn nói chuyện với nhau mình phải dùng máy PRC-25, đồng thời tôi viết một loạt tần số để sử dụng máy PRC-25 và đánh số thứ tự A, B, C, D … để Tư Lệnh nói chuyện kín hơn.

Khoảng 6 giờ rưởi, Tư Lệnh sửa soạn về tư dinh, Thiếu Tướng nói với tôi:

– Danh chuẩn bị xe để đi thăm bệnh viện Phan Thanh Giản.

– Dạ.

Xe chở Tư Lệnh từ văn phòng đi thẳng vào bệnh viện. Tư Lệnh đến từng giường hỏi thăm thương binh, kẻ nằm người ngồi, băng tay băng đầu, có người mất một chân, chân còn lại quấn dây băng treo lên trên giá. Tư Lệnh đến bên thương binh này hỏi:

– Em tên gì?

– Dạ em tên …

– Em ở đơn vị nào? Có khỏe không?

– Dạ khỏe, em là Địa Phương Quân ở tiểu khu Vĩnh Bình.

Tư Lệnh nói tiếp:

– Em nằm nghỉ dưỡng bệnh.

Tư Lệnh đi từ đầu phòng đến cuối phòng hỏi thăm từng bệnh nhân, rồi Tư Lệnh đi qua dãy kế bên và tiếp tục. Hơn một giờ buồn tẻ và nặng nề chầm chậm trôi qua. Gần giường một thương binh, anh cụt hai chân, vải băng trắng xóa, máu còn rịn ra lóm đóm đỏ cuối phần chân đã mất. Tư Lệnh đứng sát bên và hỏi:

– Vết thương của em đã lành chưa?

– Thưa Thiếu Tướng, vết thương mới mấy ngày còn ra máu chưa lành.

Với nét mặt buồn buồn, Tư Lệnh nhíu mày lại làm cặp mắt kiếng đen lay động. Tư Lệnh chưa kịp nói, anh thương binh này bất chợt chụp tay Tư Lệnh mếu máo:

– Thiếu Tướng đừng bỏ tụi em nhe Thiếu Tướng.

– Qua không bỏ các em đâu! Qua ở lại với các em.

Qua ánh đèn của bệnh viện, tôi thấy Tư Lệnh đưa tay nâng sửa cặp mắt kính đen và hai giọt nước mắt từ từ chảy lăn dài trên khuôn mặt đau thương của ông. Tư Lệnh cố nén xúc động nhưng người đã khóc, khóc không thành tiếng và những giọt nước mắt tự nhiên tuôn trào. Tư Lệnh vịn vai người thương binh nói trong nghẹn ngào:

– Em cố gắng điều trị … có qua ở đây.

Tư Lệnh bước hơi nhanh ra cửa bệnh viện, ra sân Tư Lệnh dừng lại quay mắt nhìn lại bệnh viện. Tư Lệnh đứng yên bất động khoảng một phút rồi bước vội ra xe không nói gì cả. Trên suốt trên đường về tư dinh, Tư Lệnh không nói một lời nào khiến tôi cảm thấy sự im lặng quá nặng nề.

Về đến tư dinh, tôi thấy Quân Cảnh vẫn còn gác ở cổng, tôi đi một vòng xung quanh, những vọng gác vẫn còn người gác, tuy nhiên tôi thấy ít lính đi tới đi lui như mọi hôm, có lẻ họ đã bỏ đi bớt. Sau khi cất khẩu Colt đeo trên người, tôi xuống nhà bếp gặp trung sĩ Hộ quản gia xem hôm nay anh nấu món gì vì hôm nay thăm bệnh viện về trễ. Gặp anh Hộ, tôi nói:

– Anh Hộ bắt một con gà luộc để Thiếu Tướng dùng.

– Dạ con gà nào Trung Úy?

– Đàn gà nòi Thiếu Tướng nuôi đó! Anh chọn một con.

Lúc này trên 8 giờ tối, phía Cồn Cát cách một con sông phía sau dinh, thỉnh thoảng VC bắn bổng những loạt AK đạn lửa bay đỏ xé màn đêm đen nghịt, càng lúc VC bắn càng nhiều. Con gà, anh Hộ làm và nấu xong, đích thân tôi ra sau trailer mời Thiếu Tướng vào ăn cơm.  Tư Lệnh ngồi vào bàn ăn và nói:

– Danh ngồi ăn cơm cho vui.

Đi các đơn vị hay tiểu khu, tôi ăn cơm chung với Tư Lệnh, còn ở dinh Tư Lệnh thường ăn cơm một mình, vừa ăn cơm vừa xem truyền hình rất lâu. Hôm nay, lần đầu tiên Tư Lệnh gọi tôi ăn cơm chung ở dinh, tôi thấy có điều gì khác thường, hơn nữa sự việc xảy ra tùm lum bụng dạ đâu mà ăn với uống. Tư Lệnh thấy thịt gà xé nhỏ, còn nước luộc gà làm canh, Tư Lệnh hỏi:

– Thịt gà đâu vậy?

Tôi gượng cười nói:

– Dạ mấy con gà Thiếu Tướng nuôi ở sau, em bảo anh Hộ làm một con để Thiếu Tướng dùng.

– Làm thịt chi vậy, ăn như vậy được rồi. Thôi ăn đi kẻo nguội.

Tư Lệnh không ăn cơm, chỉ dùng vài muỗng canh, vài miếng thịt gà. Còn tôi thì no hơi, ăn hết vô, qua loa vài miếng vội buông đũa và nói:

– Dạ em ăn xong, Thiếu Tướng dùng tiếp.

Thiếu Tướng nói:

– Ăn tiếp, sao Danh ăn ít vậy, thịt còn nhiều.

Vừa nói, Tư Lệnh gắp bỏ cho tôi một miếng thịt xé phay dài. Trời! ăn gì nổi, bình thường ăn thấy ngon bây giờ ăn thịt gà cũng như nhai gỗ mục, miệng đắng nghét, tôi cố gắng nuốt trôi hết miếng thịt này, xong xin phép Thiếu Tướng ra phòng làm việc.

Nhìn qua cửa sổ, tôi thấy vắng lạnh, một sự vắng vẻ đáng sợ, một số anh em quân  nhân đã bỏ đi, số còn lại một vài người đã mặc thường phục, một số vẫn còn mặc đồ lính. Còn hướng phòng Trung Úy Hỉ, sĩ quan bảo vệ cũng vắng ngắt, chắc có lẻ anh đã bỏ đi (nhà Trung Úy Hỉ ở gần phường An Thới). Còn Trung Úy Việt cùng vợ 2 con vẫn còn ở lại nhà cạnh bờ sông. Việt và tôi gặp nhau chỉ biết lắc đầu, rồi Tư Lệnh đến bàn làm việc của tôi nói:

– Có liên lạc với Tướng Hưng không hè?

– Dạ điện thoại bị mất liên lạc, có tiếng lạ em không dám gọi.

Tôi nói tiếp:

– Dạ, Thiếu Tướng muốn nói chuyện với Tư Lệnh Phó?

– Qua muốn nói chuyện.

Tôi nói với Tư Lệnh:

– Vào lúc 5 giờ chiều, hệ thống điện thoại có tiếng lạ, em có cho anh Nghĩa, tùy viên Tư Lệnh Phó một số tần số PRC-25 để lúc cần Thiếu Tướng nói chuyện, nhưng bây giờ em không liên lạc được.

Tôi nói tiếp:

– Để em đi lại dinh Tư Lệnh Phó nói mở máy PRC-25 để Thiếu Tướng nói chuyện.

Tư Lệnh làm thinh, tôi bảo anh Thông tài xế lấy xe jeep chở đi từ tư dinh Tư Lệnh đến dinh Tư Lệnh Phó đối diện dinh Tỉnh Trưởng Phong Dinh. Sắp sửa rẻ phải vào dinh Tư Lệnh Phó thì thấy phía bên trái trước dinh Tỉnh Trưởng có một VC với khẩu AK ở tư thế sẵn sàng, để súng cạnh sườn, mũi súng chĩa lên trời. Anh Thông tài xế kêu tôi và chỉ:

– VC đã vô tới rồi.

Tôi bảo tài xế:

– Quay trở lại đi không ổn rồi.

Tài xế lái nhanh về dinh Tư Lệnh và đóng cửa dinh lại. Tôi xuống xe bảo các anh em còn lại kéo khoảng 4-5 vòng kẽm gai rào chặn từ cổng vào hướng cột cờ, rào xong tôi vào trailer báo Tư Lệnh:

– Trình Tư Lệnh, VC đã vào đến dinh Tỉnh Trưởng. Em thấy có một VC cầm súng AK ở trước dinh Tỉnh Trưởng.

Tư Lệnh làm thinh không nói gì cả, khoảng hai phút sau, tôi nói với Thiếu Tướng:

– Em đi lần nữa, để Thiếu Tướng nói chuyện với Tư Lệnh Phó.

Tư Lệnh nhỏ nhẹ nói:

– Thôi đừng đi coi chừng nó bắt.

– Dạ không sao!

Nói xong, tôi cởi bỏ áo lính, vẫn mặc quần lính mang giày với áo thun vội ra sân gọi anh tài xế:

– Anh Thông đâu đến tôi nhờ một chút.

Tôi la lên, không một tiếng trả lời. Anh Hộ quản gia nói:

– Em vừa thấy anh Thông ra cổng.

Anh đã bỏ đi rồi, bất chợt có một anh mà tôi quên cấp bậc và tên hỏi tôi:

– Trung Úy cần gì em giúp.

– Anh muốn đến dinh Tư Lệnh Phó.

– Được rồi để em đưa ông thầy đi.

Anh lính lấy chiếc Honda màu đỏ chạy đến và nói:

– Đi Honda tiện hơn Trung Úy.

Rồi anh chở tôi về hướng dinh Tư Lệnh Phó, rẻ vào dinh anh đậu cách đây khoảng 10 mét bên lề đường.

Dinh Tư Lệnh Phó, trước và sau có cổng ra vào bằng cửa sắt, xung quanh xây tường cao độ 2 mét. Cửa trước đối diện với dinh Tỉnh Trưởng, cửa sau quay ra mặt đường. Cửa trước và sau đều đóng và khóa chặt, từ cửa trước nhìn vào tôi đi sát hông tường bên phải, có một cây ổi mọc từ phía trong xòe nhánh phủ ra bên ngoài. Trong dinh im lặng không một tiếng động, tôi gọi lớn:

– Nghĩa ơi Nghĩa, Phúc ơi Phúc, tao là Danh.

Tôi gọi 4-5 lần nhưng vẫn thấy im lặng không có tiếng trả lời. Tôi linh cảm không ổn, tôi gọi tiếp và quay lại định trở về, tôi thầm nói không lẻ mình bỏ cuộc. Tôi nói qua với anh lính đậu bên kia đường:

– Anh ráng chờ tôi một chút.

Bất chợt có tiếng nổ đùng, có tiếng xôn xao, tiếp theo là những tiếng khóc. Tôi chạy lại vách tường có nhánh cây ổi xòe ra, tôi quyết định đu nhánh ổi này nhảy vào, tay phải níu nhánh ổi, tay trái vịn vào vách tường miệng liên tục la lớn:

– Tôi Trung Úy Danh đừng bắn, tôi Trung Úy Danh đừng bắn.

Miệng la tay níu kéo leo vào, tôi lên được đỉnh tường theo đà cây ổi tuộc xuống đất. Vừa gặp tôi, anh Nghĩa vừa khóc vừa nói:

– Chuẩn Tướng tự sát chết rồi Danh.

– Lúc nào?

– Mới đây, chắc có lẽ hồi nãy Danh nghe tiếng súng nổ.

Anh nói tiếp:

– Chuẩn Tướng vừa tập họp anh em binh sĩ lại, dặn dò lần cuối cùng, rồi vào phòng đóng cửa lại và bắn vào ngực tự sát. Bà Tướng chạy theo ngăn không kịp.

Tôi đến cửa, thấy cửa phòng hé mở, tôi xô nhẹ cánh cửa bước vào, tôi thấy tướng Hưng nằm bất động trên giường, bà Hưng đang ôm trầm Tư Lệnh Phó khóc, còn hai đứa con nhỏ đứng kế bên vô tư lự như không có gì xảy ra, kế bên những anh lính đang sụt sùi khóc. Tôi quay ra nói với anh Nghĩa:

– Thôi Danh đi về.

Tôi không nói anh Nghĩa mở tần số máy PRC-25 gì nữa, chuẩn tướng đã chết rồi. Tôi tình hình rối ren, bận rộn, tôi không nhờ mở cửa, tôi trèo cây ổi lên đầu tường rồi nhảy ra ngoài. Xuống đến mặt đất, tôi suy nghĩ lung tung về cái chết của Tư Lệnh Phó. Nếu Tư Lệnh hay được thì ra sao? Tôi vừa suy nghĩ vừa cúi đầu bước đi đến anh lính đậu xe Honda lúc nãy. Trời! xe và người biến đâu mất, tôi đảo mắt nhìn quanh vẫn không thấy, chắc anh bỏ đi rồi, tôi không trách anh, anh đã giúp tôi như vậy cũng đủ lắm rồi. Tôi lội bộ từ đây cặp theo lộ Hòa Bình đi thẳng về dinh, trên đường phố vắng hoe không một bóng người lai vãng, chỉ có những mảnh giấy vụn vất bừa bãi đầy đường, thỉnh thoảng bay tứ tung theo cơn gió.

Tôi đi bộ mất trên 15 phút về đến dinh, anh lính vẹt từng vòng kẽm gai tôi đi vào rồi kéo lại vị trí củ. Tôi đi nhanh về phía sau vào trailer để trình Tư Lệnh sự việc đã xảy ra, vừa thấy Tư Lệnh tôi vội vã nói:

– Trình Thiếu Tướng em đến dinh Tư Lệnh Phó, đến nơi ông vừa tự sát chết, Tư Lệnh Phó đã bắn vào ngực.

– Tướng Hưng chết hả? Chết làm chi?

Tư Lệnh chỉ nói vậy. Tôi trở ra về nơi làm việc, ngồi trên sofa suy nghĩ liên miên. Tư Lệnh Phó đã tự sát chắc Tư Lệnh sẽ tự sát theo. Tôi xuống nhà gặp Trung Úy Việt và nói Tư Lệnh Phó đã tự sát còn Thiếu Tướng không biết thế nào? Làm sao bây giờ? Hai đứa tôi không tìm ra câu trả lời.

Lúc này khoảng 11 giờ đêm, vì lo lắng cho Tư Lệnh nên cứ khoảng 15 hay 20 phút tôi vào trailer một lần. Mỗi lần vào liếc nhìn, tôi thấy Tư Lệnh nằm nghỉ nhưng giày vẫn còn mang, tôi lại đỡ lo phần nào. Lần khác vào, Tư Lệnh ngồi dậy đi về hướng tôi và hỏi:

– Có gì không?

– Em vào xem Thiếu Tướng có sai bảo gì không?

Tư Lệnh nói:

– Sao em không đi ngủ đi! khuya rồi.

Tôi thỏ thẻ nói:

– Trình Thiếu Tướng, nếu VC vào dinh tụi em đánh không Thiếu Tướng?

– Thôi đừng đánh nhau, họ vào để tôi ra nói chuyện.

Tôi rời trailer đi ra ngoài. Khoảng 10 phút sau, Tư Lệnh ra phòng làm việc tôi đưa một gói hình chữ nhật dài độ 2 tấc, rộng 1 tấc, dầy 5 phân và nói:

– Danh cất tiền này dành để xài (có thể đây là tiền lương của Thiếu Tướng không dùng để dành).

Đưa gói giấy xong, Tư Lệnh đi vào trailer, tôi tò mò hé mở gói này, bên trong toàn bạc 500, tôi đoán chừng trên 400 ngàn đồng và tôi để vào ngăn kéo nơi bàn làm việc. Tôi tiếp tục rón rén vào trailer để quan sát, sợ Tư Lệnh tự sát.

Khoảng 12 giờ 30 khuya, Tư Lệnh ra gặp tôi nói:

– Sao Danh không đi ngủ? Thức cả đêm à.

– Dạ em ngủ không được.

Tư Lệnh móc từ trong túi ra một khẩu súng nhỏ, ngắn hơn gan tay và nói:

– Danh cất khẩu súng này dành để hộ thân.

Tôi nhận khẩu súng bỏ vào ngăn kéo chung với gói tiền lúc nãy. Tôi xuống nói chuyện với anh Việt và anh Hộ: “Thiếu Tướng đã cho tôi súng, không hiểu Tư Lệnh có ý định gì?” Chúng tôi bàn luận với nhau và có linh cảm là Thiếu Tướng đang sắp xếp một việc gì đó.

Khoảng sau 1 giờ sáng, anh lính gác hơ hải chạy vào gặp tôi:

– VC tự động mở cửa vào dinh.

– Anh bảo họ chờ tôi một chút.

Tôi vội vã vào trailer để gặp Tư Lệnh, tôi thấy Tư Lệnh nằm nghĩ. Tôi trình:

– Trình Thiếu Tướng, bọn VC đang vào dinh.

– Bảo họ chờ tôi ra nói chuyện.

Tôi đi nhanh ra trước cổng dinh, lúc bấy giờ tôi vẫn mặc áo thun, quần lính, mang giày. Gần đến cổng dinh, tôi thấy lố nhố 6-7 người đang vẹt kẽm gai đi vào hướng cửa dinh. Đến gần, tôi thấy 4 nam, 1 nữ có vấn đầu tóc lủng lẳng phía sau ót và một em bé độ 10 tuổi. Nam trang bị 1 khẩu AK, một người mang khẩu Carbin, một người mang súng lục (súng loại cảnh sát sử dụng) số còn lại tay không, không mang giấy tờ hay máy móc gì cả. Nhóm người này tuổi dưới 40, đến vòng kẽm gai thứ ba từ ngoài vào, còn hai vòng nửa từ cửa dinh ra, tôi vẹt kẽm gai và gặp họ tại đây. Một người trong nhóm quay qua hỏi tôi:

– Anh làm gì ở đây?

Tôi nói:

– Tôi làm quản gia.

Tôi nói trớ, không dám nói là tùy viên sợ bọn chúng bắn. Người mang khẩu AK hỏi tiếp:

– Anh cấp bậc gì?

– Tôi Trung Sĩ.

Bất chợt người mang AK lên đạn đưa mũi súng vào phía sườn tôi và nói:

– Đi.

Tôi lúc bấy giờ hồn phi phách tán, chết là cái chắc. Trong nhóm có người nói:

– Ở đây nó làm lớn không hà, tính nó đi.

Bọn chúng từ từ hướng vào cửa dinh, đến gần cột cờ, đứa trẻ con ôm chầm lấy khẩu súng đồng thời Pháp, súng đặt dưới chân cột cờ để làm kiểng, đứa trẻ reo lên:

– Súng ngộ và đẹp quá.

Chị bới tóc tiếp theo:

– Nhờ có dịp này mới được vào dinh Tướng.

Tôi nghe và thấy những việc trên cõi lòng se lại. Bất chợt, nhóm người này dừng lại, người mang khẩu AK hất mặt ra dấu tôi đi qua hướng nhà bếp, ngang qua phòng ngủ của tôi. Chết rồi, chắc bọn chúng bắn mình ở đây, tôi chầm chậm bước đi, đầu ngoái lại cửa vô dinh. Tôi thấy Tư Lệnh bước ra, đẩy nhẹ cánh cửa (cửa lưới chắn ruồi trước khi vào phòng làm việc). Bọn người này bảo tôi dừng lại, ba người bước vào phòng (một người tay không, một người mang khẩu B-38, một người mang khẩu Carbin). Số còn lại lảng vảng phía ngoài, người mang AK vẫn hướng súng về phía tôi. Khoảnh khắc, Trung Sĩ Hộ từ phòng Thiếu Tướng đang nói chuyện với VC chạy đến tôi nói:

– Thiếu Tướng bảo Trung Úy lấy thuốc lá hút.

Có cớ vào gặp Tư Lệnh, người mang AK bỏ thõng súng xuống, tôi lặng lẽ bước đi, nhưng sợ hãi nó đàng sau bắn tới. Vô sự, thế là thoát nạn, vào phòng tôi mở ngăn tủ lấy gói thuốc capstan đầu lọc mời Thiếu Tướng một điếu, 3 người mỗi người một điếu (Tư Lệnh hút thuốc 3 số 555 nhưng thỉnh thoảng hút thuốc capstan đầu lọc). Tôi thấy Tư Lệnh ngồi trên sofa băng dài, người tay không ngồi trên ghế nhỏ đối diện Tư Lệnh, người mang khẩu B-38 ngồi dưới sàn  nhà, tay cầm khẩu súng để trên đầu gối mũi súng hướng về phía Tư Lệnh, còn người mang khẩu carbin đứng ngay cửa phòng tư thế tác chiến.

Xong nhiệm vụ tôi bước ra ngoài, người mang AK vẫn ở thế tác chiến nhưng không để ý đến tôi nữa. Trên dưới mười phút nói chuyện, nhóm người này rời dinh ra về, tôi vào phòng thấy Tư Lệnh vừa đứng dậy bước ra ngoài với khuôn mặt buồn buồn, nhìn trên sofa tôi thấy điếu thuốc của Thiếu Tướng còn cháy dở dang, mới 1/3 điếu nằm trên sofa bốc khói làm lủng một lỗ nhỏ, tôi lấy vất đi. Cuộc nói chuyện này chỉ đơn phương, không có viết giấy tờ hay ký tên gì cả cũng không có máy móc khi hai bên gặp nhau. Tư Lệnh vào trailer nằm nghĩ, tôi vào lần nữa thấy Tư Lệnh nằm yên, chắc Tư Lệnh đã mệt. Trong suốt đêm 30 tháng 4, Tư Lệnh và tôi hầu như không ngủ, khoảng 3 giờ sáng, tôi rón rén vào phòng Tư Lệnh lần nữa, thấy Tư Lệnh đang nằm yên không biết ngủ hay thức vì trong lúc nằm nghĩ vẫn mang cặp kính đen. Tôi cũng quá mệt ra phòng làm việc ngả lưng trên sofa một chút, vang vang bên tai những loạt AK nổ liên hồi, chắc đối phương nổ súng mừng chiến thắng.

Trong lúc nửa tỉnh nửa mê bổng nghe tiếng chuông “boong, boong, boong”, tôi bật mình ngồi dậy, nhìn đồng hồ thấy hơn 6 giờ, qua đến bàn Phật, tôi thấy 3 cây nhang Tư Lệnh đã đốt và cắm sẵn trên lư hương khói bay nghi ngút. Tư Lệnh mặc quân phục hẳn hoi đang nghiêng mình xá Phật. Tôi vội đi nhanh làm vệ sinh cá nhân, xong mặc quân phục vào và đến đứng nghiêm chào Thiếu Tướng. Thiếu Tướng đưa tay lên cỡ tầm ngực đáp lại và hỏi:

– Đêm qua, Danh ngủ được không?

– Mệt quá em nằm nghĩ một chút.

Tư Lệnh vẫn ngồi trên sofa nơi phòng thờ Phật, tôi đi sang qua phòng làm việc. Một lúc sau, Tư Lệnh đến bên tôi hỏi:

– Gặp Tướng Trường được không hè?

Lúc này khoảng 6 giờ 30 sáng.

– Dạ … dạ …

Tôi ấp úng trả lời:

– Hồi chiều tối hôm qua ở trên lầu em thấy Tướng Trường chạy xe jeep ngang qua dinh.

Tư Lệnh nói tiếp:

– Có phải Tướng Trường không?

– Em ở trên lầu hơi xa, em thấy giống Tướng Trường.

– Thôi đừng đi tìm, kẻo bị chúng bắt.

– Dạ.

Rồi Tư Lệnh đi ra sau vào trailer, một lát sau Tư Lệnh đi ra hai tay xách hai vali gặp tôi và anh Việt ngay ở cửa ra vào phòng thờ Phật. Tư Lệnh đưa cho tôi một cái màu cam, còn Trung Úy Việt một cái màu đen hay nâu tôi không nhớ rỏ. Tư Lệnh buồn buồn nói:

– Danh giữ cái này, Việt giữ cái này.

Tư Lệnh chỉ nói ngắn gọn không nói thêm gì, hình như cổ ông nghẹn lại. Tư Lệnh vội bước đi, cách vài bước Tư Lệnh quay lại nói tiếp:

– À quên chìa khóa.

Rồi Tư Lệnh đi thẳng về sau vào trailer, một lúc sau trở ra trao cho tôi hai chìa khóa và nói:

– Cái này của Danh, cái này của Việt.

Tôi linh tính sắp có điều gì sẽ xảy ra. Tư Lệnh chầm chậm bước theo nấc thang lên tầng trên, tôi và anh Việt nối bước theo sau. Tư Lệnh ra sân thượng, đứng sát bên lan can, mắt nhìn ra lộ Hòa Bình trước cửa dinh, tôi đứng bên tay phải Tư Lệnh, anh Việt đứng bên trái. Trước lộ vài xe qua lại, người thưa thớt vắng vẻ như chiều 30 Tết. Bất chợt, Thiếu Tướng bật khóc. Dù cố nén tiếng khóc không bật thành tiếng, nhưng những giọt nước mắt cuộn tròn chảy dài trên khuôn mặt đau buồn vì nước mất nhà tan. Tôi cũng khóc theo, anh Việt cũng vậy, ba người đứng ở đây mặc cho nước mắt tự do tuôn chảy. Tôi nghĩ Tư Lệnh đi ngoại quốc hết kịp rồi, tới đây VC có bắt Tư Lệnh không? Có làm hỗn bắn Tư Lệnh không? Nếu sự việc xảy ra thì phải giải quyết làm sao? Tôi đang mênh mang suy nghĩ, Tư Lệnh xoay lưng chầm chậm theo bậc thang xuống tầng dưới.

Tư Lệnh sắp tự sát

Từ ngoài nhìn vô bàn Phật, Tư Lệnh ngồi trên ghế sofa phía bên phải, đôi mắt đăm chiêu nhìn lên bàn thờ. Anh Việt bước ra cửa về thăm xuống thăm vợ con còn Trung sĩ Hộ đang thập thò trước cửa. Tư Lệnh đứng dậy đến bàn thờ lấy ba cây nhang đốt, xá ba xá cắm vào lư hương, gõ ba tiếng chuông “boong, boong, boong” xong xá 3 xá tiếp xong Tư Lệnh về ngồi nơi cũ, hai tay để trên thành gỗ sofa nhịp nhịp như không có chuyện gì sắp xảy ra. Bất chợt , Tư Lệnh xoay qua bảo tôi:

– Danh ra ngoài bảo Việt dẫn vợ con đi đi.

– Dạ.

Tôi tôi thầm nghĩ Tư Lệnh và tôi độc thân chắc Tư Lệnh nghĩ cách khác. Tôi đẩy nhẹ cánh cửa bước ra sân hướng về phòng Trung Úy Việt. Tôi vừa đi khỏi cột cờ một chút nghe tiếng nổ “đùng” phát ra từ hướng bàn thờ Phật, tôi xoay người trở lại chưa kịp bước thì Trung Sĩ Hộ thất thanh chạy la lên:

– Đại Úy ơi! Đại Úy ơi! Thiếu Tướng tự sát chết rồi.

Trong lúc sợ hãi, anh Hộ gọi tôi là Đại Úy. Tôi chạy nhanh vào thấy cảnh tượng hãi hùng chưa bao giờ gặp. Tư Lệnh ngã ngửa hơi lệch về phía sau sofa, đầu nghiêng về bên trái, khẩu Colt-45 vẫn còn trong tay buông thõng xuống lòng Tư Lệnh nhưng những ngón tay cầm súng đã nới lỏng, đầu đạn xuyên qua màng tang phải qua trái, ngước mắt nhìn lên trần nhà. Tư Lệnh chưa chết, nhưng nói không được, giật run rẩy người, miệng há hốc, từ trong cổ họng nấc lên tiếng “khọc, khọc, khọc” từng chập và từ từ nhỏ dần. Anh Hộ thấy vậy vội nói:

– Mình chở Thiếu Tướng đi bệnh viện.

Tôi cũng ôm chầm lấy xác ông vừa khóc vừa nói:

– Chắc trễ rồi, vết thương ở đầu vô phương cứu chữa, hơn nữa Thiếu Tướng đã quyết định tự sát. Hèn chi hôm qua Thiếu Tướng đi thăm anh em thương binh ở bệnh viện Phan Thanh Giản rất lâu và nói với anh em thương binh là: “Qua ở lại với các em.”

Anh Hộ nói tiếp:

– Em đâu dám đến gần Thiếu Tướng. Đứng ở ngoài cửa em chỉ thấy lưng Thiếu Tướng. Em thấy Thiếu Tướng móc từ trong túi ra, em tưởng Thiếu Tướng lấy thuốc hút, nào ngờ Thiếu Tướng móc khẩu súng và tự sát liền, em chạy lại đâu kịp.”

Vừa nói anh Hộ khóc nức nở, chúng tôi vẫn ôm choàng lấy Tư lệnh khóc. Trong lúc bối rối và hết hồn, tôi đâu có tâm trí để xem đồng hồ, khoảng 7 giờ 30 ngày 1 tháng 5 năm 1975.

Khoảng 15 phút sau, Tư Lệnh yên nghỉ, tôi vội chạy về phòng chọn một bộ đồ dân sự, loại củ nhất mặc vào xong đến bên Thiếu Tướng tiếp tục khóc, vài vết máu của Tư Lệnh đã dính vào áo tôi (lúc đi cải tạo, tôi còn giữ áo này về sau cũ tôi đốt bỏ). Tôi nghĩ với chức vụ Tùy Viên, tầm hiểu biết nhỏ hẹp, nếu VC vào tra hỏi tôi ú ớ chúng sẽ bắn ngay, hơn nửa đêm qua bọn chúng lên đạn suýt chút nữa là thịt tôi rồi. Tôi thầm nghĩ, tôi đã theo Thiếu Tướng đến lúc cuối, lúc Thiếu Tướng chết không bỏ đi nửa chừng, như vậy cũng tạm gọi là chung thủy không thẹn với lương tâm, còn việc chôn cất xin Thiếu Tướng tha lỗi vì em không làm tròn bổn phận.

Tôi đến bàn làm việc mở ngăn kéo lấy khẩu súng Thiếu Tướng cho đêm qua, đi xuống hầm chứa nước ở dưới chân nhà và liệng bỏ xuống dưới đó. Xong tôi lấy chiếc valy và gói tiền đến phòng bàn thờ Phật. Tôi lấy tấm drap trắng bên phòng ăn choàng đắp lên mình Tư Lệnh. Tư Lệnh vẫn còn nằm ở sofa tôi không di chuyển đi nơi khác.

Tôi quay qua anh Hộ nói:

– Lúc sáng, Thiếu Tướng có cho tôi và anh Việt mỗi người một cái va ly, tôi không biết có gì trong đó, tôi không vợ không con, hơn nữa tình huống như vầy tôi không xài, tôi cho lại anh. Anh mở ra có tiền hay vàng anh xài, còn có giấy tờ hay di chúc gì của Thiếu Tướng anh vui lòng gởi đến gia đình Thiếu Tướng giùm.

Về sau, trong khoảng tháng 5 năm 1975, tôi có xuống tìm gia đình anh Hộ để xem trong chiếc va li của Thiếu Tướng có để lại di chúc gì không?  Tôi tìm đến nhà anh ở gần hồ nước Mỹ Tho, thuộc tiểu khu Định Tường (hồ nước, chỗ trực thăng tản thương lên xuống cho thương binh lúc chiến tranh). Anh Hộ đã đi làm ăn xa không có nhà, có chị Hộ cùng các con, tôi nói gia đình của Thiếu Tướng muốn xem trong va li có giấy tờ gì quan trọng không? Nhất là có di chúc gì của Thiếu Tướng để lại không còn tiền bạc vòng vàng gì nếu có anh chị giữ lại nuôi con, gia đình Thiếu Tướng không để ý chuyện đó. Chị Hộ nói:

– Trong va li không có gì quan trọng, không có giấy tờ hay di chúc gì của Thiếu Tướng để lại cả. Sau đó tôi ở lại ăn một bữa cơm và nghĩ đêm ở đó, sáng hôm sau tôi từ giã chị Hộ về Sài Gòn. Trước khi đi, chị trao cho tôi một cái đồng hồ loại đeo ở cổ, chị nói đã tìm thấy trong va li, bảo tôi giữ lấy để làm kỷ niệm. Chiếc đồng hồ có dây dài như dây chuyền màu trắng bằng i nốc, mặt đồng hồ hình con sò giống như con sò vẻ quảng cáo ở các cây xăng Shell. Tôi cầm lấy và cất giữ trên 10 năm, sau đó hư máy hết chạy.

Sau khi đưa cho anh Hộ va li xong, tôi bước ra hướng nhà bếp đi thẳng, cuối có cửa nhỏ thông qua hãng bia và nước ngọt của Pháp, tôi lần theo hẻm nhỏ sát chân tường đi ra ngoài đường. Tôi đứng phía bên này đường Hòa Bình, bên kia đường tôi thấy trên dưới 10 gia đình vợ con binh sĩ đứng nhớn nhác nhìn về phía Dinh, chắc chồng con họ đang ở trong Dinh. Tôi gọi:

– Các chị qua đây tôi bảo.

Mọi người đứng yên, có thể tôi gọi nhỏ hay là họ ngần ngại. Một lần nữa tôi gọi:

– Các chị qua đây tôi cho tiền các chị.

Rồi một người, hai người rồi cả nhóm bước qua lộ đứng bên lề đường. Tôi nói nhanh sợ VC đến nhìn thấy tưởng tôi tuyên truyền sẽ gây bất lợi cho tôi. Tôi nói tiếp:

– Đêm qua Thiếu Tướng có cho tôi ít tiền, sáng nay Tư Lệnh đã tự sát chết rồi, hơn nữa tình thế hỗn loạn chắc chắn chồng các chị chưa lãnh lương được, vậy các chị lấy ít tiền này để xài, nuôi con hay về quê.

Nói xong tôi đưa gói bạc cho một người trong nhóm:

– Các chị chuyền nhau lấy một ít đừng có ngại.

Nhóm người này xúm nhau chuyền gói bạc, ngắt từng xấp tiền bỏ vào túi, tôi nhìn thấy có người lấy đến hai lần. Người cuối cùng lấy xong, với xấp tiền đã mỏng, họ trả lại tôi, không biết số tiền là bao nhiêu tôi vội bỏ vào túi. Bất chợt có một anh lính đến bên tôi nhỏ nhẹ nói:

– Trung Úy cho em chút đỉnh tiền để em về Long Xuyên.

Tôi đưa xấp tiền còn lại nói:

– Anh lấy đi, chừa lại cho tôi một ít để tôi về Sài Gòn.

Anh lấy xong rồi đưa phần còn lại cho tôi và đề nghị:

– Thôi Trung Úy đi về Long Xuyên với em, ở nơi đó còn yên chưa mất, Trung Úy về đó tiện hơn.

Tôi nói:

– Còn gì nữa, đã mất hết rồi. Tôi còn về Sài Gòn đến gia đình Thiếu Tướng để cho người nhà hay Thiếu Tướng đã chết.

Tôi đã nói chuyện và cho tiền trên 10 phút, cũng may là VC chưa đến Dinh. Tôi đi ngang cổng Dinh, nhìn lần cuối rồi sang bên kia cầu Cái Khế, lên xe đò ra bến xe mới qua bắc Cần Thơ. Trên phà, tôi xé bỏ tất cả những giấy tờ cá nhân, vứt bỏ theo dòng nước gồm căn cước quân nhân, chứng chỉ tại ngũ v.v… Những mảnh giấy trôi bồng bềnh trên mặt nước, những đợt sóng nhồi chìm nổi, những mảnh giấy cố ngoi lên nhưng bị loạt sóng sau phà dìm hẳn xuống mất hút, cũng như cuộc đời binh nghiệp của tôi chấm dứt và mất hút từ đây.

Về Sài Gòn

Tôi theo xe về Sài Gòn, dọc theo Quốc Lộ 4, VC đã ra tua tủa ngoài đường, thỉnh thoảng từng nhóm chận xe lại bảo bỏ vũ khí. Ngoài đồng dọc theo đường, nhìn trong tầm mắt thỉnh thoảng có vài người bị bắn chết nằm tênh hênh, vắt vẻo trên bờ ruộng. Vào phạm vi Sài Gòn cũng ồn ào náo nhiệt, kẻ lo sợ hốt hoảng, người vui chơi hớn hở, nhìn chung tôi đoán biết ai là phe ta, ai là địch.

Với bộ đồ cũ kỹ, nhăn nheo như người dưới quê lên thành phố, tôi xuống bến Xa Cảng gọi Honda ôm về cư xá Lữ Gia để tìm bà Nguyễn Khoa Diệu Liên (cháu của Thiếu Tướng). Gõ cửa, tôi thấy bà Liên ra mở cửa mà tôi nghẹn ngào không nói nên lời, chặp sau tôi vừa khóc vừa nói:

– Thiếu Tướng đã tự sát chết rồi.

Bà Liên ôm chầm lấy tôi khóc nức nở. Vào nhà, tôi kể đầu đuôi sự việc đã xảy ra cho bà nghe. Xong bà lái xe chở tôi đến nhà hàng ăn ở về hướng Lăng Cha Cả. Ăn xong, trước khi từ giã, với khuôn mặt hiền hòa đẫm lệ, bà an ủi tôi:

– Thôi sự việc như vậy Danh đừng buồn nữa.

Bà lấy cho tôi 50,000 đồng rồi nói tiếp:

– Mới 1 Tây, bây giờ đang hỗn loạn đi còn được. Danh ra Vũng Tàu trà trộn đi ngoại quốc đi.

– Dạ.

Tôi nhận số tiền bà cho rồi từ giã ra đi. Giã từ bà từ ngày 1 tháng 5 năm 1975 cho đến nay không gặp và không biết tin tức về bà. Tôi không ra Vũng Tàu như bà bảo. Vì gia đình ở quận Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre, ba tôi giữ chức vụ trưởng đồn Nghĩa Quân, không biết bây giờ ông ra sao? Tôi quyết định ở Sài Gòn không tìm đường đi ngoại quốc. Những anh em quân nhân cũ lúc còn ở Sư Đoàn 7  thường tìm tôi để tâm sự, đi ăn cơm hay về nhà ngủ đêm, việc ăn uống ngủ nghỉ các anh tiếp đãi rất nồng hậu, còn chuyện mượn địa chỉ để đăng ký thì không được. Bây giờ chỉ có cách về quê nhà ở Mỏ Cày, Bến Tre nhưng xứ này là “Quê Hương Đồng Khởi” không hiểu về đó tôi có bị VC thù cá nhân không?

Đột nhiên, tôi chợt nhớ đến nhà của Thiếu Tướng ở số 403 Lê Đại Hành, quận 11 trước cửa trường đua Phú Thọ, tôi có thể đến đấy ở và lấy địa chỉ này để đăng ký. Tại nhà riêng của Thiếu Tướng, tôi gặp anh Dực, quản gia ở đây, chúng tôi gặp nhau, mừng mừng tủi tủi. Chúng tôi ở với nhau không lâu. Vì tình trạng kinh tế, anh Dực phải về quê, còn lại tôi ở một mình trong căn nhà này. Quá buồn, tôi mua vé xe ngồi trên xe đi liên tục, mặc cho xe chạy đi đâu thì chạy, trong tay có sẵn chai rượu rẻ tiền, tôi say lúy túy, vừa uống vừa khóc, khóc cho đã, cho vơi nỗi buồn.

Khoảng 12 giờ ngày 6 tháng 5 năm 1975, có hai chiếc xe jeep, một chiếc trang bị súng ống đầy đủ chạy ập vào bao vây nhà của Thiếu Tướng, họ nhảy xuống xe, một người trong nhóm đó gõ cửa hỏi tôi:

– Anh là chủ nhà này?

Tôi nói:

– Không phải, đây là nhà của Tướng Nguyễn Khoa Nam.

– Anh làm gì đây?

– Tôi là tùy viên của Tướng Nguyễn Khoa Nam. Tôi ở đây chờ ngày đi học tập.

– Yêu cầu anh lên xe.

Tôi lên ngồi chiếc xe jeep dẫn đầu, nhìn lại tôi thấy họ xông vào nhà lục soát tùm lum, vất đồ đạc lung tung. Chết rồi bị VC bắt! Chiếc xe chở tôi từ từ lăn bánh về trụ sở phường thuộc Quận 11. Chiếc xe dừng lại, khẩu AK chỉa bên hông chìa sát tôi, họ dẫn tôi vào phường. Vào trong, tôi thấy một ông mẫu người lịch sự, mập trắng trẻo hơi thấp đang ngồi đó. VC vẫy tay ra dấu tôi ngồi xuống ở đây. Tôi đến bên ông này làm quen hỏi:

– Thưa Chú sao ở đây?

Ông ta nói:

– Tôi là tướng Đỗ Kế Giai, bị họ giữ ở đây.

Tôi thầm nghĩ:

– Chết rồi mình bị nhốt chung với Tướng chắc không khá!

Mỗi lần tôi đi vệ sinh, tên VC cũng đi kèm sát bên theo dõi, nòng khẩu AK vẫn dí vào hông tôi. Đến tối, khoảng 8 giờ, họ dẫn bộ đưa tôi ra phía sau phường đi xuống một trường học bỏ trống, trước khi vào tôi thấy nơi này rào chằng chịt kẽm gai cuộn tròn. Tôi vào cổng gác thứ nhất có người gác hai bên trang bị AK đứng thế tác chiến, họ vừa kéo kẽm gai vừa hỏi:

– Anh bị tội gì vô đây?

Tôi trả lời:

– Tôi không biết tội gì. Tôi đang ở nhà Thiếu Tướng Nam, đột nhiên các anh bắt tôi đến đây.

Tôi liếc nhìn họ không hỏi tiếp và họ cười cười, tôi tiếp tục qua vọng gác thứ hai, rồi đến vọng gác thứ ba, người dẫn tôi đi kéo vòng kẽm gai rào lại cẩn thận, tôi bước vào khu vực trường học bỏ trống, đi dọc theo hành lang và đến một phòng, họ bảo tôi ngồi trên một băng dài đặt trước cửa phòng, người này vào trong một lát trở ra nói:

– Anh ngồi nơi đây đợi chờ chúng tôi sắp xếp, anh không được đi nơi khác.

– Vâng.

Khoảng 30 phút sau, một người ăn mặc thường phục áo trắng quần tây đen, bỏ áo vào trong đàng hoàng giống như thầy giáo vui vẻ đến bắt tay tôi nói:

– Cuộc chiến tranh xảy ra, anh ở bên này, tôi ở bên kia, ai cũng làm việc, còn sống sót là quí rồi. Anh bị bắt vào đây là do nhân dân chỉ điểm chúng tôi, nói anh đang giữ kho tàng của tướng Nam. Chúng tôi đã đến kiểm tra không phát hiện gì hết, nhân dân chỉ nhầm. Thôi tôi trả tự do cho anh, anh có thể ra đi được.

Tôi mừng quá thoát nạn rồi nhưng chưa đi liền, đề nghị với ông ta:

– Tôi cám ơn ông đã trả tự do cho tôi nhưng ông có thể cho tôi giấy chứng nhận trả tự do và cho tôi được ở nhà Thiếu Tướng Nam chờ ngày đi học tập.

Ông ta gật đầu, vào phòng, viết cho tôi tờ giấy nội dung như tôi đã nói.

Tôi trở về nhà lúc nửa đêm, đồ đạc trong nhà vất tứ tung, mấy cây “cane” của Thiếu Tướng đều bị bẻ gãy làm đôi làm ba cùng liệng tứ tung. Nhà bếp, cầu tiêu đều bị đào xới ngổn ngang như heo ủi, vung vãi những viên đạn nho nhỏ. Tôi ở đây được hai ngày, buồn quá tôi đi đến nhà em út lính, sáng đi chiều về ngủ đêm. Những bọn vô gia cư, dân xì ke, quét chợ lượm những khẩu súng của các anh em binh sĩ bỏ lại như carbin, garant, M-16 đi vào nhà của Thiếu Tướng. Bọn chúng xưng là “cách mạng nằm vùng”, dựng súng vào tường rồi lục tủ lạnh lấy thức ăn tôi mua về để trong tủ lạnh ra ăn hết sạch. Thái độ chúng kênh kiệu nhìn tôi với những cặp mắt cú vọ, lườm lườm như muốn ăn tươi nuốt sống, tệ nhất là bọn chúng lúc nào cũng say rượu. Tôi nghĩ đây là bọn “dựa hơi” nhân lúc hỗn loạn xưng hùng xưng bá chớ không phải dân cách mạng theo như bọn chúng đã nói. Tôi sợ bọn chúng nổi cơn điên bắn ẩu thì bỏ mạng nên tôi bỏ nhà này đi xuống ở nhà bà Phước ở sau nhà thờ Thị Nghè một thời gian ngắn rồi sau đó đi cải tạo gần 7 năm trời.

 ——————————————–

Nghi án về vụ “tự sát” của Nguyễn Khoa Nam

Sẽ chẳng ai thèm thắc mắc về vụ “tự sát” của Nguyễn Khoa Nam, nếu không xảy ra chuyện sau đây. Nguyễn Khoa Nam có ngôi nhà riêng ở Cần Thơ. Trong nhà, ông có nuôi con chó Nhật rất khôn. Sau ngày giải phóng, ngôi nhà ấy do cháu của Nguyễn Khoa Nam ở. Đến kỳ “giỗ” Nguyễn Khoa Nam lần thứ 3 (năm 1978), những người đến dự đám giỗ chứng kiến cảnh lạ: Có một ông lão ăn mày râu tóc dài thượt, mặt mũi che kín, áo quần rách rưới, tay chống gậy đi ngang trước cửa nhà. Con chó Nhật thấy người ăn mày đã lao ra cửa. Mọi người còn đang lo lắng sợ con chó cắn người ăn mày thì thật lạ kỳ, con chó lại ngoắc đuôi mừng rỡ, chồm lên liếm tay người ăn mày. Ông lão ăn mày đã bỏ đi thật nhanh, không giống với bộ dạng chậm chạp lúc ông ta đi đến. Lúc đó không ai nghĩ tới khả năng lão ăn mày đó chính là Nguyễn Khoa Nam (vì ông ta đã “tự sát” chết rồi), nhưng mọi người vẫn thắc mắc bàn tán về chuyện “con chó mừng người lạ”. Câu chuyện lạ nói trên mọi người rồi cũng quên.

Cho đến khoảng 5 – 6 năm sau, khi những Việt kiều đầu tiên ở Australia được phép về Cần Thơ thăm quê nhà, có một người tên Phong kể câu chuyện lạ: Một lần đi siêu thị ở Sydney, ông Phong thấy một người đàn ông rất giống viên tư lệnh Vùng 4 Nguyễn Khoa Nam ngày trước (lúc đó Nguyễn Khoa Nam có lần đến trường ông Phong đang học để nói chuyện, nên ông biết mặt). Dẫu có nghe Nguyễn Khoa Nam đã “tự sát”, nhưng ông Phong cũng hỏi đại: “Ông có phải là Nguyễn Khoa Nam?”. Người đó chỉ lắc đầu rồi bỏ đi, không một tiếng trả lời. Câu chuyện đó từng xôn xao trong dư luận TP Cần Thơ một thời gian. Sau đó mấy người cháu của Nguyễn Khoa Nam đã bốc cốt ông ta và hỏa táng, đem tro gửi vào chùa ở TP.HCM.

Vậy sao lại có xác chết trên áo có tên Nguyễn Khoa Nam vào rạng sáng 1/5/1975? Điều đó không có gì là khó khăn đối với viên tướng tư lệnh vùng, nếu như ông ta muốn.

Hiện trường được dàn dựng?

Bây giờ nhiều người ở Cần Thơ vẫn tin rằng Nguyễn Khoa Nam chưa chết, và vụ “tự sát” rạng sáng 1/5/1975 chỉ là được dàn dựng. Người ta cho rằng, Nguyễn Khoa Nam vì sợ bị trừng trị do những tội ác mà ông ta đã gây ra với nhân dân, với cách mạng, trong khi ông ta không còn máy bay để di tản, nên phải dựng lên hiện trường “tự sát” để đánh lạc hướng.

Mà cũng có thể ông ta sợ bị những “chiến hữu” và người thân của họ trả thù, vì nghe lời ông ta mà họ chết oan, nên phải dùng đến bài “tự sát”.

Người suốt đời độc thân

Thời trẻ, Nguyễn Khoa Nam yêu một cô gái bên sông Hàn và được tình yêu đáp lại, hình bóng người mỹ nữ ấy đã xuất hiện thường xuyên trong các bức tranh của ông ta. Thế nhưng, người con gái ấy đã phải gạt bỏ tình yêu, theo gia đình định cư bên Pháp và lấy chồng bên ấy. Trái tim người nghệ sĩ đa cảm Nguyễn Khoa Nam như bị bóp nát và nó làm thay đổi hoàn toàn cuộc đời của chàng trai xứ Huế. Người nghệ sĩ thất tình đã quyết định vứt bỏ toàn bộ giá vẽ, chấm dứt cuộc đời nghệ thuật và ôm lòng oán hận đối với “phái đẹp”. Trong suốt cuộc đời còn lại của Nguyễn Khoa Nam, người ta không thấy ông ta yêu thêm người con gái nào khác. Thời ấy có cái “mốt” là khi thất tình người ta hay vào quân ngũ. Nguyễn Khoa Nam cũng vậy.

Thiếu tướng Phạm Văn Phú :

Tình hình mặt trận Khánh Hòa-Ninh Thuận
Sau khi chiếm Tuy Hòa và các quận tỉnh Phú Yên vào rạng sáng ngày2 tháng 4/1975, Cộng quân gia tăng áp lực tại mặt trận KhánhHòa-Ninh Thuận. Vào thời gian này, lực lượng chủ lực của Quân đoàn 2 chỉ còn trông cậy vào 2 tiểu đoàn vừa tái chỉnh trang củaSư đoàn 23 Bộ binh và một 1 tiểu đoàn của Trung đoàn 40 thuộc Sư đoàn 22 Bộ binh (đơn vị của Trung đoàn 40 có mặt tại Khánh Hòa tư trước tháng 4/1975), 2 tiểu đoàn Biệt động quân. Các tiểu đoànnói trên chỉ còn khoảng 2/3 số quân sĩ tại hàng.
Cũng như nhiều thành phố khác tại Quân khu 2 (Vùng 2), trong suốtthời gian từ cuối tháng 3 đến những ngày đầu tháng 4, Nha Trangkhông tránh được sự hỗn loạn, nhốn nháo. Trong ngày 2 tháng4/1975, không có lực lượng nào có đủ sức duy trì trật tự cả an ninh trong thành phố. Theo tài liệu của Đại Tướng Cao Văn Viênthì Bộ Tư lệnh Quân đoàn 2 vẫn tiếp tục hoạt động tại Nha Trang đến hết ngày 2/4/1975. Tuy nhiên theo hồi ký của Thiếu tá Phạm Huấn, sĩ quan báo chí của Tư lệnh Quân đoàn 2, thì tối ngày1/4/1975, Tướng Phú và một số sĩ quan đã ngủ lại tại bộ chỉ huycủa một tiểu đoàn Địa phương quân phòng thủ căn cứ Không quân ởPhan Rang. Trong hai ngày đầu của tháng 4/1975, trận chiến đã diễn ra tại một số nơi trong địa phận tỉnh Khánh Hòa, Cộng quân bắt đầu pháo kích vào một số doanh trại quân đội gần Nha Trang.

Rạng sáng ngày 3/4/1975, Cộng quân bắt đầu tung quân tiến chiếmNha Trang, 7 giờ sáng cùng ngày Bộ Tổng tham mưu ở Sài Gòn nhận được báo cáo là Cộng quân đã kiểm soát thành phố Nha Trang. Cùng thời gian này, thành phố Cam Ranh cũng bắt đầu di tản. Tại Ninh Thuận, gần một nửa số tiểu đoàn Địa phương quân tỉnh NinhThuận đã triệt thoái khỏi vị trí phòng thủ. Tuy nhiên nhờ có các tiểu đoàn Nhảy Dù đương phòng ngự gần Phan Rang nên Cộng quân không mở được những cuộc tấn công vào thị xã này.

* Những giờ cuối cùng của Tư lệnh Quân đoàn 2
Những giờ cuối cùng của Thiếu Tướng Phú tại Nha Trang đầy bi tráng. Trong nhật ký hành quân mang sang Mỹ được và được phổ biếntrong cuốn Cuộc Triệt Thoái Cao Nguyên 1975, Thiếu tá Phạm Huấn – sĩ quan Báo chí-đã ghi lại một số sự kiện xảy ra cho vị tư lệnh Quân đoàn 2 với nội dung được tóm lược như sau:
5 giờ 50 chiều ngày 1/4/1975, Thiếu tướng Phú vào Bộ Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân ở Nha Trang, nhưng vị tư lệnh Sư đoàn này đi vắng. Ôngphải ngồi ngồi đợi, 20 phút sau thì Chuẩn Tướng Nguyễn Ngọc Oánh, Chỉ huy trưởng Trung tâm Huấn luyện Không quân và Chuẩn Tướng Nguyễn Văn Lượng, Tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân, bước vào. Lúc bấygiờ , Thiếu tướng Phú ngồi ở chiếc ghế sát bàn của Tư lệnh của Sư đoàn 2 Không quân. Tướng Lượng và Tướng Oánh thấy Thiếu tướng Phú không chào hỏi và tới ngồi ở bàn khác đối diện. Thấy thái độ và cách xử sự khác thường của vị tư lệnh Sư đoàn 2 Không quân, một
trong 2 sư đoàn Không quân thống thuộc quyền điều động của bộ tư lệnh Quânđoàn 2, Thiếu tướng Phú hơi ngạc nhiên nhưng rồi ông chợt hiểu. Ông hỏiTướng Lượng:
-Có chuyện gì xảy ra?
Chuẩn tướng Lượng không trả lời, mặt lầm lì. Còn Chuẩn Tướng Oánh, vớigiọng từ tốn, lễ độ nói với Thiếu tướng Phú:
-Tôi muốn thưa với Thiếu tướng tôi được chỉ định làm Tư lệnh Mặt trận Nha Trang, vì Quân đoàn 2 không còn nữa. Tướng Phú mặt biếnsắc, hỏi dồn:
-Lệnh ai? Anh nhận lệnh ai?
Tướng Oánh vẫn điềm đạm, chậm rãi nói: Thưa Thiếu tướng, lệnh của Bộ Tổng Tham mưu Quân lực Việt Nam, của Trung tướng Đồng Văn Khuyên từ Sài Gòn.
Nghe Tướng Oánh trình bày, Tướng Phú cảm thấy danh dự bị tổn thương, vì theo tổ chức quân đội, người có quyền ra lệnh cho ông là Đại tướng Cao Văn Viên, Tổng tham mưu trưởng, còn Trung tướng Khuyên là Tham mưu trưởng, không có quyền ra lệnh cho các Tư lệnh Quân đoàn, về vai vế và quyền hạn thì Tư lệnh quân đoàn và Tư lệnh quân chủng chỉ xếp sau Tổng tham mưu trưởng. 18 giờ 40 Tướng Phú dùng điện thoại tại văn phòng Tướng Lượng để gọi về Sài Gòn gặp trung Tướng Khuyên. Ngay từ câu đầu tiên, Tướng Phú đã hétlên trong ống liên hợp:
-Trung tướng hỏi tôi đi đâu à? Tôi bay chỉ huy.
Sau một hồi tranh cải, Tướng Phú nói lớn:
-Tôi là Tư lệnh Quân đoàn. Đi đâu, đó là quyền của tôi. TrungTướng Thuần (Chỉ huy trưởng trường Hạ sĩ quan) cùng đi trên máybay chỉ huy của tôi mấy tiếng đồng hồ, nhưng tôi không cần trungTướng phải tin. Và tôi cũng không phải trình Trung tướng.
19 giờ 45 phút cùng ngày, Tướng Phú ra trực thăng bay về PhanRang. Khi ông vừa ngồi lên xe Jeep để ra bãi đậu trực thăng, thìmột sự việc bất ngờ xảy ra. Một xe chở đầy lính và vũ khí phóng tới, một Thiếu tá Không quân nhẩy xuống nói lớn:
-Tại sao, tại sao, các ông là Tướng lại bỏ lính chạy. Ai phòng thủ căn cứ này.
Khi đó, Thiếu tá Huấn cùng đi với Tướng Phú, đã ngồi đè lên ngườiTướng Phú, và chĩa khẩu AR 18 về phía người sĩ quan này và nói:”Anh không được vô lễ, ông Tướng Tư lệnh Quân đoàn không có nhiệm vụ phải phòng thủ căn cứ Không quân”. Cuối cùng thì mọi việc êm xuôi, Tướng Phú hiểu được sự phẫn nộ của vị sĩ quan Không quân và những người lính đi cùng.

* Quân đoàn 2 bàn giao phần lãnh thổ còn lại cho Quân đoàn 3.
Đêm 1 tháng 4/1975, Thiếu tướng Phú nằm dưới chân núi, trên một cái giường bố, tại ban chỉ huy của một tiểu đoàn Địa phương quân Ninh Thuận, phòng thủ căn cứ Phan Rang. 1 giờ 45 trưa ngày 2 tháng 1/1975, Tướng Phú bay đến ngọn đồi “Lầu Ông Hoàng” ở Phan Thiết chờ Thiếu Tướng Nguyễn Văn Hiếu, Tư lệnh phó Quân đoàn 3, để thảo luận về việc bàn giao phần lãnh thổ còn lại của Quân đoàn 2  & Quân khu 2 được lệnh sát nhập vào Quân đoàn 3.
Theo kế hoạch,Quân đoàn 3 chính thức phụ trách tuyến Ninh Thuận-Bình Thuận từ ngày 3/4/1975. Vào giờ này, Bộ Tham mưu của Thiếu tướng Phú chỉ còn lại Thiếu tá Vinh,chánh văn phòng; Thiếu tá Hóa, tùy viên; Thiếu tá Huấn, sĩ quan báo chí và Đại tá Đức, Quyền Tư lệnh Sư đoàn 23BB.
Đúng 2 giờ 12 phút chiều cùng ngày, Thiếu tá Hóa trình vơ’i Tướng Phú là trực thăng của Tướng Hiếu sắp đáp xuống. Khi Thiếu tá Hóavừa quay gót, Thiếu Tướng Phú rút khẩu súng ngắn ra khỏi vỏ, nhưng tiếng hét thất thanh của Đại tá Đức vang lên: “ThiếuTướng!”, ngay sau đó, khẩu súng trên tay Tướng Phú bi. Đại tá Đức gạt bắn xuống đất. Tướng Phú không chết trong ngày 2 tháng4/1975, nhưng 28 ngày sau ông đã tự sát tại Sài Gòn.

* Cuộc hội ngộ cuối cùng của hai vi. Tư lệnh Quân đoàn:
Cũng theo nhật ký của Thiếu tá Huấn, trước đó vào 5 giơ` chiều ngày 30 tháng 3/1975, Tướng Phú đã bay ra Cam Ranh, để cùng với Phó Đề đốc Hoàng Cơ Minh, Tư lệnh Hải quân Vùng hai duyên hải, đi trên một soái hạm chỉ huy ra vùng biển ngoài Cam Ranh để đónTrung tướng Trưởng đang bị bệnh nằm trên tàu HQ 404 từ Cam Ranh vào (Tướng Trưởng đã phải bơi từ bờ để ra tàu hải quân đậu ngoài biển). Trên tàu lúc này có rất đông chiến binh Thủy quân Lục chiến từ Quân khu 1 vào. Tướng Phú và Phó Đề đốc Minh phải khó lắm mớilách xuống được chỗ Tướng Trưởng nằm dưỡng bệnh.
Theo ghi nhận của Thiếu tá Huấn, có mặt vào giờ phút đó, thì lúc này TướngTrươ?ng thở thoi thóp nhờ bình nước biển. Quanh Trung tướng Trưởng có Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh, Tư lệnh Sư đoàn 1 Không quân (Đà Nẵng), Đại tá Nguyễn Hữu Duệ, Tỉnh trưởng Thừa Thiên. Tướng Phú ghé sát tai Tướng Trưởng hỏi hai lần, nhưng sắc diện Tướng Trưởng không thay đổi. Nhưng rồi có một giây Tướng Trưởng ngước nhìn lên. Đôi mắt như muốn bật máu vì uất ức. Chi tiết về cuộc gặp gở này cũng đã được Hải quân Trung tá Nguyễn Đại Nhơn, hạm trưởng HQ 404 kể lại trong một bài viết phổ biến vào năm 1995. Có một điểm khác biệt về mốc thời gian là tài liệu của Trung tá Nhơn thì lại ghi là cuộc gặp gở giữa Tướng Phú và Tướng Trưởng diễn ra vào tối ngày 1/4/1975, (nhật ký của Thiếu tá Huấn ghi là 5 giờ chiều 30/3/1975, như đã trình bày ở trên). Trong khi đó theo lời kể của một số sĩ quan đi theo Tướng Trưởng, HQ 404 rời Đà Nẵng ngày29/3/1975 và đến chiều ngày 30/3/1975 thì đã vào vùng biển ở ngoài Cam Ranh.
Theo lời của Trung tá Nguyễn Đại Nhơn, Hạm trưởng HQ 404, tối ngày 1/4/1975, Tướng Phú đã đi tàu nhỏ cập vào chiến hạm để lên tàu thăm và nói chuyện với Tướng Trưởng. Tình cờ khi vào phònglấy hồ sơ, ông Nhơn đã nghe câu nói của Tướng Phú: “Dù sao đi nữa tôi cũng còn vài tiểu khu ở đây với tôi chiến đấu”. Cũng cần ghi nhận rằng Tướng Phú đã có một thời gian làm việc chung với TướngTrưởng : năm 1967, khi còn là đại tá, ông là Tư lệnh phó Sư đoàn 1 do Tướng Trưởng làm tư lệnh; năm 1972, khi Trung tướng Trưởng là Tưlệnh Quân đoàn 1 thì Tướng Phú là Tư lệnh Sư đoàn 1 thuộc Quânđoàn này). Cuộc gặp gỡ của hai vị tư lệnh Quân đoàn diễn ra đúng 10 phút. Sau đó, Thiếu tướng Phú đứng nghiêm chào từ biệt Trung tướng Trưởng.Rồi ông bước nhanh ra khỏi căn phòng nhỏ của chiến hạm, những sự kiện bi tráng chờ đợi ông, người hùng Điện Biên Phủ năm nào!

Vương Hồng Anh

Tướng Lê Văn Hưng

Tôi tin Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng đã thành thần đúng như câu dân gian thường nói về những vị dũng tướng “sinh vi tướng, tử vi thần”.
Tôi chứng kiến cuộc sống uy dũng của ông qua nhiều giai thoại. Một trong những giai thoại đó xảy ra vào năm 1972, trong cuộc tổng tấn công của Việt Cộng. Năm đó, ông tử thủ An Lộc, và tôi ra vào An Lộc nhiều lần, theo dõi những nỗ lực của Sư Đoàn 5 Bộ Binh trong cố gắng chặn đứng mũi dùi của địch tại An Lộc, thị trấn chỉ cách thủ đô Sài Gòn 3 tiếng đồng hồ, nếu đoàn chiến xa T-54 của chúng không vướng vào sức kháng cự quyết liệt của chiến sĩ Việt Nam Cộng Hòa.
Ngày 13 tháng Tư 1972, quân Việt Cộng từ 3 mặt tấn công vào tuyến phòng thủ của Quân Lực VNCH, hai mặt Đông và Tây đánh bật địch quân ra nhưng tuyến phòng thủ hướng Bắc bục, nhiều chiếc T-54 của địch húc rào gai tràn vào.
Đang viết bài tại tòa soạn, (số 2bis đường Hồng Thập Tự), thì được tin địch quân chọc thủng phòng tuyến, tôi điện thoại gọi Đại tá Lê Văn Hưng, Tư lệnh Sư đoàn, và hỏi ông, “Tình hình ở trỏng ra sao?”
“Đái ra quần rồi chứ sao?”
Tướng Hưng có lối nói đùa rất tỉnh, nghe giọng đùa cợt quen thuộc tôi thấy yên bụng và bảo ông, “Viết xong bài tường thuật này, tôi sẽ ra Tân Sơn Nhất, kiếm trực thăng vào gặp anh.”
“Đừng đáp trên nóc hầm nghen, ở trển không còn trống như ngày hôm qua nữa,”tướng Hưng bảo tôi.
“Có gì ở trển?”
“Một chiếc T-54.”
Tôi tưởng tướng Hưng vẫn nói giỡn như thường khi, nhưng khi tôi vào đến An Lộc, Đại tá Lê Quang Lưỡng, Tư lệnh Lữ Đoàn 1 Nhảy Dù, bảo tôi là ổng mới gỡ “con rận”đó trên lưng Đại tá Hưng.
Ông Lưỡng bảo tôi, “Anh tìm anh Mạch Văn Trường để nghe ông vua diệt T-54 kể chuyện đánh tăng địch”.
Chúng tôi có một số bạn chung, bọn “nhà giàu”sống tại Sài Gòn với mặc cảm mắc nợ người xả thân ngoài chiến tuyến; mỗi lần tôi vào chiến trường quan sát để viết bài, họ gửi tôi một, hai thùng, mỗi thùng 12 chai rượu mạnh, để tặng người cầm súng.
Trong ảnh, bạn đọc có thể thấy Đại tá Lưỡng, Đại tá Nhật, mỗi người cầm trong tay một chai martell. Tôi uống với họ, mừng hay không mừng về những chiến công của họ. Có nhiều chiến công không mừng mà còn lo nữa, vì dù tiếng súng đã im, nhưng giao tranh chưa dứt.
Tôi gặp Lưỡng trên đường vào gặp Hưng, người “anh hùng tỉnh rụi”, cái tên bè bạn đặt cho anh. Tôi biết rất nhiều về Hưng, nhưng tôi không chứng kiến phút quyết liệt, anh đẩy vợ và đẩy người sĩ quan tùy viên tâm phúc ra khỏi phòng, để làm hành động không hàng giặc. Hơn nữa tôi không viết về anh được như anh Nghĩa, người sĩ quan tùy viên của anh, viết: viết với lòng yêu thương kính cẩn của một vị trung úy viết về ông tướng mà anh Nghĩa tâm phục, khẩu phục.
Tôi vô cùng chân thành giới thiệu bài viết của anh Nghĩa.

* * *

Bài viết về phút cuối cùng của Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng
– Tác giả: Nghĩa*
(*Chuẩn tướng Mạch Văn Trường, người cộng tác mật thiết với Chuẩn tướng Lê Văn Hưng, cho tôi biết cấp bực chót của anh Nghĩa là Trung úy.)

Tháng 8-1999, tôi dọn nhà đến một căn phòng mới mướn. Trên ngăn kệ cao của closet, người mướn trước để sót lại một xấp “hồi ký”dày 27 trang viết tay.
Đêm đầu tiên ở phòng trọ mới, tôi đọc đoạn “hồi ký”bi hùng đó với nỗi niềm thương cảm không tả xiết: Thương cảm cho một danh tướng trong bước đường cùng của vận nước đen tối; thương cảm cho phu nhân và hai người con của vị Tướng tuẫn tiết và thương cảm vị sĩ quan trẻ, có lẽ là Chánh Văn Phòng của vị tướng anh hùng, tức tác giả của đoạn “hồi ký”này.
Tháng 4-1999, tôi đọc được bài viết của bà Lê Văn Hưng (Phạm Thị Kim Hoàng) có nhắc đến vị sĩ quan tên Nghĩa ở kề cận với Tướng Hưng đến giây phút chót, chắc đó là ông Nghĩa đã viết đoạn hồi ký mà tôi may mắn có được.
Gần cuối năm 1999, tôi đọc truyện dài Nửa Sơn Hà của nữ văn sĩ Kathy Trần có đoạn viết về Tướng Nam, Tướng Hưng, tác giả chú thích là lấy tài liệu từ Phạm Trung Nghĩa. Nghĩa này chắc là Nghĩa khác.
Tôi không truy tìm được tông tích tác giả của xấp tài liệu này để ngỏ ý xin phép được phổ biến. Tôi nghĩ đây là tài liệu quí hiếm để người viết sử đối chiếu với các tài liệu khác, nên tôi tự ý cho phổ biến trước và sẽ xin phép sau, khi nào biết được tác giả. Mong ông Nghĩa hoặc người em của ông Nghĩa có đọc được thì hãy liên lạc với tôi (qua nhà báo).
Hồi ký hay ký ức là những bài viết kể lại sự kiện đã qua theo trí nhớ, theo chủ quan của người viết. Do vậy, nhiều người cùng chứng kiến chung một sự kiện mà khi kể lại, từng câu chuyện của từng người đem đối chiếu thấy không giống nhau 100%. Người viết sử muốn được trung thực thường hay tìm đọc những tài liệu từ các hồi ký, nhứt là hồi ký của những người viết không nhằm mục đích riêng tư nào, để chọn lựa lấy những chi tiết đáng tin cậy, thuyết phục được người đọc mà dựng lại lịch sử. Đọc đoạn hồi ký ngắn của ông Nghĩa, tôi nghĩ đây là người viết hồi ký không có dụng tâm gì cả, đáng tin cậy là trung thực trong tầm nhìn, trong giới hạn hiểu biết của ông, cạnh vị Tướng anh hùng của Quân Lực VNCH, người đã quyết định can đảm vào phút chót cuộc đời quân nhân của mình “Tướng chết theo thành”.
Trân trọng giới thiệu cùng độc giả đoạn hồi ký đặc biệt này.
San Jose, tháng 3-2000
Nguyễn Phước Đáng

Tác giả gởi người em.
“… Anh cố gắng nhớ và ghi lại những gì xảy ra vào những ngày hấp hối của Quân Đoàn IV và cái chết bi hùng của Tướng Lê Văn Hưng. Không là văn sĩ, anh cũng không làm khung trước, nhớ gì viết nấy. Anh mong những vị chỉ huy trực tiếp của Tướng Hưng, những người đã từng trù dập, bôi bẩn vị danh tướng khi ông còn tử thủ ở An Lộc địa. Anh muốn nói tới Tổng thống Thiệu, Tướng 3 sao Nguyễn Văn Minh hiện còn sống tại Mỹ. Nếu quí vị còn sĩ khí của một vị tướng lãnh, hãy viết lên sự thật, để tỏ lòng sám hối, về những ngày tháng hè 72 An Lộc – Bình Long.
“… Nếu có thể, em liên lạc với Thiếu tá Phương, Trung Úy Phúc, đi diện HO, hiện sống tại Mỹ, để biết thêm chi tiết về Tướng Hưng trong thời gian ông ở Sư Đoàn 5 BB mà anh không biết…”

Vào chuyện
Lúc đó khoảng 8h30 tối ngày 30-04-75. Bộ quân phục nghiêm chỉnh vẫn còn trên người Chuẩn Tướng và tôi. Bên trong phòng ngủ Chuẩn Tướng, ngay sát đầu cầu thang trên lầu, sau nụ hôn vĩnh biệt của phu nhân vừa kịp đặt trên má chồng, ông Tướng đã vội vã đẩy bà ra phía ngoài và đóng nhanh cánh cửa. Lúc quay người lại, thấy tôi còn đứng lại trong phòng, giọng ông thảng thốt:
– Nghĩa! Mầy đi ra…
Vừa nói ông vừa nắm lấy tay tôi lôi về phía cửa. Tôi bệu bạo:
– Tôi ở lại cùng Thiếu Tướng!?…(*)
Sự dứt khoát của nghiêm lệnh hằng ngày trong giây phút xúc động mãnh liệt làm giọng Chuẩn Tướng lạc đi. Cái níu đẩy tôi ra ngoài, sự cọ xát ngắn ngủi đầy bi thương ấy khiến tôi có cảm giác mình như là thỏi sắt đang bị rút ra khỏi cục nam châm. Ôi! Cái chết hoàn toàn được sắp đặt trước, lần đầu tiên trong đời tôi mới chứng kiến. Tôi chợt oà khóc!
Đứng bên ngoài, tôi và phu nhân tai còn vọng nghe tiếng rít cài then khô khốc từ bên trong. Bất giác, tôi và bà Tướng mọp người xuống nền gạch, cố đưa mắt nhìn vào khe hở dưới cửa. Mọi việc diễn ra không đầy 1 phút sau đó. Một tiếng nổ chát chúa vang lên bên trong cánh cửa. Tôi hoảng hốt ngưng khóc, đứng bật dậy. Với tiếng nổ đó, tôi đau đớn nhận rõ chắc chắn chuyện gì đã xảy ra rồi! Trong phòng không còn tiếng động nào. Tôi đưa tay thử lay động cánh cửa. Vô hiệu! Tôi lùi lại nhìn xuống phía chân cầu thang kêu lớn khi thấy có 3-4 cái đầu đang nhớn nhác nhìn lên (hình như có cả Thiếu Tá Phương):
– Kiếm một con dao… cạy cửa mau…
Người tài xế tên Giêng cầm con dao to, nhọn, chạy nhanh lên và đích thân nạy cánh cửa bật ra. Mọi người cùng ùa vào phòng. Tôi bàng hoàng khóc ngất. Tất cả cũng khóc và chạy đến chỗ giường ngủ của Chuẩn Tướng. Ông đang ngửa người, nửa thân trên nằm trên tấm nệm trải drap trắng, hai cánh tay buông ngang, khuy cổ và ngực áo bung ra, màu máu tươi nhuộm thắm phần ngực trái chiếc áo thun trắng bên trong. Cả phần chân Chuẩn Tướng buông thõng bên ngoài, hai gót giày chấm đất. Có lẽ Chuẩn Tướng đã ngồi cạnh thành giường, 1 tay cởi 2 khuy áo trên, tay kia đưa nòng colt 45 ấn vào chỗ trái tim…
Chúng tôi đặt Chuẩn Tướng ngay ngắn lại trên giường, gương mặt ông xanh tái, lấm tấm mồ hôi, miệng há, đôi mắt chưa khép, biểu lộ sự đau đớn cực độ. Vừa đặt đầu ông lên gối, bà Tướng vuốt mắt cho chồng… Chuẩn Tướng đã yên nghỉ! Viên đạn oan nghiệt đã xuyên thật chính xác quả tim người anh hùng.
Đứa con đầu lòng, Lê Uy Hải, lúc đó vừa tròn 6 tuổi, đã nhặt được đầu đạn đưa cho mọi người xem, rồi mím môi khép 5 ngón tay giữ chặt “kỷ vật”. Nhìn cử chỉ ấy, tôi nghĩ tuổi thơ ngây dại của cháu đã trôi qua mất kể từ buổi tối hôm nay rồi. Khoảng một tiếng đồng hồ trước đó hai anh em (em gái 3 tuổi) còn đùa giỡn trên tấm nệm cao su đặt dưới nền gạch cạnh phòng cha, hai đứa bé không hề hay biết lát nữa đây vành khăn tang trắng sẽ phủ lên tuổi ấu thơ hồn nhiên của mình.
………..
…Quả thật tôi chỉ biết rõ quãng đời của Chuẩn Tướng vào thời điểm Cần Thơ, thủ phủ Miền Tây, thật sự đã vô chủ. Cần Thơ gần như chỉ bước vào cuộc trong đêm 29-4. Mười giờ đêm, lúc tôi đang mơ màng, điện thoại từ T.O.C/ Quân Đoàn gọi sang trình Chuẩn Tướng diễn tiến tình hình: Các trực thăng từ Quân Đoàn 3, từ Sài Gòn… bay lẻ loi về miền Tây đáp bất kỳ nơi nào đáp được… Tôi thức luôn tới sáng vì điện thoại gọi đến liên tục.
12 giờ khuya, nghe có tiếng xôn xao ồn ào ngoài cổng dinh, tôi bước ra và nhìn thấy hàng dòng người cuồn cuộn tuôn trên đại lộ phía bên kia công viên. Cuộc diễu hành náo loạn như đang giữa ban ngày. Tôi kinh ngạc hỏi người lính gác cổng mới biết đó là đoàn người kéo nhau ra bến Ninh Kiều để lên tàu Hải Quân… ra đi. Tôi ngỡ ngàng tự nhủ: “Như vậy là Phó Đề Đốc Thăng tự động dẫn đoàn tàu của ông di tản ư?”(Các lực lượng Không Quân, Hải Quân, lực lượng Đặc Chủng ở miền Tây đều nằm trong hệ thống điều động của BTL/ QuĐ IV). Trong làn sóng người lục tục kéo đi, bất chợt tôi nhìn thấy xe của Chuẩn Tướng Chương Dzềnh Quây, Tham Mưu Trưởng QuĐ IV. Tôi quay vào, gọi ngay cho Thiếu Tá Trưởng Toán Trực TOC hỏi ông có biết vụ này không, rồi vội vã lên lầu trình Chuẩn Tướng. Chính ông cũng đang thức như tôi, và bảo tôi gọi Đại Tá Trang, Tư Lệnh Hải Quân Vùng IV Sông Ngòi để ông nói chuyện.
Lúc đó đã 3 giờ sáng ngày 30-4. Tôi đã thấm mệt nhưng vẫn cố nhướng mắt chịu đựng. Giờ này giá có Phúc thì hết chê. Phúc khỏe mạnh, tháo vát, giỏi giắn… Nhưng Trung Úy Phúc đang kẹt lại Sài Gòn sau một chuyến “quá giang”trực thăng về Sài Gòn, ngày trở lại đơn vị bằng đường bộ, quốc lộ Sài Gòn – Long An bị cộng quân cắt đứt với trận chiến dằn dai nhiều ngày, chưa khai thông được.
7 giờ 30 sáng 30-4, tại phòng họp BTL, như thường lệ, Phòng 3 thuyết trình tình hình trong đêm vừa qua trước 2 vị Tướng và các quan chức. Lần này có vẻ nghiêm trọng về việc lực lượng Hải Quân Vùng 4 Duyên Hải bỏ đi, mang theo Chuẩn Tướng Tham Mưu Trưởng, Đại Tá Diệp, Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh (Cần Thơ), Thiếu Tá Chánh Văn Phòng Tư Lệnh, Đại Tá Đạt, Chánh Sở Hành Chánh & Tài Chánh Số 5.
8 giờ 30 Đại Tá Thiên được cử tạm thời đảm trách chức vụ Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh.
9 giờ 30 hai vị Tướng Lãnh gặp nhau trong phòng việc của Tư Lệnh Phó. Chuẩn Tướng bảo tôi gọi Chuẩn Tướng Lạc, Tư Lệnh Sư Đoàn 9 đang chỉ huy công cuộc giải tỏa quốc lộ Long An, nói ông khẩn dùng trực thăng bay về Bộ Tổng Tham Mưu để biết rõ tình hình thực tại. Trên đường bay, Tướng Lạc không bắt liên lạc được với không phận Sài Gòn, nên phải quay về. Chuẩn Tướng lại lệnh cho tôi gọi về Bộ TThM để ông gặp Tướng Trưởng Phòng 3. Tôi lạnh người khi nghe tiếng người tùy phái cho biết:
“Tổng Tham Mưu hiện không còn ai. Các Tướng Tá, Sĩ Quan cao cấp đang ở tại cơ quan MACV của Hoa Kỳ”.
Tôi hiểu liền các vị ấy có mặt tại đó để làm gì! Sau vị nguyên thủ quốc gia (Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu), B/TThM cũng đã lặng lẽ đóng cửa!… Và như vậy, có nghĩa là riêng QuĐ IV phải tự lo liệu lấy. Buông ống điện thoại xuống, tôi đứng ỳ tại chỗ, một cảm giác tê buốt chạy dọc thân thể: “Đất nước thực sự đã mất rồi!…”Tôi bước vào phòng trình tự sự lên 2 vị Tướng. Tôi thấy mắt Chuẩn Tướng hơi chùng xuống, rồi gật đầu tỏ ý không cần thêm gì nữa. Tôi bước ra ngoài, một nhân viên văn phòng trao chiếc radio và cho biết đài phát thanh Sài Gòn thông báo dân chúng đón nghe thông điệp khẩn của Tổng Thống Dương Văn Minh. Tôi quay trở vào phòng trình Chuẩn Tướng. Lúc này Thiếu Tướng Nam đã trở về phòng ông. Chuẩn Tướng vội vã rời phòng bước xuống bậc thềm hướng về tòa nhà Tư Lệnh. 15 phút sau, tôi ghi vội nội dung lời phát biểu cuối cùng của Tổng Thống Minh, định sang trình 2 vị Tướng. Gặp Chuẩn Tướng đang bước xuống bậc tam cấp, tôi vừa trao tờ giấy vừa nói vắn tắt:
– Tổng Thống Minh đã đầu hàng!…
Chuẩn Tướng quày quả đẩy cửa vào Phòng Tư Lệnh. 15 phút sau, Chuẩn Tướng trở lại văn phòng mình và bảo tôi gọi để ông nói chuyện cùng 16 Tiểu Khu Trưởng. Đó là lệnh ban hành thiết quân luật trên toàn lãnh thổ Vùng IV kể từ giờ phút này. Các đơn vị dừng quân và bố trí tại chỗ chờ lệnh Quân Đoàn. Nếu nó “bung”thì làm lại liền. Thiếu Tướng Tư Lệnh cũng gọi cho 3 Tư Lệnh Sư Đoàn 7, 9 và 21.
Mặc dù nhận rõ thông điệp của Tổng Thống Minh, nhưng hai vị Tướng Lãnh trách nhiệm sinh tử Vùng IV lúc này muốn ngăn trở những hỗn loạn có thể xảy ra trong cảnh tối tăm này. Chính vì vậy mà giờ phút này, Chuẩn Tướng vẫn liên lạc cùng Tướng Tần, Tư Lệnh Vùng IV Không Quân, hỏi ông về việc sử dụng bom CPU. Tôi không rõ chuyện thảo luận của 2 vị về việc này, nhưng 1 tiếng sau đó, sau khi rời phòng họp, Tướng Tần cùng các sĩ quan của ông đã lên các phi cơ rời căn cứ… nối gót lực lượng Hải Quân!….
Giờ phút này, tôi đang giúp Chuẩn Tướng điều chỉnh lại bộ dây ba chạc trên người ông, Chuẩn Tướng như đang trong tư thế đối đầu tại chiến tuyến. Cửa phòng xịch mở, 3-4 Đại Tá tất bật kéo nhau vào. Các vị này trong số 7 vị Đại Tá được Tư Lệnh Quân Đoàn đề cử vào chức vụ Phụ Tá Tư Lệnh Phó đặc trách về Xây Dựng & Bình Định, Địa Phương Quân & Nghĩa Quân… Thấy điệu dạng họ như vậy, Chuẩn Tướng cười mỉm:
– Các ông làm gì vậy? Tôi còn đây mà.
Thì ra các vị đến để yêu cầu ông Tướng trình Tướng Tư Lệnh để họ được đảm nhiệm chức vụ Trung Đoàn Trưởng, lấp chỗ các vị đã tự ý rời nhiệm. Tôi ngầm hiểu ý nghĩa về việc yêu cầu đó: Thông thường các Trung Đoàn Trưởng được cấp trực thăng C & C sử dụng trong ngày. Tôi được biết Đại Tá Bùi Huy Sảnh, Trung Đoàn 33 cũng vừa rời bỏ chức vụ. Chẳng biết ông có di tản được không?
Ban hành thiết quân luật, Vùng IV đang có vẻ chuẩn bị đối phó với tình hình hơn là treo cờ hàng. Ngay khi hay tin Sài Gòn thất thủ, chợ búa, hàng quán được dân chúng Cần Thơ mua vội bán vội, cố thu xếp nhanh chóng trở về nhà, vẻ mặt ai nấy đều lo âu. Xe lướt nhanh hơn, người đi bộ gần như chạy, đường phố như chuẩn bị đón cơn mưa lớn.
Sau bức thông điệp đầu hàng của Tổng Thống Minh, mọi liên lạc viễn thông với Sài Gòn đều bị cắt đứt. Chúng tôi không biết gì về tình hình Thủ Đô. Tuy vậy, cho đến trưa, tình hình Cần Thơ và 16 tỉnh lỵ vẫn yên tĩnh, chưa có bóng dáng một nhóm cộng quân nào vào các Thị Xã. Các Tiểu Khu vẫn còn liên lạc tốt với Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn.
Buổi cơm trưa thật lạnh lẽo, tôi không thấy đói, nuốt vội qua loa, rồi để nguyên binh phục, kể cả giày, ngả lưng trên giường. Tôi biết, kể từ giờ phút này, biến cố sẽ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Buổi sáng, tôi đã tự ý gọi Đại Đội Trưởng Tổng Hành Dinh yêu cầu cho đổ đầy xăng chiếc Jeep Tư Lệnh Phó, xe tôi, xe Ford Custom mang số ẩn tế dùng cho gia đình Chuẩn Tướng. Cho tới giờ phút này, tôi chưa hề được Chuẩn Tướng ra lệnh lạc nào cả…
13 giờ, chúng tôi trở vào Bộ Tư Lệnh, cách tư dinh Tư Lệnh Phó độ 300 mét. Tôi thấy xe Falcon đen cũng đưa bà Tướng cùng 2 con rời cổng dinh. Tôi hơi ngạc nhiên và lo lắng… Có tiếng ồn ào phía Phòng 2 Quân Đoàn: Một núi giấy tờ đang được đốt cháy ngùn ngụt. Có lẽ các hồ sơ quan trọng được thiêu hủy? Tôi không rõ Đại Tá Trưởng Phòng có còn đó không, và việc thiêu hủy giấy tờ này do lệnh của ai? Tôi cũng không rõ giờ phút này có còn đủ các Trưởng Phòng không? Chuẩn Tướng cũng không gọi đến vị Trưởng Phòng nào, ngay cả Trung Tá Tòng, Trưởng Phòng 3 ! Tôi tự hỏi: “Trong tình huống này, 2 vị Tướng có còn chỉ huy cấp dưới được nữa hay không”. Khuôn viên Bộ Tư Lệnh vắng ngắt, nghẹt thở.
14 giờ 30, Chuẩn Tướng lại trở về tư dinh. Ông bước lên bực thềm, nhưng không bước vào trong như mọi khi, mà đứng tại hiên tiền đình, nhìn mông lung ra khoảnh sân phía trước. Tôi đứng bên trái Chuẩn Tướng, cách vài bước, hơi chếch phía sau, hướng tầm mắt theo ông. Mới vào Hè mà cảnh vật như đã Thu, Đông. Trời chiều ảm đạm, thê lương, từng mảng mưa bụi lạnh lẽo thả xuống tàn phượng vĩ đang nở hoa đỏ ối giữa sân, thêm hình ảnh bất động của Chuẩn Tướng trước mặt, tất cả mang đến cho tôi một cảm giác u-buồn, tan tát… Bất chợt, Chuẩn Tướng quay lại hỏi tôi:
– Cô đi đâu?
– Thưa, cô đến nhà thờ xin lễ rửa tội.
Vừa lúc đó cửa cổng dinh mở toang, chiếc Falcon trườn vào. Tôi thở ra nhẹ nhõm.
Mấy ngày nay, tình hình chiến sự, tình hình đất nước đen tối như vậy, mà người thợ may riêng không ngớt giải quyết mớ vải vóc mới tinh cho bà Tướng cùng thân quyến. Bây giờ lại đi xin rửa tội. Tôi không bao giờ nghĩ ra chuyện ông bà Tướng đã âm thầm cùng bàn bạc chuẩn bị cái chết cho toàn gia đình. Và phần bà đã dọn mình bằng chính cung cách riêng của bà. Bà muốn khi từ giã cõi đời sẽ cùng con cái được đón nhận là con chiên của Chúa, và bước vào áo quan với bộ đồ mới tinh, trong trắng… Nhưng vào phút cuối cùng, khi nhìn thấy 2 con thơ dại, Chuẩn Tướng thay đổi ý và nằn nì bà ở lại đùm bọc 2 con.
Buổi sáng, ngay sau khi bản thông điệp của Tổng Thống Minh vừa dứt, bà Tướng gọi sang văn phòng bảo tôi tìm cho bà càng nhiều càng tốt thuốc valium 5mg. Bà Tướng vốn bị bệnh mất ngủ đã nhiều năm, nên việc bà cần loại thuốc này không có gì đặc biệt, tôi nghĩ vậy. Nhưng khi gọi cho Trung Tá Lưu, Liên Đoàn Trưởng 74 Quân Y, ông khuyên tôi đừng nên can dự vào, để lương tâm khỏi bị ray rứt sau này. Rốt cuộc tôi xuống trạm xá Quân Đoàn và người sĩ quan trợ y đã dốc hết số thuốc còn lại trên trăm viên. Bà Tướng nhận số thuốc rất điềm nhiên trước giờ đi nhà thờ xin lễ rửa tội.
Gương mặt Chuẩn Tướng thoáng chút rạng rỡ khi thấy vợ con về đến dinh an toàn. Ông bước đến bên xe đón bà, trao đổi vài lời rồi lên xe trở lại Bộ Tư Lệnh.
Đã 3 giờ chiều. Tôi được biết có cuộc hẹn gặp gỡ thảo luận về việc tiếp thu Cần Thơ giữa BTL/QuĐ IV với đại diện của phía cộng quân. Mọi sự sẽ diễn ra tại văn phòng Tư Lệnh. Tôi không rõ ngoài 2 vị Tướng còn có những ai khác, phía cộng quân bao nhiêu người và ai đã thảo ra văn bản để đôi bên cùng đồng ý ký kết.
16 giờ, Chuẩn Tướng rời Bộ Tư Lệnh và đây là lần hiện diện cuối cùng của ông tại bản doanh này. Xe chúng tôi vừa ra khỏi cổng chánh, ông ra hiệu dừng lại và bước xuống xe xem coi chuyện gì xảy ra ở phía trước. Bên kia đường, đối diện vòng đai và cổng chánh Bộ Tư Lệnh có rất nhiều thanh niên, kẻ quần tây, người quần đùi ở trần đang nối đuôi thành hàng dài phóng chân rảo nhanh. Tôi ra hiệu cho anh quân cảnh sang bên kia đường đón chận hỏi 1 người trong số họ. Thì ra những thanh niên này thoát ra từ trại Tuyển Mộ Nhập Ngũ đã bỏ ngỏ. Giờ phút này có lẽ không gì thần tiên bằng là họ đang được trở lại nhà. Hèn gì họ vừa chạy vừa biểu lộ vẻ vui mừng rối rít. Nhìn cảnh tượng trước mắt, tự dưng tôi thấy dâng lên trong lòng nỗi cô độc, trống vắng làm sao! Hình như chỉ còn mỗi một xe jeep chúng tôi độc hành trên con đường ngắn quen thuộc, mà giờ đây như xa lạ và dài lê thê ra…
Đến ngã tư nơi tiếp giao giữa Bộ Tư Lệnh với dinh Tư Lệnh Phó và dinh Tiểu Khu Trưởng Phong Dinh, Chuẩn Tướng ra hiệu dừng xe. Ông bước xuống, đứng nhìn bao quát, có vẻ như đang sắp xếp một thế trận. Tôi nhìn ra 4 phía lộ, và nhận ra vẻ trống vắng rờn rợn. Lác đác vài xe gắn máy, xe thồ, xe đạp đang hối hả gò lưng. Cả một góc phố thoi thóp, im ỉm khiến tôi liên tưởng đến những đoạn film có cảnh tương tự: Les Sept Mercenaires, O.K Coral… thời còn đi học. Bỗng từ phía chân cầu Nhị Kiều xuất hiện một chiếc xe jeep đang theo đại lộ Hòa Bình lao nhanh về phía chúng tôi. Chiếc jeep dừng lại cạnh xe Chuẩn Tướng. Người ngồi trên xe là Tướng Mạch Văn Trường, tân Tư Lệnh Sư Đoàn 21. Ông là một trong vài vị Tư Lệnh được Tổng Thống Thiệu ra sắc lệnh thăng cấp trước khi lên phi cơ rời Việt Nam. Tướng Trường xuống xe trình Tướng Tư Lệnh Phó Quân Đoàn điều gì tôi không nghe được, nhưng với vẻ hấp tấp và gương mặt đầy lo âu, cộng với tình hình trước mặt, tôi đoán chắc Bộ Tư Lệnh của ông hiện đã tan rã. Chuẩn Tướng bảo Tướng Trường theo ông về dinh.
Tại phòng khách, hai vị cùng ngồi trên ghế “canapé”. Với giọng nói cứng cỏi, quả quyết, ông nói với Tướng Trường rằng giờ này ông chỉ huy. Ông bảo Tướng Trường cùng Trung Tá Thành, Thiết Đoàn Trưởng Thiết Đoàn 9 Kỵ Binh đến đóng bản doanh tại dinh Tiểu Khu Trưởng. Chuẩn Tướng bảo Trung Tá Thành lệnh cho 2 Chi Đoàn thiết vận xa M.113 đang ở vùng quận lỵ Bình Minh lập tức quay về Cần Thơ và cho người đến tận bến phà lệnh cho toán chuyển vận phải túc trực ưu tiên chở đoàn thiết vận xa vượt sông. Ra lệnh xong, Chuẩn Tướng đứng lên, vào phòng rửa mặt trong lúc Tướng Trường vội vã ra xe đến dinh Tiểu Khu Trưởng.
Đèn phòng vừa bật sáng, tôi nhìn ra cửa sổ, bóng tối đã nhợt nhờ ngoài sân. Phía cuối phòng, bà Tướng và gia đình đã ngồi vào bàn ăn, có vẻ vẫn an bình như mọi bửa cơm tối hằng ngày. Người lính phục dịch đặt trên bàn tiếp khách, chỗ Chuẩn Tướng đang ngồi, 1 cái dĩa, muỗng và 2 trứng gà ngâm trong ly nước sôi.
Tôi đứng cạnh bàn viết đặt sát cửa sổ phòng khách, trên bàn có 2 máy điện thoại: 1 tự động và 1 qua tổng đài viên. Tối nay tôi tăng cường thêm 1 PRC 25 mở tần số của BTL/SĐ 21 và Thiết Đoàn 9 để liên lạc, theo dõi. Hình như hệ thống truyền tin của Bộ Tư Lệnh đã ngưng hoạt động từ 17 giờ, vì tôi gọi không có tiếng tổng đài viên trả lời. Còn máy tự động dường như bị cắt. Lúc này, Thiếu tá Trịnh Đức Phương, nguyên Chánh Văn Phòng, cũng từ dưới phòng anh bước lên đứng phía trái Chuẩn Tướng. Cả 3 chúng tôi im lặng, hồi hộp nhìn về phía màn hình TV vẫn sáng trong, im ỉm.
Phái đoàn 2 bên rời BTL/QuĐ đã gần 2 tiếng đồng hồ và chính lúc này là giờ qui định phát thanh. Chúng tôi không phải chờ đợi lâu thêm. Có tiếng nói vọng ra từ TV, tự xưng là phát ngôn viên của BTL/QuĐ và đọc văn bản thông báo “BTL đã đầu hàng. Các đơn vị phải buông trao vũ khí…”Bản văn vắn tắt, nhưng thật rõ ràng, đầy đủ. Nghe đọc bản văn như vậy, tất cả chúng tôi, những người hiểu rõ nội dung bản văn chung trong phiên hợp 2 bên, đều chết điếng: Đây không phải là bản văn đã được 2 bên thỏa thuận ký kết. Lập tức Chuẩn Tướng bảo tôi chuyền máy PRC 25 đến chỗ ông ngồi, đích thân ông cầm ống liên hợp gọi “Hổ Cáp”(danh hiệu Trung Tá Thành trong đặc lệnh truyền tin) bảo ông Thành dùng M 113 lái đến dinh để đi cùng Chuẩn Tướng đến đài phát thanh. Nghe đến đó, tôi lùi một bước về phía cửa, ra hiệu cho Trung Sĩ Sao (cận vệ) chuẩn bị sẵn sàng để di chuyển. Tôi trở lại chỗ cũ vừa kịp nghe lời đáp của Trung Tá Thành vang lên trong loa khuếch đại. Lời lẽ vẫn còn mang vẻ lễ độ của một cấp thừa hành, nhưng rõ ràng đó là lời từ chối thi hành lệnh. Thật khó đoan chắc có lực lượng đáng kể nào của cộng quân đã có mặt ở Thị Xã Hay Bộ Tư Lệnh chưa, nhưng với văn bản vừa phát ra, chắc chắn sẽ hung hiểm vô cùng nếu tự nhiên xuất hiện một chiến xa rầm rộ di chuyển trong đường phố lúc này. Tôi tin rằng Chuẩn Tướng hiểu rõ điều đó. Trong cảnh biến động này, tuy lòng có lo âu, sợ hãi, nhưng nhìn thấy đức tính gan dạ, bất khuất của ông, như là dũng tướng tới bước đường cùng vẫn tả xung hữu đột, tôi khâm phục ông xiết bao! Với tinh thần tự nhận trách nhiệm tối cao, hai vị Tướng Lãnh muốn quân nhân phải được bảo đảm an toàn, ít nhứt cũng cho những binh sĩ khi họ không còn được quyền cầm vũ khí trong tay nữa. Sau bản thông điệp của Tổng Thống Minh, có ai biết được chắc chắn về số phận của những đơn vị trước đó đang trực tiếp giao tranh ác liệt cùng các lực lượng cộng quân và rồi bổng dưng họ phải buông súng trong cơn hận thù còn sôi sục của đối phương?
Đang miên man nghĩ suy, tôi giựt mình khi điện thoại reo vang. Nhấc ống nghe lên, tôi vội chuyển liền cho Chuẩn Tướng khi nhận ra giọng trầm trầm, chậm rãi của Thiếu Tướng Tư Lệnh. Có lẽ Thiếu Tướng hỏi Chuẩn Tướng về bản văn phát thanh vừa rồi. Tôi nghe Chuẩn Tướng trình bày là mọi việc đã giao cho Đại Tá Sáu, ThMPh/ ChTrChTr/QuĐ đại diện cùng đi với phe cộng quân. Vì sao bản văn chung bị tráo? Và tình trạng Đại Tá Sáu ra sao chỉ duy nhứt Đ/T Sáu biết mà thôi. Tôi không nghe Chuẩn Tướng báo với Thiếu Tướng chuyện ông tính đến đài phát thanh mà không thành. Cuộc điện đàm giữa 2 vị Tướng kết thúc. Buông ống liên hợp xuống, Chuẩn Tướng thừ người, ngồi bất động. Lần đầu tiên tôi nhận ra vẻ mệt nhọc tuyệt vọng trên gương mặt ông. Chỗ dựa cuối cùng đối với đơn vị và những đàn em thân tín mà ông từng chỉ huy giờ đã bật gốc. Trong một cử chỉ buông xuôi, Chuẩn Tướng đưa 2 tay về phía trước, bằng một giọng nói oai mãnh, bất khuất ông đã quất về phía tôi và Thiếu Tá Phương một tràng lanh lảnh và đanh thép, khiến tôi rụng rời, vì biết sắp phải xa ông, vị Tướng tôi luôn kính quí. Tôi cúi đầu lặng thinh, cả một khoảnh khắc chơi vơi để 3 chúng tôi mỗi người theo đuổi một ý nghĩ riêng…
Chuẩn tướng đứng lên bảo tôi tập hợp toán lính gác để ông nói chuyện. Thượng Sĩ Trưởng Toán Tiểu Đội bảo vệ dinh Tư Lệnh Phó tập hợp quân thành 2 hàng bên hông dinh. Bằng một giọng cảm động, chân tình, Chuẩn Tướng cám ơn họ đã vẫn ở bên ông đến giờ phút cuối cùng này và bảo anh em bây giờ ai muốn rời dinh cứ tùy ý… Bổng có tiếng người lính gác ở trên cao báo động có xe cộng quân đến. Lập tức Chuẩn Tướng chạy vào trong nhà. Tôi hô toán cận vệ vào vị trí, rồi xách máy PRC 25 theo ông lên lầu. Chuẩn Tướng vào phòng ngủ rồi trở ra với khẩu XM 18 trên tay, chạy ra bao lơn, nằm xuống nhìn ra phía đường. Lúc này tôi mới nhận ra đường phố đang tối thui. Điện toàn bộ Thị Xã bị tắt ngúm. Như vậy điện trong dinh hiện có là do đường dây từ máy phát điện riêng của BTL/QuĐ. Trong bóng đêm u-uất đó, 2 vệt sáng rực phát ra từ 2 đèn pha chiếc xe jeep vừa rời cổng dinh Tiểu Khu, quét thẳng về phía chúng tôi trông thật ghê rợn. Nhưng khi ra đến ngã tư, ánh đèn lại rẻ trái theo đại lộ Hòa Bình hướng về BTL/QuĐ. Họ không đến chỗ chúng tôi. Chuẩn Tướng đứng lên, lùi trở về phòng. Tôi dùng máy PRC 25 thử gọi danh hiệu của Tướng Trường và Trung Tá Thành. Gọi 3-4 lần vẫn khong có tiếng đáp lại. Có vẻ như hệ thống máy đầu bên kia đã ngưng. Chắc chắn phải có biến cố bên dinh tiểu Khu Trưởng, chỗ Tướng Trường và Tá Thành đến đóng bản doanh hồi chiều. Dinh TKhTr và dinh TLPh chỉ cách nhau hơn 300m thôi, nếu có tiếng súng nổ chúng tôi phải nghe được, nhưng sự việc máy không còn mở túc trực chứng tỏ tình trạng Tướng Trường rất bi quan. Có thể ông và Trung Tá Thành đã bị bắt. Và như vậy tình hình trong dinh chúng tôi cũng rất nguy ngập, không rõ địch sẽ xuất hiện lúc nào. Có lẽ Chuẩn Tướng thấy rằng thì giờ đang rất cấp bách, nên ông bước đến đẩy cửa vào phòng bà. Và đây chính là giờ phút ông thuyết phục bà cần phải sống. Hai cháu bé đang vô tư đùa giỡn trên tấm nệm cao su đặt dưới nền gạch lối ra bao lơn. Tôi trở xuống nhà để tìm gặp, dặn dò toán gác. Thật ra tìm họ cũng là để tự trấn an mình.
10 phút sau, Chuẩn Tướng gọi tôi lên lầu gặp ông. Tại đây tôi thấy ngoài tôi và Thiếu Tá Phương, còn có đông đủ những binh sĩ đã từng phục dịch Chuẩn Tướng cùng gia đình rất lâu năm. Chuẩn Tướng đứng tại phòng ngủ, hai cánh tay ghì chặt đứa con gái 3 tuổi để cho đầu cháu tựa vào má ông. Bà Tướng đứng bên cạnh. Hai bàn tay măng non của cháu bé hồn nhiên lùa vào mái tóc cha làm lõa xõa vài lọn tóc rối trên trán Chuẩn Tướng. Bức tranh bi thảm ấy khiến lòng tôi ngậm ngùi tê cứng. Bằng giọng nói tha thiết, ân cần, Chuẩn Tướng gởi lại bà cùng 2 con cho chúng tôi. Ông quả quyết từ giờ cho tới sáng sẽ không có chuyện gì xảy ra, bảo chúng tôi cố gắng hộ tống bà cùng gia đình về Sài Gòn rạng sáng ngày mai, 1-5. Đó là lời ủy thác cuối cùng của Chuẩn Tướng. Dù đã từng xông pha bao chiến trận, nhưng trong giờ phút tử biệt này, Chuẩn Tướng không nén được nỗi uất nghẹn trong lời nói. Ông lấy lại trầm tĩnh thật nhanh, quát bảo tất cả trở xuống dưới nhà, chỉ còn mình tôi và bà Tướng ở lại. Để rồi giây phút vĩnh quyết đã đến!…

Hồi kết
Lúc đó đã 9 giờ đêm 30-4. Chúng tôi xúm quanh giường ngủ giúp bà Tướng lau rửa thân thể, thay y phục cho ông. Chừng đỡ lưng Chuẩn Tướng lên, mọi người lại đau lòng rấm rứt khóc khi thấy vẫn còn máu tươi rỉ ra chỗ viên đạn thoát ra khỏi thân thể ông. Chuông điện thoại lại reo lên. Tôi lật đật mời bà Tướng tiếp chuyện với Thiếu tướng Tư Lệnh. Bà sụt sùi báo tin Chuẩn Tướng đã… ra đi… Cuối cùng bà nghẹn ngào cảm ơn Thiếu Tướng Tư Lệnh đã gọi đến thăm hỏi, an ủi bà… Để rồi… 8 tiếng đồng hồ sau, lúc 5h30 sáng ngày 1-5, hai vị Tướng cao cấp nhất lãnh thổ vùng IV cùng gặp được nhau ở bên kia thế giới, với cùng ý chí “Tướng phải chết theo thành”.
Chuông điện thoại lại reo. Tôi nhắc ống nghe lên, giật mình khi nhận ra tiếng nói của Đại Tá Hồ Ngọc Cẩn, Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện. Giọng ông thật khẩn cấp, ông cần nói chuyện với Tướng Tư Lệnh Phó. Tôi quyết định nhanh trong trí, “Không cho Đại Tá biết Chuẩn Tướng đã tuẫn tiết!”Tôi nghĩ, hệ thống điện thoại đã bị ngắt hoặc do đơn vị này đã bỏ nhiệm sở từ chiều, không lý gì bây giờ lại tái lập? Chắc cộng quân đã chiếm đóng và đang kiểm soát các cuộc điện đàm… Sau này khi hồi tưởng lại, tôi mới thấy mình thật ngu khờ: Chỉ vì muốn bảo toàn thi hài Chuẩn Tướng mà tự ý trả lời Đại Tá Cẩn là Chuẩn Tướng đang bận chỉ huy các đơn vị nên không thể rời máy tiếp chuyện Đại Tá được. Tôi nghĩ chỉ có cách đó mới ngăn được Đại Tá, để ông không đòi gặp Chuẩn Tướng nữa. Tôi còn tự ý trả lời “Lệnh của ông Tướng truyền đi hồi sáng vẫn không thay đổi”khi Đại Tá hỏi đến điều này. Hậu quả là Đại Tá tiếp tục cho Tiểu Khu mình tử thủ, để rồi ông bị bắt, sau đó đưa về Cần Thơ và Cộng quân đã đưa Đại Tá ra xử bắn trước đám đông dân chúng. Trong lúc chỉ huy chiến đấu, Đại Tá Cẩn đã bị thuộc hạ của mình phản trắc, khống chế từ sau lưng. Tôi tin rằng chính vì vậy mà ông không kịp thực hiện được hành động can trường như Chuẩn Tướng Tư Lệnh Phó và Thiếu Tướng Tư Lệnh đã làm, khi Tiểu Khu thất thủ, mà đành để bị bắt sống. Ông vốn là Trung Đoàn Trưởng của Sư Đoàn 9 tăng viện chiến trường An Lộc mùa hè 72, được vinh thăng Đại Tá và trở thành Tiểu Khu Trưởng Chương Thiện sau đó. Pháp trường của kẻ thắng càng tô đậm thêm ý chí hiên ngang, bất khuất của người dũng sĩ trước mũi súng quân thù. Tổ quốc sẽ mãi mãi ghi nhớ ơn Ông cùng những người, cho dù là hàng binh sĩ, trong những giờ phút này vẫn còn ngả gục và thắm máu đào trên khắp đất nước non sông.
Có tiếng rè rè từ máy PRC 25 và loa khuếch đại vang lên tiếng gọi danh hiệu Chuẩn Tướng. Tôi nhìn lại bản đặc lệnh truyền tin và nhớ ra giọng nói của Thiếu Tá Điệp, Tiểu Đoàn Trưởng 1/31, đang trong vùng hành quân thuộc quận Bình Minh, chắc anh không liên lạc được với Bộ chỉ huy Trung Đoàn và Bộ Tư Lệnh Sư Đoàn, nên mới gọi thẳng về Chuẩn Tướng. Tôi báo cho Thiếu Tá Điệp biết chuyện của Chuẩn Tướng và cầu chúc anh may mắn. Trong đêm nay còn bao nhiêu đơn vị đang trong tình trạng bơ vơ, lạc đàn như Tiểu Đoàn của anh, kêu gọi cấp chỉ huy trong vô vọng và đành chờ đợi ánh bình minh để nhận lãnh số phận mình… Từ đó tôi quyết định tắt hẳn máy PRC 25.
Tôi bước trở lại phòng Chuẩn Tướng và nhìn thấy ông ngời sáng trong bộ lễ phục với đầy đủ quân hàm trên 2 cầu vai, cùng dây biểu chương, huy chương. Bà Tướng đang xếp gấp tư lá cờ vàng ba sọc đỏ và lần tay mở nút áo đặt lá cờ ngay ngắn chỗ phần ngực ông. Xong xuôi, bà ngước lên nói cùng tôi, bà mong muốn lễ tang Chuẩn Tướng được tổ chức đúng lễ nghi quân cách. Tôi gật đầu im lặng. Trong bối cảnh này, tôi thấy mình cần phải tận lực giúp đỡ bà, còn việc thành bại là hướng sắp tới.
Trời đã khuya, chỉ còn độ tiếng nữa là sang ngày hôm sau. Thân nhân của Chuẩn Tướng vẫn còn đó cạnh ông. Có lẽ cũng không ai nhắm mắt được đêm nay. Tôi đến cầu thang, trở xuống nhà dưới, theo cửa sau vòng ra sân với đầu óc trĩu nặng lo nghĩ. “Khi hay tin Chuẩn Tướng tuẫn tiết, liệu bọn Cộng Sản có chấp nhận để yên cho mai táng ông không, mai táng bình thường thôi, chớ chưa nói đến chuyện đúng lễ nghi quân cách? Hay là đêm nay mình tìm nơi an táng ông chính tại trong khuôn viên dinh?…”Tôi lắc đầu, bỏ ý nghĩ đó và dừng lại chỗ cuối sân, nhìn ra cổng sắt. Đêm đen ghê rợn trùm phủ vạn vật. Trời tối đến độ tôi không nhận ra cánh cửa cổng. Còn vọng gác thì im sửng trên cao, không biết có còn người gác hay không? Sự im lặng chết chóc khiến tôi hoảng sợ đứng ỳ tại chỗ, không dám nhích tới. Tôi có cảm giác đang bị bao vây, rình rập, dòm ngó từng động tác. Tôi trở gót, theo cửa sau, bước lên phòng khách nhìn quanh quẩn, nơi đây cũng tối om, chỉ có chút ánh sáng của ngọn đèn trên lầu hắt xuống cầu thang cho tôi nhìn rõ nhà dưới trống vắng, không còn người lính phục dịch nào ở đó. Tôi quyết định nghỉ lại nơi đây. Đêm nay nếu có sự kiện gì xảy ra từ phía ngoài vào, tôi sẽ là người đón nhận, hay biết trước tiên. Trong bóng đêm cô tịch, tôi ngồi nhớ lại những việc vừa xảy ra, tất cả nhanh chóng kết thúc, tưởng chừng như một giấc chiêm bao! Sự đời như bọt nước bèo trôi, tụ rồi tan, mới hạnh phúc đó đã tan vở, mới cười vui đó đã ôm ra khóc. Lòng tôi bỗng chơi vơi rung động nhớ lại lời nói ôn nhu của Trung Tá Nghiêm, Tham Mưu Phó Chiến Tranh Chánh Trị Sư Đoàn 21, khi ông giới thiệu một pháp môn tu thiền cho tôi vào những ngày cuối năm 73 tại văn phòng Tư Lệnh ở Chương Thiện. Sự thôi thúc dâng lên kỳ lạ, tôi xúc động ngồi lại ngay ngắn, chắp tay trước ngực, tâm thành khẩn hướng vọng đến đức thầy Lương Sĩ Hằng, xin ông nhận tôi là môn sinh. Từ đó đến nay đã 24 năm trôi qua, không ngờ nỗi đam mê với môn học này, tôi vẫn tiếp tục đeo đuổi và tôi tin chắc sự ổn định được đầu óc nhờ hành thiền, đã giúp tôi viết lại bài anh hùng ca này một cách tuần tự, rõ ràng, nhớ rõ như mọi chuyện mới vừa xảy ra.
Sau đó tôi nằm xuống và tạm quên được mọi việc và chìm trong giấc ngủ. Lúc tôi trở giấc, trời vẫn còn tối, lòng tôi lại nặng trĩu khi đối diện với thực tại. Tôi bước ra sau, về phòng mình, gấp rút lo việc cá nhân khi thấy kim đồng hồ đã chỉ gần 5 giờ sáng.
Tôi trở lên lầu, gặp Thiếu Tá Thuyên, Phụ Tá Trưởng Phòng Tổng Quản Trị Quân Đoàn, đang đứng cạnh giường Chuẩn Tướng thút thít khóc. Anh vừa mới đến. Như vậy, tin về Chuẩn Tướng trong đêm đã lan truyền ra ngoài. Sự tao ngộ cũng thật vội vàng, ngắn ngủi. Anh rời dinh liền sau đó, lúc trời vẫn còn mờ tối. Đó là vị sĩ quan duy nhứt của BTL/QuĐ đã đến nghiêng chào trước thi hài Chuẩn Tướng. Tôi bàn định cùng bà Tướng lo thu xếp những gì cần thiết mang đi, đề phòng trước, nếu bị buộc phải rời dinh. Thâm tâm tôi nghĩ đến người bạn chí thân hồi cùng ở Bộ Chỉ Huy Trung Đoàn 31, Trung Úy Nguyễn Vĩnh Thành. Mấy năm nay Thành đã thuyên chuyển về Sở Hành Chánh & Tài Chánh Số 5 và cùng gia đình đang ở Cần Thơ, nhờ vậy chúng tôi vẫn thường xuyên gặp nhau. Hiện tại chắc chắn tôi phải nhờ Thành rất nhiều. Trong lúc chờ trời sáng, tôi bàn với Thiếu Tá Phương là anh đảm trách phần việc tại dinh, còn tôi ra ngoài tìm Thành và đi mua quan tài. Lúc tôi tiến đến cổng chuẩn bị ra ngoài, tôi sững sờ khi thấy thái độ của mọi người, trong ánh mắt của họ, tôi đọc được nỗi hoang mang nghi ngại: Họ đánh giá tôi một ra khỏi đây, không bao giờ trở lại!
Lúc đó gia đình Chuẩn Tướng còn ở trên lầu. Tôi mở hé cánh cổng để vừa đủ đi qua, mắt tôi nhìn thấy Đại Tá C., một trong những Phụ Tá của Tư Lệnh Phó, đang đứng nơi công viên Hòa Bình nhìn về phía cổng ra vào. Khi thấy tôi đã nhận ra ông, Đại Tá lật đật rảo bước, may mà tôi chưa kịp gọi ông! Tôi vòng bên trái dinh, theo đường tắt rảo bộ đến nhà Thành. Tôi bỗng mừng rỡ khi thấy Đại Tá Vinh đang hàn huyên cùng với 3-4 người tại trước cổng BTL/Đặc Nhiệm 4 của ông (Chức vụ cùng danh xưng có tính cách điều hành nội bộ của BTL/QuĐ IV do Tư Lệnh đề ra, phần lớn nhằm giải quyết số sĩ quan cao cấp “ối đọng”tại BTL). Tôi thầm ngợi khen ông trông vẫn tỉnh táo và trẻ trung trong bộ áo quần thường dân. Trong buổi sáng hôm nay, không hẹn mà tất cả chúng tôi đều mặc thường phục, hòa nhập vào lớp thường dân. Gặp được Đại Tá, tôi đặt thẳng vấn đề Chuẩn Tướng đã chết và bà Tướng muốn chôn ông đúng theo lễ nghi quân cách, xin Đại Tá với tư cách một sĩ quan cao cấp, đến gặp họ (CS) để nói giúp. Tôi tưởng đã giải quyết được một gánh nặng to lớn khi Đại Tá Vinh đoan quyết đó là trách nhiệm của ông trong lúc này.
Đến nhà cha mẹ vợ Trung Úy Thành, tôi thật sự cảm động khi thấy mọi người trong gia đình đều ùa ra đón tôi. Tất cả đã biết tin Chuẩn Tướng tuẫn tiết, nên rất lo cho số phận của tôi. Tôi kể sơ cho mọi người biết Chuẩn Tướng chết như thế nào, trước đó ông dặn dò điều gì, và tôi đang rất cần được giúp đỡ để thực hiện lời ủy thác của người chết. May mắn là nhà Thành có khoảng sân khá rộng, tôi xin được gởi chiếc Falcon và chiếc jeep sơn màu xanh với số ẩn tế dân sự. Chuyện gia đình Thành chấp nhận giữ 2 chiếc xe giúp tôi giữa lúc đen tối này là một hành động can đảm, như chấp nhận một bản án, nếu có người tố giác (mà lúc đó thiếu gì bọn ba-mươi-tháng-tư). Tôi biết như vậy, nhưng trong cơn nguy cấp, tôi không có cách nào hơn, đành phải nhờ Thành. Rất may là những ngày sau đó, khi chúng tôi đã rời Cần Thơ, biết tin gia đình Thành vẫn yên ổn. Viết lại những dòng này, tôi luôn ghi nhớ tấm lòng của cả hai bên gia đình Trung Úy Thành đối với gia đình Chuẩn Tướng.
Tôi cùng Thành lên chiếc vespa của anh đi đặt mua chiếc quan tài, rồi trở lại Sở của anh. Do ý của Thành, tôi tìm gặp Trung Tá Bia, Phụ Tá Chánh Sở Hành Chánh & Tài Chánh số 5, để nhờ ông chỉ dẫn và giúp lo việc tẩn liệm Chuẩn Tướng. Ông đang thay Đại Tá Chánh Sở hiện vắng mặt, chờ đợi người của Cộng Sản đến để bàn giao. Trung Tá hứa là ông sẽ đến liền sau khi xong việc ở đây và căn dặn tôi chuẩn bị những thứ gì cho việc tẩn liệm. Tôi cùng Thành hướng xe về phía chợ. Khác với ngày 30-4, buổi sáng hôm nay, 1-5, Thị Xã Cần Thơ thật ồn ào, rộn rịp. Gần như mọi nhà đều có người đổ xô ra đường, có nhiều con lộ bị nghẹt cứng. Dân chúng đi bộ tràn ra cả lòng đường, chúng tôi phải xuống xe dẫn bộ, len lỏi tìm lối vượt qua. Tôi chợt nhìn thấy Trung Úy Việt, Tùy Viên Tư Lệnh đang đứng trong sân nhà của Trung Úy Minh, sĩ quan Quân Sử BTL, tôi lật đật kéo Thành tấp vào. Gặp Việt, tôi hỏi ngay tình trạng của Thiếu Tướng Tư Lệnh. Buổi sáng, trước khi rời dinh, một hạ sĩ quan văn phòng đã đến trao cho tôi tờ giấy ghi tên họ của tôi đã “đăng ký trình diện”và cho tôi biết tin Thiếu Tướng Nam cũng đã tự sát. Tôi hỏi lại và được Trung Úy Việt xác nhận điều đó. Anh còn cho biết thêm, xe cứu cấp Quân Y Viện Phan Thanh Giản do anh và Trung Úy Danh gọi đã đến và mang Tư Lệnh về QuYV trong tình trạng hấp hối. Việt kể, lúc đó khoảng 5 giờ sáng, Thiếu Tướng đang ở dưới hầm, ông bảo 2 tùy viên lên nhà, rồi dùng colt tự sát khi ông còn lại một mình. Tôi không tiện hỏi han thêm, vì còn quá nhiều việc để làm.
Xe chúng tôi chạy ngang qua nhà Thiếu Tá Qu., Trưởng Phòng 1/SĐ 21, tôi nhìn thấy Thiếu Tá ngồi sau một cái bàn đặt ở ngoài sân, đang hí hoáy ghi. Một số người đứng vây quanh bàn ông. Tôi vỗ vai Thành bảo chạy chậm lại để kịp đọc được dòng chữ ghi trên tấm bảng đặt sát bàn viết “Nơi đăng ký trình diện nguỵ quân”. Tôi ngờ ngợ nghĩ “Như vậy, Th/T Qu. Là người do CS cài đặt vào Quân Đoàn ư? Hay ông nhạy cảm, muốn lập thành tích để được là người cách mạng ba-mươi-tháng-tư?”
Ra đến khu chợ, tôi ghi nhận một điều là hầu hết các tiệm ăn đều chật cứng thực khách. Lúc đó tôi bỗng thấy đói và nhớ ra từ đêm qua tôi chưa có thứ gì vào bụng. Tôi cùng Thành tìm chỗ ngồi để ăn sáng. Tiếng cười nói trao đổi giữa thực khách vang lên ỏm tỏi. Có hai người khách ngồi cùng bàn với chúng tôi, nói với nhau:
– Ăn cho đã! Ngày mai biết còn xài tiền được nữa không?!…
Tôi để Thành ngồi tại quán, một mình đi sâu vào chợ. Mắt tôi choáng ngợp với toàn màu đỏ: Cờ cộng sản cùng những cây vải đỏ bày bán khắp nơi. Dân chúng nơi đây quả đã sớm hội nhập với hoàn cảnh mới! Tôi mua các thứ trà, nhang, đèn cầy, vải liệm… rồi trở ra cùng Thành phóng nhanh về dinh.
Quan tài đã được đem đến và được đặt trên 2 giá gỗ chính giữa nhà. Tôi hơi phập phồng khi thấy có 2 cán binh cộng sản miền Nam đang trên vọng gác. Họ không đả động gì tới bên trong dinh. Hình như họ được lệnh chỉ ở đó mà thôi? Có lẽ thấy yên tâm phần nào, bà tướng nói với tôi và Thiếu Tá Phương, ý bà dự định quàn lại 3 ngày. Tôi thấy cỗ áo quan cũng “khiêm tốn”, nên bàn với Thành đến QuYV Phan Thanh Giản tìm xin bộ ny-lông. Tôi muốn nhân dịp này để biết đích xác tình trạng của Thiếu Tướng Tư Lệnh. Xe chúng tôi tới cổng QuYV, lác đác còn vài thương binh đang khập khễnh cùng thân nhân hối hả ra cổng. Khi vào sâu bên trong, tôi nhận ra nơi đây im lìm, trống vắng. Y sĩ, nhân viên lẫn thương bệnh binh… đều đã rời viện tự bao giờ rồi. Một ít thương binh tôi còn gặp có lẽ vì thân nhân ở xa mới vừa đến để đón họ. Duy nhứt chỉ một người đàn ông trạc tuổi tôi còn đứng trong sân cạnh chiếc xe gắn máy của anh. Tôi thầm mong gặp được nhân vật có vai trò đúng như Trung Tá Bia. Tôi liền đến gần và đánh bạo bộc bạch cùng anh việc tôi đến đây. Rất may, tôi gặp đúng người. Anh trao cho tôi bộ ny-lông giấu nơi yên xe kèm theo lời nói:
– Thật may quá, chỉ còn một bộ duy nhứt. Từ sáng tới giờ phát hết rồi!
Tôi hỏi thêm:
– Thiếu Tướng Nam nằm ở đâu?
Anh chỉ Phòng Lựa Thương cách đó chừng 30m và dặn dò tôi coi chừng, đã có chúng nó. Tôi cẩn thận nhìn quanh một lượt. Khi thấy chỉ có 3 chúng tôi, tôi cảm ơn anh, rồi bảo Thành chạy xe đến đậu sát bậc thềm căn phòng, rồi ngồi trên xe chờ tôi. Tôi vừa bước vào cửa phòng là thấy ngay một thi thể được phủ kín bằng tấm drap trắng, chỉ ló ra ngoài 2 chân vẫn còn mang đôi giày da quân đội. Thi hài nằm trên chiếc băng-ca đặt trên 2 giá sắt cao gần 1m. Một chiếc bàn nhỏ đặt trước đầu băng-ca, trên có một lon nhôm đựng cát dùng thay bát hương, một hộp quẹt diêm và một thẻ nhang nhỏ đã bốc ra. Trong Phòng Lựa Thương vắng ngắt. Tôi đoán chắc đây là thi thể của Thiếu Tướng Tư Lệnh. Tôi bùi ngùi mục kích nỗi cô độc của ông. Tôi bước tới đưa tay kéo nhẹ tấm phủ trên đầu để được nhìn thấy gương mặt Thiếu Tướng hiền từ như người đang ngủ. Một vết đạn khoét từ thái dương trái trổ một đường kính cỡ trái chanh nơi thái dương phải, vệt máu đã thẫm đen chạy dài từ đó xuống gò má, đến cổ và đọng lại trên bâu áo phải làm lem lấm 2 ngôi sao thêu màu đen. Bộ quân phục chiến đấâu vẫn trên người Thiếu Tướng đến giây phút cuối cùng. Tôi đốt một nén hương cắm vào lon cát đã có 3 chân nhang của ai đó đã đến đây trước tôi. Tôi kéo tấm vải phủ lại như cũ, rồi lặng lẽ rời QuYV, với nỗi lòng thật nặng nề, mệt mỏi như người bệnh. Giờ phút cấp bách này, tôi không thể làm gì hơn được cho vị Tướng Tư Lệnh kính quí! Nhưng tôi hy vọng quí vị quân y sĩ của QuYV sẽ không bỏ mặc Thiếu Tướng. Tôi trở về dinh để chờ đón Trung Tá Bia. 20 phút sau Trung Tá đến.
Sau lớp vải liệm là đến chiếc túi ny-lông ôm chặt thi thể Chuẩn Tướng. Chúng tôi đưa thi hài xuống nhà dưới. Trung Tá Bia bảo tôi nâng phần đầu. Lễ tẩn liệm đơn sơ, nhanh chóng do Trung Tá Bia chỉ dẫn thực hiện. Tôi đứng ở đầu quan tài lặng nhìn Trung Tá Bia điều khiển mấy người lính trong dinh làm động tác cuối, từ từ đậy nắp áo quan. Bỗng có tiếng la lớn uất nghẹn:
– Trời ơi!… Ông “thầy”ơi!
Rồi bóng một người lao đến bên quan tài, anh xúc động gần như quị xuống. Tôi nhận ra đó là Thiếu Tá Lành, Tiểu Đoàn Trưởng 3/33. Tiểu Đoàn của anh sáng nay cũng đã tuân lệnh giải giáp, giao vũ khí, cởi bỏ quân phục tại chỗ, rồi từ trong vùng hành quân lội bộ ra lộ, mạnh ai nấy tự tìm phương tiện về nhà. Thiếu Tá Lành được tin cái chết của Tướng Hưng nên tìm đến tư dinh. Anh xuất thân từ trường Thiếu Sinh Quân, sau khi rời quân trường, về Tiểu Đoàn 2/31 cuối năm 1968. Do đã từng phục vụ dưới quyền chỉ huy của Trung Tá Lê Văn Hưng, thuở đó là Trung Đoàn Trưởng 31, nên anh vẫn nhớ và kính quí vị “thầy”của mình…
Đúng lúc đó Trung Úy Phúc xuất hiện. Anh cùng vợ con đáp xe đò từ Sài Gòn xuống tới. Mọi việc xong xuôi, Trung Tá Bia từ giã chúng tôi để về nhà gặp gia đình. Từ hôm qua, 30-4, tên ông vẫn còn nằm trong sổ cấm quân ban hành từ hơn một tuần nay của BTL/QuĐ. Một người lính vào nói nhỏ cho tôi biết một nguồn tin rất bất lợi cho chúng tôi. Do vậy, tôi, Phúc và Thiếu Tá Phương thuyết phục bà Tướng nên an táng ngay cho ông và rời dinh càng sớm càng tốt. Chúng tôi phân chia công việc cho nhau: Phúc cùng vài nhân viên đến khu đất nhà ở Cái Răng lo đào huyệt. Phần tôi lo xe tang. Thành đưa tôi đến Hội Mai Táng Từ Thiện của Hiệp Hội Xe Đò Cần Thơ. Rất may cho chúng tôi là người đại diện cho Hiệp Hội chấp thuận, dù biết đó là đám tang của một vị Tướng. Ông cho biết là phải lo cho đám tang khác lúc 15 giờ. Vậy chúng tôi cần phải chuẩn bị sẵn sàng, lúc xe tang đến là phải di chuyển liền.
Từ lúc đó cho đến khi xe tang xuất hiện, chúng tôi thu xếp mọi thứ đem theo để khi rời dinh sẽ không trở lại nữa. Riêng phần gia đình Chuẩn Tướng, buổi sáng sớm sau khi gặp Thành tôi đã trở về hướng dẫn xe Falcon và xe jeep dân sự đến gởi bên nhà Thành rồi, với số hành lý chứa trong cóp sau xe.
Giờ phút trôi qua chậm chạp với nỗi lo lắng chờ đợi của tôi. Từ 16 giờ tôi bắt đầu sốt ruột, bứt rứt không yên. Mảng nắng chiều vàng vọt còn cố níu lại trên đỉnh tàn sao cao ngất. Đúng lúc tôi đang bối rối với chút mong manh hy vọng, bỗng có tiếng ồn ào, rồi cánh cửa cổng mở toang. Chiếc xe tang đen ngòm đưa phần đuôi trườn vào sân. Các nhân viên trên xe nhanh nhảu nhảy xuống chạy vào nhà. Đã chuẩn bị sẵn, chúng tôi cùng họ đưa quan tài lên xe. Năm phút sau tất cả chúng tôi bắt đầu rời dinh. Anh Phương, Phúc và tôi cùng gia đình bà Tướng ngồi trên xe tang. Thành và những nhân viên khác dùng phương tiện riêng chạy theo sau xe tang. Lúc xe rời cổng lớn một đoạn, tôi nhìn lại thấy có nhiều người chạy ùa vào dinh. Vĩnh biệt tất cả, vĩnh biệt cả con chó berger chúng tôi đau lòng phải bỏ nó lại!… Xe quẹo ra đại lộ Hòa Bình để hướng về Cái Răng.
Tại huyệt mộ, một cậu bé trạc độ 14 tuổi, nhưng đôi tay thật thông thạo, nhịp nhàng với miệng hô khẩu lệnh điều khiển lên xuống đòn tay, rút dây khéo léo, đưa êm thắm quan tài đến đáy huyệt. Họ nhanh chóng phụ giúp chúng tôi lấp đất và đắp vung lên thành hình ngôi mộ. Chúng tôi ngậm ngùi chào từ biệt Chuẩn Tướng, để lại mình ông đơn độc như cố Thiếu Tướng Nam mà tôi đã gặp vào buổi sáng.
Chúng tôi về đến Cần Thơ thì trời đã tối. Bà Tướng và gia đình cùng Thiếu Tá Phương, Trung Úy Phúc đến nương náu tại một ngôi chùa. Sau này chính các vị sư ở đây đã giúp xây mộ cho Chuẩn Tướng. Tôi về nhà Thành để trông coi hai chiếc xe. Chúng tôi hẹn gặp nhau lúc 8 giờ sáng ngày mai, 2-5, để về Sài Gòn. Tôi khẩn khoản yêu cầu Thượng Sĩ nhất Triệu, tài xế xe Falcon, cố gắng giúp đưa gia đình bà Tướng về đến Sài Gòn, một lần này nữa thôi. Buổi tối, tôi mở tất cả va-li trong cốp xe ra kiểm soát lại, đem thiêu hủy tất cả hình ảnh binh bị của Chuẩn Tướng. Ban chiều tôi đã trình bày cùng bà Tướng là không nên giữ lại những gì sẽ có hại cho gia đình bà, trên đường về không biết bất trắc ra sao. Hơn 10 giờ đêm, tôi vào giường thao thức không ngủ được. Tôi lo nghĩ đến chuyện di chuyển ngày mai. Nếu vì bất cứ lý do gì, người tài xế vắng mặt, thì tôi phải đảm trách phần việc khó khăn này của anh. Tôi chỉ từng lái xe jeep mà chưa từng lái chiếc xe tương đối cồng kềnh này, khó khăn nhứt là lúc lên xuống phà. Chiếc jeep giao cho Thiếu Tá Phương, Trung Úy Phúc và gia đình.
Buổi sáng 2-5, tôi vô cùng mừng rỡ và cảm động khi thấy Thượng Sĩ Triệu xuất hiện. Không chỉ riêng chúng tôi mà người hạ sĩ quan già này, trong thời gian chờ giấy xuất ngũ, vẫn tận tuỵ với Chuẩn Tướng đến giờ phút hiểm nguy nhất. Đêm qua, khi về đến nhà Thành, Trung Sĩ Sao, cận vệ của Chuẩn Tướng mới bịn rịn từ giã tôi ra bến xe để về với gia đình chắc chắn đang rất trông chờ anh.
Không biết có còn dịp gặp lại nhau nữa không, tôi nghẹn ngào chia tay người bạn tâm đầu ý hợp và gia đình Trung Úy Thành rồi lên xe đến điểm hẹn. Xe tôi đi đầu, xe Phúc theo sau, bắt đầu xuống phà Cần Thơ trực chỉ Sài Gòn. Chúng tôi cùng chung tâm trạng mong nhanh chóng rời khỏi nơi đây. Qua bên kia bờ, mới đi được vài cây số, xe tôi gặp một toán cộng quân miền Nam đứng rải trên đường chận lại xét hỏi. Nhờ vậy xe Phúc thoát qua lọt. Một nữ cán binh, có vẻ là Trưởng Toán, cổ quàng khăn rằn, biểu tượng cán binh miền Nam, vai mang chiếc radio nhỏ đang phát vang rền một bài ca vọng cổ. Cô ta tiến đến bảo tôi mở cửa xe. Thấy chiếc va-li, họ lôi xuống bảo mở ra xem. Trong đó chỉ toàn là quần áo. Tôi mừng thầm là họ không khám phá ra chỗ cốp xe. Đến lượt cái bóp tay của bà Tướng, trong đó có một xấp tiền độ một trăm ngàn. Tôi choáng váng khi thấy cô ta lôi ra một xấp hình. Cô ta chú mục từng tấm một. Toàn là hình ảnh của Chuẩn Tướng mặc quân phục tại chiến trường. Có tấm chụp chung với cố vấn Hoa Kỳ nữa. Không kịp trấn tỉnh, tôi trả lời họ đây là vị Tướng đã chết rồi. Thế là họ ra lệnh bắt giữ bà Tướng và tôi với những tang vật đó. Trong lúc rộn ràng, tôi lấy cớ đến đóng cửa xe, rồi ra dấu bảo tài xế rồ máy chạy đi, mặc bà Tướng và tôi tự lo liệu sau. Tôi hy vọng, khi không thấy xe tôi, Phúc sẽ dừng xe lại chờ.
Chúng tôi bị đưa về BChH quận Bình Minh hiện do cộng quân chiếm giữ. Cùng chung số phận bị bắt còn có đôi nam nữ tuổi trạc 20-25 với lý do khá ngộ nghĩnh: Họ mang theo người số tiền gần 40 ngàn mà không có… “đăng ký”! Tại BChH quận, nữ cán binh áp giải chúng tôi đứng ra “tố giác tội trạng”chúng tôi trước hơn chục dân chúng hiếu kỳ, tính tình vốn chất phác của người miền Nam, họ chưa quen hình thức “đấu tố”này, nên chỉ trố mắt đứng nghe. Thao thao đã mồm rồi cô ta giao cả 4 chúng tôi cho một ông già, nói là cô cần đi dùng cơm trưa. Trong phòng bây giờ chỉ còn lại một nhân viên này. Tôi thầm khấn nguyện vong linh Chuẩn Tướng độ trì cho chúng tôi sớm rời được nơi đây. Một lát sau, bỗng dưng ông già trông giữ chúng tôi đem giao trả mọi thứ và cho chúng tôi đi. Có lẽ ông ta không phải là cộng sản chính cống. Chúng tôi lập tức lên xe thồ ra quốc lộ đón xe đò hướng về Vĩnh Long. Ngồi yên trên xe đò rồi, tôi lần dò kiểm lại các thứ: Mặc dù số tiền vơi đi, nhưng tôi vẫn hoàn lại đôi nam nữ số tiền họ bị mất trắng. Trước đó tôi đã thầm ước nguyện có mất tiền cũng được miễn sao được tự do thì thôi.
Trên chuyến xe đò ọp ẹp, chật ních người, nhưng ai nấy đều biểu lộ nỗi rạng rỡ, sung sướng. Họ cùng nhau phát biểu ca tụng cảnh hòa bình hôm nay, tha hồ đi suốt từ Nam chí Bắc… Thậm chí có người còn không tiếc lời chê bai, nguyền rủa đội quân trước đây đã từng bảo vệ họ. Tôi lơ đãng nhìn qua cửa hông xe, ngắm cảnh đồng ruộng bên ngoài, nhưng những âm điệu trong xe vẫn nhức nhối lọt vào tai. Cảnh vật vút qua như dòng đời trôi chảy. Tôi nghĩ ngợi mông lung đến một ngày không xa.
-Nghĩa

Phần viết thêm
Sau này tôi có được bà Chuẩn Tướng Lê Văn Hưng liên lạc và cho tôi biết Chuẩn Tướng có để lại cho tôi một bức thư. Tôi trình bày với bà tôi không dám nhận, vì biết nội dung bức thư trăng trối là một lời ủy thác mà tôi không có khả năng thực hiện. Tôi biết Hưng bảo tôi mưu cầu phục quốc, nhưng tài hèn, sức mọn, tôi không làm được.

Nguyễn Đạt Thịnh

Tướng Trần Văn Hai

Lời người viết: Trong khoảng thời gian 1975-1977, người viết bị giam tại trại Cải Tạo Suối Tre, Long Khánh. Tại đây người viết ở chung D (tương đương cấp tiểu đội) với trung úy Huỳnh Văn Hoa, sĩ quan tùy viên của chuẩn tướng Trần Văn Hai, tư lệnh Sư Đoàn 7 Bộ Binh kiêm chỉ huy trưởng Căn Cứ Đồng Tâm. Trước đó, chuẩn tướng Trần Văn Hai đã từng là chỉ huy trưởng Binh Chủng Biệt Động Quân, và cũng từng làm Tư Lệnh Cảnh Sát Quốc Gia.

Trong thời gian đi cải tạo, anh Hoa đã kể cho người viết nghe những giờ phút cuối cùng của chuẩn tướng Trần Văn Hai. Ông đã chọn cho mình một cái chết anh hùng như một số tướng lãnh khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa: thiếu tướng Nguyễn Khoa Nam, thiếu tướng Phạm Văn Phú, thiếu tướng Lê Nguyên Vỹ,…

Hôm nay, nhân ngày Quân Lực 19.06.1994, người viết xin ghi lại những giờ phút cuối cùng của chuẩn tướng Trần Văn Hai để chúng ta cùng suy gẫm và cùng để đốt lên nén hương tưởng niệm các “Anh Hùng Vị Quốc Vong Thân”, đã hy sinh cho công cuộc chiến đấu chung của dân tộc. Chi tiết về thời gian có thể lầm lẫn, vì chuyện kể cách đây đã hơn 15 năm rồi, nhưng nội dung câu chuyện thì không thể nào sai lạc được, vì cái chết của chuẩn tướng Trần Văn Hai cũng như một số tướng lãnh khác của Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa đã gây ấn tượng mạnh trong tâm não người viết. “Tôi” trong bài chính là trung úy Hoa.

“…Căn cứ Đồng Tâm, một căn cứ quân sự quan trọng nằm ngay yết hầu trên cửa ngõ từ miền Tây về Sài Gòn. Một ngày nhộn nhịp xe cộ, kẻ ra người vào, hôm nay vắng lặng như tờ… Lúc bấy giờ là 14giờ 30 ngày 30.4.1975.

Sau khi theo vị tư lệnh họp mặt với các sĩ quan thuộc quyền ông lần cuối tại câu lạc bộ sĩ quan sư đoàn, tôi trở về phòng riêng trong dãy cư xá sĩ quan độc thân để thu xếp đồ đạc cá nhân và chờ lịnh. Mới cách đây 2 tiếng đồng hồ thôi, sau khi nhận được lệnh đầu hàng của tổng thống Dương Văn Minh và chờ “phía bên kia” đến bàn giao, chuẩn tướng Tư Lệnh đã triệu tập tất cả sĩ quan và ông đã ngỏ lời cám ơn cùng chào từ giã các sĩ quan thuộc cấp của mình, đồng thời ông ra lịnh cho tất cả mọi người trở về gia đình thu xếp cho vợ con, tránh đụng độ với quân địch, đổ máu vô ích. Đúng 15 giờ, điện thoại Tư Lệnh gọi tôi lên văn phòng của ông. Sau lễ nghi chào kính như thường lệ, tôi đứng nghiêm đợi lịnh. Khác với mọi ngày, chuẩn tướng Tư Lệnh không ngước nhìn tôi, ông ngồi im như pho tượng gỗ, dường như ông đang suy tư một điều gì… Một lúc sau ông ra dấu cho tôi ngồi xuống chiếc ghế tiếp khách, trước bàn làm việc của ông. Khi tôi đã an tọa, ông mới bắt đầu lên tiếng một cách từ tốn:

“Anh cám ơn em đã ở bên cạnh anh trong giờ phút cuối cùng này. Vận nước đã đến hồi như vậy, không thể làm gì hơn được. Là quân nhân chúng ta phải tuyệt đối chấp hành lịnh thượng cấp “.

Sau đó ông hỏi thăm gia cảnh tôi. Cuối cùng, ông mở ngăn kéo làm việc, lôi ra một món đồ gói bằng giấy báo, ông đưa cho tôi và nói rằng:

“Sáng sớm ngày mai, em có thể trở về với gia đình. Anh nhờ em đưa gói đồ này cho mẹ anh và nói với bà rằng, đây là quà của anh gởi cho bà và bảo bà đừng lo lắng gì cho anh cả. Bây giờ em có thể về doanh trại thu xếp đồ đạc, từ giờ đến tối lúc nào cần anh sẽ gọi”.

(Sau này tôi được biết trong gói quà ấy có 70,000 đồng cũng như có một số vật dụng cá nhân hàng ngày của chuẩn tướng Tư Lệnh).

Đứng dậy chào vị TưLệnh trở về doanh trại, lòng tôi bất ổn. Tôi linh cảm như sắp có điều gì ghê gớm xảy ra cho ông. Chờ mãi đến hơn 6giờ chiều, không thấy điện thoại Tư Lệnh gọi, lòng tôi hết sức bồn chồn, đứng ngồi không yên. Cuối cùng, tôi quyết định chạy bộ lên văn phòng Tư Lệnh…

Căn cứ Đồng Tâm rộng lớn chìm trong hoang vắng. Càng đến gần văn phòng Tư Lệnh tôi càng hồi hộp. Và rồi tôi cũng đến nơi. Đèn đuốc trong văn phòng vẫn sáng như mọi ngày, nhưng một bầu không khí lạnh lẽo bao trùm. Tôi rón rén bước lại cửa văn phòng, nghe ngóng động tĩnh…Vẫn hoàn toàn yên lặng! Sau cùng, tôi liều đẩy mạnh cánh cửa phòng làm việc của Tư Lệnh bước vào, một khung cảnh hiện ra trước mắt làm tôi hết sức ngỡ ngàng…

Chuẩn tướng Tư Lệnh ngồi gục đầu mê man trên bàn làm việc. Một ly rượu lớn đã cạn còn ở trên bàn. Tôi biết điều gì đã xảy ra… Tôi cấp tốc liên lạc với tiểu đoàn Quân Y và bệnh xá Sư Đoàn. Lúc ấy còn một vị thiếu tá bác sĩ ở bệnh xá. Tôi liền trình bày nhanh qua điện thoại tình trạng của chuẩn tướng Tư Lệnh. Chờ một lúc sau, ông thiếu tá bác sĩ lái chiếc xe jeep cứu thương đến văn phòng Tư Lệnh. Chúng tôi đặt chuẩn tướng Tư Lệnh nằm trên băng-ca và chở xuống bệnh xá Sư Đoàn ngay. Lúc này ông đã mê man bất tỉnh. Tại bệnh xá, sau một hồi tận lực cấp cứu, vị thiếu bác sĩ buồn rầu báo cho tôi biết, vì thuốc độc đã ngấm vào máu khá lâu, chuẩn tướng Tư Lệnh không qua được cơn nguy kịch…

Chúng tôi lặng lẽ lau mặt cho ông, đặt ông nằm ngay ngắn trên băng-ca và đứng nghiêm chào vị Tư Lệnh đáng kính lần cuối. Sau khi lấy chăn đậy thi hài ông lại, tôi trở về doanh trại thu xếp đồ đạc và quyết định khuya nay sẽ về Sài Gòn báo tin cho gia đình ông biết…

Khi về tới Sài Gòn, tôi được biết gia đình Tư Lệnh gồm vợ, con và mẹ đã chạy vào lánh nạn ở nhà thương Grall. Sau khi gặp được gia đình ông trong nhà thương, gia đình ông quyết định bằng mọi cách phải mang xác ông về Sài Gòn.

Sáng hôm 01.05.1975, mẹ ông và tôi, một già một trẻ, bao nguyên chiếc xe Lambretta, loại xe ba bánh, xuống căn cứ Đồng Tâm. Chúng tôi đến nơi vào khoảng 10giờ sáng. Khác với hôm qua, hôm nay căn cứ tràn ngập người ra vào. Kẻ đi tìm con, người tìm chồng, kẻ đi hôi của,v.v… Xe Honda chạy loạn xạ trong căn cứ. Khi xe lam của chúng tôi chạy đến cổng thì gặp một bộ đội cộng sản địa phương chặn lại. Như đã sắp đặt trước, mẹ của Tư Lệnh xuống xe mếu máo:

“Con ơi, má có thằng con bị bắt đi quân dịch, nghe nói đâu nó chết hôm qua, cho má vào nhận xác nó đi con! Tội nghiệp má quá, hòa bình rồi con ai cũng về nhà, riêng con má không về nữa…”

Nói xong, không đợi cho tên bộ đội trả lời, bà giục tôi lên xe và hối tài xề xe lam chạy lẹ vào căn cứ. Tên bộ đội trẻ cứ đứng há hốc miệng ra nhìn, chẳng hiểu ra sao cả. Tôi hướng dẫn tài xế xuống bệnh xá Sư Đoàn. Sau đó cùng khiêng thi hài Tư Lệnh lên xe, và đưa về Sài Gòn. Về đến nhà thương Grall thì trời đã tối hẳn. Người ta xầm xì báo cho nhau biết chiều nay, ở đây, vừa cử hành đám tang tướng Phạm Văn Phú. Phần tôi lúc này quá mệt mỏi, đầu óc vô cùng căng thẳng, không biết vợ con hiện giờ ở đâu…

Sau khi tẩm liệm xác Tư Lệnh xong, tôi đứng yên lặng nhìn ông lần cuối, không dám chào theo nghi thức quân đội vì sợ bị lộ tung tích, gia đình ông sẽ gặp nhiều phiền toái. Cuối cùng, tôi cũng phải từ giã vị Tư Lệnh đáng kính với hai hàng nước mắt đầm đìa để về tìm vợ con…

Tôi cũng xin nhắc lại một chi tiết đáng lưu ý, trước ngày 30.04.1975 một tuần lễ, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu có phái một chiếc trực thăng xuống căn cứ Đồng Tâm đón chuẩn tướngTư Lệnh về Sài Gòn, nhưng ông đã từ chối. Ông chỉ cho vợ con về Sài Gòn, và sau cùng ông đã chọn một cái chết anh hùng như tôi đã kể cho anh nghe…”

—————————–

Tướng Lê Nguyên Vỹ

Vài Kỷ Niệm Về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh Và Tướng Lê Nguyên Vỹ

Triệu Vũ

Ðầu tháng 9-1965, sau khi tốt nghiệp khóa 19 Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Ðức, tôi về Bình Dương trình diện Bộ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 Bộ Binh. Ðây là một trong những đại đơn vị kỳ cựu của Quân lực VNCH, bao gồm các đơn vị thiểu số miền Bắc – mà đa số thuộc sắc dân Nùng thuộc vùng tự trị Móng Cáy của Ðại tá Woòng A Sáng. Di cư vào Nam, được mang tên Sư Ðoàn 3 Dã Chiến, sau đổi thành Sư đoàn 5 Bộ Binh, trấn giữ vùng đông bắc thủ đô Saigon và được coi như đơn vị tín cẩn nhất của chế độ.

Ngày ấy, Tướng Vỹ còn mang cấp bậc Thiếu Tá, giữ chức Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 9. Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn đồn trú tại Bến Cát, sau dời lên Chơn Thành, cách tỉnh lỵ Bình Dương khoảng 50 km về hướng Bắc. Từ Bộ Tư Lệnh SÐ ở Phú Lợi – Bình Dương, tôi đã nhiều lần lên đó, khi thì đi cùng phái đoàn Thanh Tra, khi thanh tra một mình, theo lệnh đơn vị trưởng, nên tôi có nhiều dịp tiếp xúc với Thiếu Tá Vỹ và các Sĩ Quan trong Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn. Nhờ vậy, cũng từ những ngày đó, tôi biết thêm nhiều về cuộc đời “người lính chiến thực sự” Lê Nguyên Vỹ.

Tướng Vỹ sinh năm 1933 tại Sơn Tây, miền Bắc Việt Nam. Ông nguyên là sĩ quan binh chủng Nhảy Dù, thời Thiếu Tá Ðỗ Cao Trí còn giữ chức Liên Ðoàn Trưởng. Ông tham dự nhiều cuộc hành quân từ Bắc vào Nam. Năm 1955, sau cuộc tảo thanh Bình Xuyên ở Saigon – Chợ Lớn, ông được thăng cấp Ðại Úy. Ít năm sau, rời Nhảy Dù, Ông ra phục vụ tại Sư Ðoàn 5 BB. Ông được giao chức Tiểu Ðoàn Trưởng Tiểu Ðoàn 2/9, rồi Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 9BB năm 1965 với cấp bậc Thiếu Tá sau một thời gian làm Chi Khu Trưởng Chi Khu Bến Cát.

Những ai từng làm việc với ông, dù thượng cấp, hay quân sĩ dưới quyền, đều chung một nhận xét: Ông là vị chỉ huy rất nóng tánh – theo tôi phải nói là trực tánh mới đúng. Trong một đặc san của Sư Ðoàn 5BB thuở đó, đã ghi như sau về Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 9 – tức Thiếu Tá Vỹ: “Có một lần Ông vung tay đập vỡ mấy cái mặt bàn”. Nhưng nói gì thì nói, không ai có thể phủ nhận Ông là một sĩ quan chỉ huy hành quân tài giỏi, thủ cũng như công. Những phái đoàn thanh tra từ Tổng Tham Mưu, Quân Ðoàn, Sư Ðoàn khi đến quan sát nơi đóng quân của đơn vị Ông, đều hết lời khen ngợi. Bản doanh Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 9 tại Chơn Thành là một căn cứ phòng thủ hình ngũ giác kiểu mẫu.

Ðối với nhân viên thuộc Bộ Chỉ Huy, có lẽ Ban 2 vất vả hơn cả. Lý do đơn giản là Ông Trung Ðoàn Trưởng luôn quan tâm đến tình hình địch, tình hình bạn. Nhờ vậy, đơn vị do Ông chỉ huy đã ghi hết chiến công này đến chiến công khác, trong cũng như ngoài Khu 32 Chiến Thuật. Những địa danh, những mật khu, những chiến khu từ Bến Súc, Bến Sỏi qua Dầu Tiếng, Lộc Ninh, Hớn Quản, đến Ðồng Xoài, Phước Long, Phước Quả rồi mênh mông Tam Giác Sắt, Chiến Khu C, Chiến Khu D v.v. nơi nào cũng in dấu gót giầy hành quân của các chiến sĩ Trung Ðoàn 9.

Những năm 1965-1967, sau khi quân tác chiến Mỹ ào ạt đổ vào miền Nam, tình hình chiến trận cũng như chính trị có nhiều biến động. Trên mặt trận quân sự, CSBV công khai đưa các đơn vị chính qui vào vùng Cao nguyên Trung phần (Tây Nguyên, tức Mặt trận B-3) và Tây Bắc vùng Hỏa Tuyến (Mặt trận Trị-Thiên). Ðồng thời, CSBV cũng thành lập Sư Ðoàn 2 tại Quảng Ngãi và Sư Ðoàn 3 “Sao Vàng” tại Bình Ðịnh (Quân khu 5 CS). Tại miền Ðông Nam Phần (Quân Khu 7 CS), CSBV thành lập sư đoàn (Công trường) 9 tại Bình Long, 5 tại Bà Rịa (Căn cứ Mây Tầu) và 7 tại Phước Long.

Về chính trị, từ tháng 6-1965, chính phủ dân sự Phan Khắc Sửu – Phan Huy Quát rút lui, trả lại quyền điều hành đất nước cho quân đội! Người ta được nghe những cụm từ như Ủy Ban Lãnh Ðạo Quốc Gia, Ủy Ban Hành Pháp Trung Ương v.v., hoặc Tổng Cục A, Tổng Cục B, Cục Y, Cục Z v.v. Vì Quân Ðội điều hành việc nước, dĩ nhiên nhiều quân nhân được nắm giữ các chức vụ quan trọng tại các Bộ và nha, sở. Những cấp chỉ huy cao trong quân đội cứ thay đổi liên tục. Thực là đau lòng khi thấy phe này hạ bệ hoặc thanh toán phe kia, tôn giáo này kình chống tôn giáo nọ. Chắc không ai có thể quên vụ “bàn thờ ra đường” còn được gọi là vụ “Phật Giáo miền Trung” xẩy ra vào mùa Xuân 1966. Chính quyền Trung Ương tại Saigon năm ấy đã mang quân đội và cảnh sát ra Ðà Nẵng và Huế thẳng tay dẹp bàn thờ và phong tỏa chùa chiền… Một số lớn quân nhân theo Phật giáo đã bị thuyên chuyển từ Vùng I vào Vùng III hoặc vùng IV Chiến Thuật. Dân gian thời đó thường truyền miệng “được làm vua, thua làm đại sứ” hoặc “được làm vua, thua đi chữa bệnh” v.v. Trường hợp các Ông Dương Văn Minh, Trần Thiện Khiêm, Nguyễn Khánh, Ðỗ Cao Trí, Nguyễn Chánh Thi, Phạm Văn Liễu v.v. là những chứng nhân rực lửa hận thù hoặc xót xa, tiếc nuối, ngậm ngùi tới cuối đời. (Xem hồi ký Nguyễn Chánh Thi, Ðỗ Mậu, Phạm Văn Liễu, v.v.)

Thời gian này, Trung Ðoàn 9 của Trung Tá Vỹ thường phối hợp hành quân với các đơn vị của Sư Ðoàn 1 Bộ Binh Hoa Kỳ trong các chiến dịch tiến vào các mật khu Cộng Sản như Cedar Falls, Junction City v.v. Ông giữ vững lập trường một người lính chiến đấu, gắn bó với tiền tuyến, sát cánh cùng thuộc cấp giữ chắc tay súng truy cản địch quân ngoài mặt trận, chỉ lo chu toàn nhiệm vụ mà không quan tâm đến nhiều rối loạn chính trị, nhiều tranh giành quyền lực tại hậu phương.

Sự tham chiến của binh đội Mỹ – nhất là việc đánh bom miền Bắc để áp lực Hà Nội ngưng xâm lược miền Nam, chấp nhận sự hiện hữu và biên giới của hai thể chế chính trị do các cường quốc ngấm ngầm chấp nhận – gặp sức phản kháng và chống đối trên toàn thế giới. Ngay tại Mỹ, phong trào phản chiến cũng ngày một dâng cao, khởi đi từ những cuộc biểu tình ngồi chống lệnh động viên trong các đại học, rồi đến những cuộc biểu tình ngoài đường phố. Bởi vậy, từ năm 1966-1967, chính phủ Tổng Thống Lyndon B. Johnson phải tìm cách tiếp xúc với Bắc Việt để tìm một giải pháp chính trị.

Trong khi đó, tại miền Nam, các phe phái, Tướng Tá vẫn không ngừng tranh chấp, thanh toán lẫn nhau. Tình huynh đệ chi binh và mục tiêu chiến lược bảo vệ miền Nam khỏi họa Cộng Sản không đủ ngăn chặn những mưu bá, đồ vương. Người ta cho rằng miền Nam sẽ ổn định nếu chấm dứt tình trạng quân đội nắm quyền và tổ chức bầu cử càng sớm càng tốt. Thế nhưng oái oăm thay, sau khi liên danh Nguyễn Văn Thiệu -Nguyễn Cao Kỳ thắng lợi trong cuộc tuyển cử tháng 9-1967 và dẹp yên được chống đối của phe Phật Giáo cùng sinh viên, học sinh, tình hình hậu phương bề ngoài yên tĩnh, thực ra có biết bao cột sóng ngầm cuồn cuộn. Sự kết hợp bất đắc dĩ của liên danh Thiệu – Kỳ có nguy cơ trở thành đối đầu và tiến đến thanh toán nhau trong những ngày tới.

Ngoài chiến trường, chỉ nói riêng khu 32 Chiến Thuật (gồm 3 tỉnh Bình Dương, Bình Long, Phước Long), vùng trách nhiệm của Sư Ðoàn 5 BB, đã mở rất nhiều cuộc hành quân bình định, hành quân truy quét địch, cho nên tình hình an ninh tạm ổn. Lại thêm lúc này quân đội Mỹ vào miền Nam đã lên con số khá cao. Quốc lộ 13, còn có tên gọi là “Quốc lộ máu”, đoạn Bình Dương – Bình Long đã ít bị phục kích hoặc gài mìn. Hoặc đoạn đường “gai lửa” Bình Dương – Phước Long trên Quốc lộ 14 cũng được khai thông.
Ðặc biệt thời gian này, Tiểu Ðoàn 2 Trung Ðoàn 9BB đã ghi một chiến công lớn. Nhờ tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết tâm kháng cự, lại được phi pháo yểm trợ, Tiểu đoàn đã bẻ gẫy một cuộc tấn công của địch vào Bộ chỉ huy, đóng tại Phước Quả, cách tỉnh lỵ Phước Long hơn 10 km về phía tây nam. Do chiến thắng trên, Tiểu Ðoàn Trưởng 2/9 (Ðại Úy T.) được thăng cấp Thiếu Tá, sau về làm Trung Ðoàn Phó Trung Ðoàn 9 BB.

Như đã lược nhắc, từ năm 1967, phong trào phản chiến trên nước Mỹ dâng cao. Những vụ biểu tình đòi rút binh đội Mỹ khỏi Việt Nam không ôn hoà như trước mà có phần quá khích, có khi còn đốt cờ Mỹ hoặc xé thẻ trưng binh v.v. Chính phủ Johnson bối rối, hơn nữa lại sắp có tổng tuyển cử vào năm tới (1968). Ðây là một thách thức lớn của Tổng Thống Johnson và Ðảng Dân Chủ. Qua trung gian Tổng thư ký LHQ, Pháp, Vatican cùng một số nước khác, chính phủ Johnson tìm cách dò ý Hà Nội về một giải pháp chính trị. Trong khi đó, bộ máy chiến tranh tại Hà Nội, được Liên Sô và Trung Cộng cố vấn, đã bắt mạch được thế lúng túng của Hoa-Thạnh-Ðốn, nên ra sức chuẩn bị một trận đánh lớn để chứng tỏ khả năng hiện diện và tiềm năng quân sự của họ tại chiến trường miền Nam, đồng thời làm chao đảo tinh thần nhân dân và Quốc Hội Mỹ cũng như tạo áp lực với chính phủ Johnson tiến tới bàn hội nghị.

Ðúng vào những ngày Tết năm Mậu Thân 1968, Hà Nội đơn phương hủy bỏ thỏa thuận hưu chiến, mở cuộc Tổng Tấn Công vào Saigon và 44 tỉnh, thị xã của VNCH. Mặt trận tại Bình Dương và BTL/SÐ5 khởi diễn đêm mùng 1 rạng mùng 2 Tết (31-1-1968). Lúc này, quân số hiện diện tại các đơn vị thuộc BTL/SÐ, cũng như Tiểu Khu Bình Dương, trường Công Binh, Thiết Ðoàn 1 Kỵ Binh v.v. không tới 50%.

Thế mà, dù cho địch có chuẩn bị thật kỹ, bảo mật tối đa và đặc biệt tấn công bất ngờ, chúng vẫn không làm chủ tình hình. Giao tranh dữ dội tại khu vực Lò Chén và trường Công Binh trong tỉnh lỵ. Ðịch cũng đặt những “chốt” chặn xung quanh thị xã và pháo kích vào Phú Lợi, cách Bình Dương 5km về hướng đông, nơi đặt Bộ Tư Lệnh SÐ5BB, mục đích cầm chân, không cho tiếp viện. Lập tức, Sư Ðoàn điều động đơn vị của Trung đoàn 7BB giải toả từ phía nam lên và đặc biệt lệnh cho Trung Ðoàn 8 của Ðại Tá Vỹ ở Bến Cát (lúc này Ông đã thăng cấp Ðại Tá, chỉ huy Trung Ðoàn 8BB) đưa đơn vị về giải tỏa từ phía bắc và phía đông. Ðại Tá Vỹ đặt Bộ chỉ huy Hành Quân tại Bưng Cải, khoảng giữa tỉnh lỵ và BTL/SÐ. Ông đích thân điều động cuộc hành quân đánh đuổi địch ra khỏi thị xã và các chi khu lân cận, đồng thời tiếp tục truy quét tàn quân địch.

Nhìn chung, cuộc tổng tấn công và tổng khởi nghĩa của Việt Cộng năm Mậu Thân đã thất bại nặng nề. Nhưng về chính trị, chúng đã đạt thắng lợi đáng kể. Trước áp lực từ nhiều phía, tháng 3-1968, Tổng Thống Johnson tuyên bố không tái tranh cử và hai tháng sau, Hoa-Thạnh-Ðốn cùng Hà Nội cử phái đoàn tới Paris để thương nghị. Số phận VNCH đang nằm trên bàn cờ chính trị cũng như lịch sử VN sắp sang một trang mới.

Sau những đợt hành quân giải tỏa năm Mậu Thân, Ðại Tá Vỹ trở về Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn tại Bến Cát. Thế là, sau khi chỉ huy Trung Ðoàn 9 trên 3 năm, rồi Trung Ðoàn 8 trên 2 năm, Ðại Tá Vỹ đã thực sự dẫn giắt và có công xây dựng thành 2 Trung Ðoàn chủ lực hùng hậu của SÐ5BB. Chính Tướng Phạm-Quốc-Thuần, người đã nắm chức Tư Lệnh SÐ5 hơn 4 năm (có lẽ lâu hơn các vị Tư Lệnh khác) chắc rất hãnh diện và quý mến vị Trung Ðoàn Trưởng này. Ðổi lại, Ðại Tá Vỹ được địch quân treo giá tính mạng rất cao. Ðể có thể chiêu dụ hoặc thanh toán Ông, địch đã dùng nhiều phương cách, kể cả ám sát và mỹ nhân kế v.v. Ðịch còn dùng thủ đoạn khác là lợi dụng tình cảm quan hệ gia đình từ miền Bắc gửi thư cho Ông. Nhưng chúng đã không thực hiện được một ý đồ nào. Ông và các quân sĩ thuộc quyền, tiếp tục truy lùng và diệt địch, tiếp tục lập chiến công. Những trận đánh tại Phú Hòa Ðông, bên kia sông tỉnh lỵ Bình Dương, vòng lên Cầu Ðịnh, Bầu Bàng, Bầu Lòng, qua tận Phú Giáo, hoặc những vụ phục kích trên hành lang di chuyển của địch, bắt sống, hạ sát giao liên – kinh tài, tịch thu vũ khí – tài liệu v.v. khiến hoạt động quấy phá của địch trong vùng trách nhiệm suy giảm rõ rệt. Thời gian này, sự kiện đáng ghi nhớ là một lần nữa, SÐ5BB lại được tuyên dương công trạng trước Quân Ðội. Và tất cả quân nhân từ binh sĩ tới cấp Tướng thuộc SÐ hãnh diện được đeo Dây Biểu Chương Bảo Quốc Huân Chương màu đỏ hoàn toàn.

Tuy nhiên, chiến thắng quân sự của VNCH và Ðồng Minh năm 1968 không đủ làm nguội tham vọng chiếm miền Nam của Hồ Chí Minh – Lê Duẩn và Ðảng CSVN. Tại Mỹ, việc TT Thiệu chưa chịu gửi phái đoàn qua Paris tham dự hòa đàm trước ngày bầu cử phần nào giúp liên danh Nixon đắc cử khít khao, nhưng chính sách giải kết của Mỹ đã là hòn đá tảng. Tổng thống Nixon gọi TT Thiệu qua Midway thông báo sẽ bắt đầu triệt thoái quân Mỹ và Ðồng Minh, nhưng sẽ giúp VNCH tăng gia quân số cũng như trang bị vũ khí hiện đại hơn, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh (Vietnamization).

Ðích thân TT Nixon, trong chuyến công du Á Châu, đã bí mật ghé Saigon vào hạ tuần tháng 7-1969, cho lệnh quân đội Mỹ triệt thoái nhanh hơn. Chính sách ngoại giao toàn cầu của Mỹ cũng thay đổi dần, từ “đối đầu” sang “hòa hoãn”, “đối thoại”. TT Nixon và Cố vấn An Ninh Quốc Gia Henry Kissinger bắt đầu sử dụng cả hai lá bài Nga Sô và Trung Cộng, để ép Hà Nội phải chấp nhận một giải pháp chính trị.

Ðầu năm 1970, vì quân đội Ðồng Minh đã một phần rút khỏi Việt Nam, trong khuôn khổ kế hoạch Việt Nam hóa chiến tranh, BTL/SÐ5 di chuyển lên Lai Khê, cách quận lỵ Bến Cát khoảng 5km về hướng đông bắc, nằm trên Quốc lộ 13. Lai Khê xưa kia là nơi người Pháp xây dựng nhà máy, phòng thử nghiệm cao su và có trồng hàng trăm héc ta cao su làm mẫu. Lai Khê đã trở thành một căn cứ quân sự quan trọng, nơi đặt Bộ Tư Lệnh một Lữ Ðoàn của SÐ1BB Hoa Kỳ; và khi họ về nước, BTL/SÐ5BB tiếp nhận căn cứ trên. Bộ Chỉ Huy Trung Ðoàn 8 cùng đóng chung trong căn cứ.

Thời gian này, Tướng Nguyễn Văn Hiếu đã thay Tướng Thuần làm Tư Lệnh. Ðại Tá Vỹ làm Trung Ðoàn Trưởng Trung Ðoàn 8 thêm một thời gian trước khi đi thụ huấn tại Hoa kỳ. Và Trung Ðoàn này đặt dưới quyền chỉ huy của một sĩ quan do Tướng Hiếu đưa từ miền Trung về. Tiếc thay vị Ðại Tá Trung Ðoàn Trưởng mới (Bùi Trạch D.) đã thân bại danh liệt trong trận Snoul (nằm giữa tỉnh Kratie và biên giới Việt – Campuchia), khiến cả một Trung Ðoàn chủ lực của SÐ, với phù hiệu “Chúa Sơn Lâm” trên ngực áo trái, bị thảm bại, nay như người bệnh đang cần chữa trị, thuốc thang để mau có sức hồi phục – cả đơn vị chỉ còn khoảng 500 tay súng. Chính Tướng Hiếu cũng bị ảnh hưởng không tốt sau trận Snoul. Kể từ đây, con đường binh nghiệp của Tướng Hiếu đã rẽ sang một khúc quanh mới (và cuối cùng Ông đã tử nạn tại Văn Phòng Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn III với lý do “Bất cẩn khi lau chùi vũ khí?”)

Năm 1971, sau khi tốt nghiệp khoá Chỉ Huy Tham Mưu Cao Cấp tại Hoa Kỳ, Ðại Tá Vỹ được lệnh trở lại SÐ5BB, với chức vụ Tư Lệnh Phó SÐ. Ðương kim Tư Lệnh là Tướng Lê Văn Hưng. Ðại Tá Vỹ ra sức chấn chỉnh việc phòng thủ căn cứ Lai Khê, nơi đặt bản doanh chính của Bộ Tư Lệnh SÐ. Căn cứ Lai Khê có vòng đai phòng thủ khá rộng. Các pháo đài, các vọng gác làm bằng gỗ thông và bao đựng cát che chắn, có tính dã chiến, tạm bợ, do quân đội Ðồng Minh để lại, đã đến lúc phải tu bổ, sửa chữa nhiều.

Ðích thân Ðại Tá Vỹ cùng các Ðơn vị trưởng đến từng vọng gác, từng pháo đài quanh căn cứ để kiểm soát, đôn đốc, tái thiết lập hệ thống phòng thủ. Ông chỉ thị các đơn vị phải đào những hầm trú ẩn hình chữ “A” để giảm thiểu thiệt hại cho binh sĩ khi địch pháo kích v.v. Cũng nhờ vậy mà sau nhiều lần tấn công của đặc công Việt Cộng, khi thì vài toán nhỏ, khi cả tiểu đoàn, cũng không thể nào xâm nhập sâu trong căn cứ. Trái lại, bị lực lượng bố phòng phát hiện kịp thời và phản kích khiến chúng thiệt hại nặng. Có lần, sau một cuộc tấn công xâm nhập, tổng số tử thi đặc công đếm được ngay tại vòng đai trong cùng của căn cứ lên tới hơn 40 xác. Ðây là con số khá lớn, vì căn bản, tấn công bằng đặc công là xử dụng những toán nhỏ, được huấn luyện rất thuần thục, nhằm gây tổn thất lớn về vật chất và tinh thần cho đối phương. Vả lại, phải mất một thời gian lâu dài, địch mới đào tạo bổ sung được hơn 40 đặc công.

Ngoài bản doanh chính tại căn cứ Lai Khê, Sư Ðoàn 5 đặt Bộ Tư Lệnh Hành quân tại thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ Bình Long, nằm trên Quốc lộ 13, cách Saigon khoảng 100km về hướng bắc. Tướng Hưng và Ðại tá Vỹ thường luân phiên có mặt tại An Lộc để kịp đáp ứng tình hình.

Thời gian này, kế hoạch “Việt Nam hóa” chiến tranh đã gần hoàn tất. Cả Mạc-Tư-Khoa lẫn Bắc Kinh đều áp lực Hà Nội sớm giải quyết chiến tranh. Lê Ðức Thọ – nhân vật quyền lực thứ ba trong bộ Chính trị Ðảng CSVN – nhiều lần mật đàm tại Paris cùng Cố vấn An Ninh Quốc Gia Mỹ Henry Kissinger, trong chiến lược “vừa đánh vừa đàm”. Về phương diện quân sự, nhân thế thất bại chiến lược của quân lực VNCH tại Hạ Lào và Campuchia, Hà Nội quyết định mở một đợt tấn công mới trong mùa Xuân-Hè 1972, với miền Ðông Nam Việt làm “điểm”, và Quảng Trị cùng Cao nguyên Trung phần làm “diện”, nhằm tiêu hao lực lượng VNCH và mở rộng lãnh thổ kiểm soát, chuẩn bị cho giải pháp “ngưng bắn da beo”. Trên mặt trận ngoại giao, Hà Nội muốn lợi dụng năm tranh cử Tổng thống ở Mỹ để ép chính phủ Richard Nixon phải nhượng bộ ngưng yểm trợ chế độ VNCH của Tổng Thống Thiệu, hầu thành lập một chính phủ hòa hợp. Hà Nội còn muốn thành lập một thủ đô cho Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam, dưới bảng hiệu mới Chính phủ Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam.

Tuy nhiên, vào tháng 1-1972, do Tướng Abrams dự đoán được ý đồ của Hà Nội – đã gia tăng những cuộc oanh tạc B-52 khiến các trục tiếp vận chiến lược của CSBV bị thiệt hại nặng nề – cuối cùng Bộ Chính trị Ðảng CSVN đổi ý, chọn Quảng Trị làm “điểm” [chủ yếu], mặt trận miền Ðông và Cao nguyên chỉ còn là “diện” [hỗ trợ]. Hạ tuần tháng 3-1972, đích thân Văn Tiến Dũng mang hơn 1 quân đoàn với đầy đủ tăng pháo vượt qua giới tuyến Bến Hải đánh chiếm Quảng Trị.

Khác với những đợt tấn công năm Mậu Thân (2/1968, 5/1968, 9/1968) mà các nhà nghiên cứu và bình luận gọi là cuộc “tấn công tự sát”, lần này Hà Nội, với mục đích tạo ưu thế tại bàn hội nghị, đồng loạt mở 3 mặt trận lớn tại Quảng Trị, Kon Tum và Bình Long.

Những ngày đầu tháng 4-1972, đã có tin tình báo ghi nhận những cuộc chuyển quân của địch từ phía bên kia biên giới, theo hướng bắc và đông bắc tiến gần đến Lộc Ninh, một quận lỵ thuộc tỉnh Bình Long, cách thị trấn An Lộc khoảng 20km về phía tây bắc. Ðây là nơi đặt Bộ Chỉ Huy Chiến đoàn 9 (gồm Trung đoàn 9 BB, tiểu đoàn Biệt động quân, Chi đoàn Thiết giáp, tiểu đoàn Pháo binh v.v.). Thế rồi, rạng sáng ngày 6 tháng 4 năm 1972, vẫn với chiến thuật quen thuộc tiền pháo hậu xung, lực lượng địch với quân số đông gấp ba quân trú phòng, lại có chiến xa yểm trợ mở cuộc tấn công. Ðại Tá Chiến đoàn trưởng Nguyễn Công V. cùng một số sĩ quan tham mưu bị bắt làm tù binh. Trong khi đó, thị trấn An Lộc, tức tỉnh lỵ Bình Long, bị địch pháo kích từ mấy ngày trước, mở màn cho những trận mưa pháo ròng rã trên ba tháng trời. Người ta bàng hoàng, lo lắng được tin Lộc Ninh thất thủ. Tướng Hưng và Ðại Tá Vỹ đều có mặt tại BTL Hành quân để điều động quân sĩ trong vùng được gọi là mặt trận Bình Long – An Lộc.

Ngày 13-4-1972, Việt Cộng tung 3 Sư đoàn bộ binh (Công trường 5, 7, 9), có pháo và chiến xa yểm trợ tấn công. Mở đầu là những trận mưa pháo rót vào thị xã từ nửa khuya. Ðạn pháo nổ liên tục trải khắp thành phố, rung chuyển mặt đất. Người ta không thể ước tính được có bao nhiêu trái đạn pháo và cũng không định hướng được địch đã pháo từ phía nào… Không kể những vị trí quân sự như Bộ Tư Lệnh Hành Quân/SÐ5, Bộ Chỉ Huy Tiểu Khu Bình Long, Bộ Chỉ Huy TrÐ 8 v.v., bệnh viện, trường học, chợ, nhà dân, trung tâm tạm cư cho người di tản từ Lộc Ninh đều bị trúng pháo địch. Cả thành phố chìm trong lửa khói. Rồi bỗng nhiên địch ngừng pháo. Bên ngoài, trời vừa hừng sáng, những cột khói đen vươn lên cao. Người ta nghe được tiếng máy gầm gừ của đoàn cơ giới tiến vào thị xã. Không! Không thể lầm được! Chiến xa địch đang di chuyển, càng lúc càng gần Bộ Tư Lệnh Hành Quân. Ðây là lần đầu địch sử dụng chiến xa tại chiến trường miền Ðông và cũng là lần đầu tiên, binh sĩ của ta phải đối phó, nên có phần nào hoảng hốt, bối rối.

Nhưng lạ thay, các họng súng đại bác trên chiến xa không thấy nhả đạn, địch hình như đang dò tìm mục tiêu, chúng đã mất phương hướng. Một chiếc T54 đang nghiến xích sắt trên mặt đường sát bên hông BTL/Hành Quân. Mọi người, từ binh sĩ tới Tư Lệnh chiến trường, đều nín thở như chờ đợi một thảm họa và hầu như phó mặc cho số phận. Bỗng Ðại Tá Vỹ lao khỏi hầm, với nón sắt, áo giáp và đặc biệt khẩu súng chống chiến xa M72 trên tay, theo sau là Trung úy sĩ quan tùy viên. Tới bờ tường phòng thủ, vừa lúc chiến xa địch vượt qua khỏi cổng chính khoảng 20 mét, Ông quỳ người, giữ tư thế tác xạ, đưa M72 lên vai. Người sĩ quan tùy viên kế bên, khom người quan sát. Mọi người trong hầm chỉ huy hồi hộp phóng tầm nhìn qua lỗ châu mai. Một tiếng nổ. Và một luồng lửa đỏ tống về phía sau. Chiến xa địch bị trúng hỏa tiễn, bốc khói nhưng vẫn cố di động trước khi trở thành một khối sắt xám xịt vô dụng bên vệ đường.

Quân sĩ từ trong hầm chỉ huy đổ ra ngoài reo hò mừng rỡ. Bây giờ người ta mới thực sự tin M72 đã bắn hạ chiến xa địch mà suốt mấy năm qua, từ khi được trang bị, chưa có cơ hội tác xạ. Ai ngờ ngày hôm đó, trong cơn nguy khốn, vị Ðại Tá Tư Lệnh Phó chiến trường lại làm nhiệm vụ một khinh binh, đích thân sử dụng M72 triệt hạ T54 của Bắc Việt. Câu chuyện Ðại Tá Vỹ bắn hạ chiến xa địch lan truyền, tinh thần quân sĩ trú phòng tại Bình Long – An Lộc lên cao… Ðó đây có những báo cáo về Bộ Tư Lệnh, cho biết đã bắn hạ thêm nhiều chiếc khác. Hình như chiến xa địch bị vô hiệu hoá vì không có bộ binh phối hợp, có lẽ do hiệu quả những đợt B52 trải nhiều thảm bom suốt ngày đêm hôm trước.

Vì Hà Nội mở chiến dịch Xuân Hè 1972 khắp 3 vùng chiến thuật, lực lượng Tổng trừ bị VNCH (Dù và TQLC) bị phân tán mỏng. Sau đó, Bộ Tổng Tham Mưu giữ TQLC ở vùng I, và đưa Nhảy Dù về vùng III và vùng II. Quân Ðoàn III còn được tăng phái một số đơn vị của Quân Ðoàn IV như SÐ21BB, SÐ9BB. Liên Ðoàn Biệt Cách Dù cũng vào mặt trận hầu có thể sớm giải tỏa An Lộc. Nếu An Lộc thất thủ, Sàigòn tất nhiên bị đe doạ.

Trong khi các lực lượng giải tỏa gặp rất nhiều khó khăn tại các nút chặn quanh thị xã An Lộc, nhất là tại Xa Cam, khoảng 10km về phía nam, thì lực lượng tử thủ bên trong thị xã như sống trong hỏa ngục. Hàng ngày, cái thị trấn nhỏ bé nhận nhiều ngàn đạn pháo của địch, cộng thêm tiếng bom nổ của các phi cơ oanh kích chiến xa địch trên đường tiến gần thị xã, tiếng bom từ B52 trải xuống quanh vùng dội lại v.v. Liên lạc từ BTL Hành Quân đến các đơn vị bên ngoài bị gián đoạn. Tinh thần mọi người quá căng thẳng và rơi vào tình trạng khủng hoảng. Cũng có thể nhận xét của Tướng Hollingsworth, Cố vấn Quân Ðoàn III, rằng Tướng Hưng, Tư Lệnh chiến trường, như người “mất hồn” và “không làm được việc gì cả” là quá khắt khe chăng?

An Lộc bị vây hãm càng lâu, tinh thần quân sĩ trú phòng càng xuống. Thiếu ngủ, thiếu dinh dưỡng, thiếu nước, v.v. lại thêm môi trường ô nhiễm vì xác tử thi đã thối rữa, bốc mùi v.v. thực không sao tả hết được nỗi kinh hoàng cùng cực của các chiến sĩ tử thủ An Lộc ba mươi sáu năm về trước (cũng vào THÁNG TƯ quái ác). Vì “tất cả cho chiến trường”, cho nên kế hoạch tiếp tế, tản thương đã lập tức thực hiện song song với việc giải tỏa. Việc tiếp tế thả dù khởi đầu không được như ý. Phi cơ phải tránh phòng không địch, nên bay quá cao và có nhiều kiện hàng rơi không đúng nơi dự tính. Lại thêm địch tiếp tục pháo nên việc đón nhận các tiếp liệu phẩm gặp khó khăn. Ðã có những quân nhân tử nạn vì bị kiện hàng rơi trúng, không kịp tránh, hoặc bị trúng đạn pháo trước khi chạm tay vào các vật phẩm tiếp tế.

Dẫu vậy, không như Cổ Thành Quảng Trị ở Vùng I hay Tân Cảnh (Dakto) ở Vùng II, thị trấn An Lộc đã đứng vững, chứng minh tinh thần anh dũng, quyết chiến của các chiến sĩ tử thủ cũng như giải tỏa, trong mặt trận Bình Long – An Lộc. Kết thúc trận chiến, sau này theo thống kê, cả hai bên đều thiệt hại nặng. VNCH vẫn kiểm soát được các tỉnh lỵ, huyện lỵ (trừ Lộc Ninh) và thị trấn trên Quốc lộ 13, đoạn Bình Dương – Bình Long, Việt Cộng kiểm soát vùng nông thôn và ven ranh. Di chuyển lên Bình Long, Phước Long, phải dùng phi cơ, không còn thênh thang đường bộ như năm trước.

Rời chiến trường Bình Long – An Lộc, một trận chiến làm rúng động thế giới, Ðại Tá Vỹ về làm Phụ Tá Hành quân Tư Lệnh Quân Ðoàn III rồi được chỉ định làm Tư Lệnh lực lượng đặc nhiệm (gồm liên đoàn Biệt Ðộng Quân, Thiết Giáp, Pháo Binh v.v.). Ngoài ra, Ông cùng một phái đoàn được đi du ngoạn Ðài Loan gọi là để tưởng thưởng các chiến sĩ hữu công. Sư Ðoàn 5BB cũng có một Tư Lệnh mới, Ðại Tá Trần Quốc Lịch thay Tướng Hưng từ sau trận chiến An Lộc. Những cuộc giao tranh ác liệt không còn, thỉnh thoảng địch “đóng chốt” hoặc bắn xẻ.

Năm 1973, Ðại Tá Vỹ thuyên chuyển về Sư Ðoàn 21 BB, giữ chức Tư Lệnh Phó. Ít lâu sau, chính Tướng Hưng lại về làm Tư Lệnh Sư Ðoàn 21 một thời gian trước khi nhận chức Tư Lệnh Phó Quân Ðoàn IV. Rừng núi miền Ðông Nam Phần khác với vùng sình lầy miền Tây. Hơn hai mươi năm trước, Thiếu Úy Vỹ đã cùng bao đồng đội, lao mình ra phỏi phi cơ ở độ cao mấy ngàn bộ, khi thì nhảy ngay trên đầu địch, khi thì nhảy xuống sau lưng địch, đánh bọc hậu, thì nay, dù Sư Ðoàn 5 hay Sư Ðoàn 21, dù Quân Ðoàn III hay quân Ðoàn IV, đời chiến binh đâu chẳng là nhà. Và nhiệm vụ nào thượng cấp đã giao, phải ra sức chu toàn. Với nhiệm vụ của một Tư Lệnh Phó, Ðại Tá Vỹ thường bay thị sát trong vùng và không may, trong một phi vụ quan sát, máy bay gặp nạn, Ông bị văng ra khỏi phi cơ nhưng như có phép lạ, chỉ bị gẫy xương ống chân và xây xát, bầm tím trên mặt, trên thân thể. Còn sống sót khi máy bay gặp nạn là điều hiếm thấy và quân y viện đã săn sóc, bó bột chân; xong để Ông về nhà dưỡng thương ba tháng trước khi tháo băng bột.

Thời gian dưỡng thương, đi lại phải nhờ vào cặp nạng nhôm quân y viện cho mượn, sinh hoạt cần thiết hàng ngày đôi lúc phải nhờ người khác. Nhưng đây cũng là thời gian hiếm có trong đời để nhớ về những trận đánh, những chiến trường và những chiến công. Là một chiến sĩ từng xông pha ngoài trận tuyến, dày dạn chiến trường, mà nay chỉ làm bạn với chiếc máy thu thanh, thu hình, tin tức chỉ xoay quanh Việt Cộng vi phạm hiệp định bao nhiêu lần, đã đón nhận bao nhiêu tù binh, giành dân lấn đất ở đâu v.v., Ông thường tự hỏi chẳng lẽ mang danh chiến sĩ mà cứ loanh quanh trong căn phòng hơn 20 mét vuông với đôi nạng hay sao?….

Thoắt đã gần 3 tháng, còn 2 tuần nữa là tới ngày tháo bột. Những bằng hữu, chiến hữu lui tới thăm hỏi cũng thưa dần. Trong khi ấy, sau trận chiến An Lộc, Sư Ðoàn 5 BB cần được bổ sung và chỉnh đốn về mọi mặt, từ quân số đến trang thiết bị. Ðại Tá Trần Quốc Lịch, đã được thăng cấp Chuẩn Tướng. Bộ Tham Mưu/SÐ gồm Ðại Tá Tham Mưu Trưởng Ð., Trưởng Phòng 1 H., Trưởng Phòng Tổng Quản Trị T.H., Trưởng Phòng 4, Tiểu Ðoàn Tiếp Vận, Trung Tâm Huấn Luyện Sư Ðoàn v.v. cộng với các Trung Ðoàn Trưởng mới … tập họp thành một “…” (không biết dùng từ nào cho thích hợp), làm Sư Ðoàn “tuột dốc” thê thảm. Nạn bè phái, chạy chọt chức vụ, cấp bậc, lo lót về đơn vị yểm trợ, lính ma, lính kiểng, ăn chơi, trụy lạc v.v. khiến Trung Ương không thể dung dưỡng được lâu. Và kết quả, Chuẩn Tướng Lịch bị cách chức Tư Lệnh, giáng cấp, chờ ngày ra toà (dịp này, Chuẩn Tướng Lê Văn Tư/SÐ25BB cũng bị cách chức và giáng cấp).

Vào một ngày đầu tháng 11-1973, Ðại Tá Vỹ nhận lệnh về đảm nhiệm chức vụ Tư Lệnh Sư Ðoàn 5 BB với trọng trách chấn chỉnh, thanh lọc và lấy lại uy danh ngày xưa. Thời gian này, Trung Tướng Phạm Quốc Thuần đã thay Tướng Nguyễn Văn Minh làm Tư Lệnh Quân Ðoàn III và Quân Khu III. Lệnh trên đã ban ra, buộc Ðại Tá Vỹ phải yêu cầu các quân y sĩ tháo băng bột ở chân sớm hơn dự dịnh một tuần và ngày 7 tháng 11-1973, lễ bàn giao diễn ra tại Bộ Tư Lệnh/SÐ ở Căn Cứ Lai Khê.

Trở lại chiến trường miền Ðông lần này, lại nhận một trọng trách lớn, Ðai Tá Vỹ bắt tay ngay vào việc chấn chỉnh, sắp xếp các sĩ quan ở Trung Ðoàn và Bộ Tham Mưu. Ông rất hài lòng với ba Trung Ðoàn Trưởng: Trung Tá Quế, từ đơn vị Biệt Cách Nhảy Dù chỉ huy Trung Ðoàn 9; Trung Tá Hùng, thụ huấn tại Trường Chỉ Huy Tham Mưu, về chỉ huy Trung Ðoàn 8; và Trung Tá Vượng, Trung Đoàn 7. Trường hợp Trung Tá Vượng tưởng cũng nên mở dấu ngoặc để nói thêm: Ông từ binh chủng Thủy Quân Lục Chiến, về Sư Ðoàn 5 làm … sĩ quan Thanh Tra! Ðại Tá Vỹ, không muốn phí phạm nhân lực và muốn tạo cơ hội tốt cho Trung Tá Vượng, nên đã trao Trung Ðoàn 7 cho Ông. Ðối với Bộ Tham Mưu Sư Ðoàn, trải qua những kinh nghiệm chiến trường và những phúc trình đầy đủ, Ðại Tá Vỹ muốn có một phụ tá biết xử dụng khả năng, sức mạnh của thiết giáp, kỵ binh nên Ðại Tá Thoàn thuộc binh chủng Thiết Giáp đã về làm Tư Lệnh Phó/SÐ, và Trung Tá Ð.Ð.Chinh, một Sĩ Quan Tham Mưu nhiều năm kinh nghiệm thay Ðại Tá Ðăng trong chức vụ Tham Mưu Trưởng. Dĩ nhiên phần lớn các trưởng phòng thuộc Bộ Tham Mưu/SÐ cũng lần lượt ra đi. Thế là SÐ5BB bây giờ đã mang một bộ mặt mới và quân sĩ đã có niềm tin mới vào các cấp chỉ huy. Con đường trước mặt là phải ngăn chặn và giáng trả những vi phạm, phải giành lại những nơi mà địch lấn chiếm sau hiệp định tháng 1-1973, tới nay còn đóng “chốt” và cố thủ. Ngoài ra, việc phòng thủ các vị trí đóng quân cũng là mối quan tâm lớn của vị tân Tư Lệnh. Bài học đắt giá từ chiến trường An Lộc khiến các đơn vị đã tích cực hơn nhiều trong việc thiết lập hệ thống phòng thủ. Ngoài việc đào giao thông hào quanh đơn vị, lập hầm trú ẩn an toàn cho binh sĩ, mỗi đơn vị bắt buộc phải đào một giếng nước v.v. Riêng vòng đai phòng thủ căn cứ, ngoài hệ thống mìn bẫy dĩ nhiên phải có, Ðại Tá Vỹ đặc biệt giao cho Tiểu Ðoàn 5 Công Binh sản xuất thực nhiều chông nhỏ rải xung quanh các pháo đài quanh căn cứ. Loại chông này, lấy vật liệu từ kẽm gai, có hình dáng như 4 cái đinh, mỗi đinh dài khoảng 3cm, mũ của đinh tụ lại ở giữa, bốn đầu nhọn của đinh có ngạnh giống lưỡi câu, hướng ra ngoài. Khi chông rải ra, lúc nào cũng có một mũi nhọn hướng lên trời để chờ đợi những bàn chân “đi giải phóng”. Ðại Tá Vỹ muốn tạo niềm tin cho các quân sĩ, tin vào khả năng tác chiến, tin vào vũ khí và hỏa lực, tin vào hệ thống phòng thủ vững chắc và nhất là tin vào tinh thần quyết chiến của cấp chỉ huy cùng đồng đội, thì cho dù tiền pháo hậu xung, cho dù biển người, cho dù xe tăng T54, T56 v.v. cũng không làm sờn lòng chiến sĩ SÐ5.

Tuy rất bận rộn với công vụ, Ðại Tá Vỹ thường dành vài giờ mỗi tháng để nhắn nhủ hoặc tâm tình cùng quân sĩ tại võ đường của SÐ. Ðặc biệt, rút kinh nghiệm chiến trường An Lộc, Ông đã chỉ thị Trung Ðoàn 8 cho tác xạ biểu diễn hoả tiễn TOW (được trang bị từ cuối năm 1972), một loại hoả tiễn tối tân có thể điều khiển tìm mục tiêu, để quân sĩ trú phòng vững tin hơn. Thời gian này, Sư Ðoàn lại được bổ sung hai Sĩ Quan nhiều kinh nghiệm tham mưu và chiến trận: Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường và Ðại Tá Từ Vấn. Ðại Tá Tường xuất thân binh chủng Nhảy Dù, trước khi về SÐ là Tiểu Khu Phó TK/Bình Ðịnh; Ðại Tá Vấn nguyên là Liên Ðoàn Trưởng Liên Ðoàn 22 Biệt Ðộng Quân.

Về an ninh diện địa, trong vùng trách nhiệm của SÐ5BB, Việt Cộng vi phạm Hiệp Ðịnh ngừng bắn nhiều lần, nhưng chỉ lẻ tẻ và ở mức độ thấp. Ðơn vị tác chiến của SÐ đã trực tiếp giáng trả hoặc hỗ trợ các đơn vị Ðịa Phương Quân, Nghĩa Quân giành lại thôn, ấp xa xôi do địch tạm chiếm. Tuy nhiên vào khoảng gần cuối năm 1974, cách quận lỵ Bến Cát hơn 10km về phía tây nam, đồn Rạch Bắp bị địch tràn ngập…

Ðây là một trọng điểm kiểm soát hành lang di chuyển của địch. Lực lượng đồn trú bị tổn thất nhẹ và đã rút ra ngoài an toàn. Bộ Tư Lệnh chỉ thị Trung Ðoàn 9 phải đưa một đơn vị hành quân giải tỏa. Ðịch đã rút lui về vùng Tam Giác Sắt chỉ để lại chừng một trung đội cố thủ tại đây. Trải qua mấy ngày đầu, lực lượng tái chiếm vẫn dậm chân tại chỗ. Ðịch núp dưới giao thông địa đạo tránh bom và pháo. Khi ta xung phong lại gặp hỏa lực dữ dội của địch. Cho nên đơn vị của TrÐ 9 đến giải tỏa, thay đổi chiến thuật. Trong khi cả tiểu đoàn vây hãm vòng ngoài, có những toán nhỏ với vũ khí nhẹ và lựu đạn, xâm nhập và tiêu diệt từng ổ kháng cự. Thế là cũng với quân số tương đương, ta chiếm lại được Rạch Bắp.

Niềm vui chiến thắng kéo dài tới ngày Quốc Khánh 1-11-1974, ngày Ðại Tá Lê Nguyên Vỹ được vinh thăng Chuẩn Tướng. Một số các quân nhân khác cũng được tưởng thưởng và thăng cấp trong dịp lễ kỷ niệm này. Ðặc biệt sắc lệnh thăng thưởng cấp Tướng chỉ có hai vị: H.V.Lạc lên Chuẩn Tướng thực thụ, và Lê Nguyên Vỹ nhiệm chức.

Khoảng trung tuần tháng 12-1974, từ phía đông bắc căn cứ Lai Khê, tin dữ đưa về: Việt Cộng tấn công một số chi khu của tỉnh Phước Long như Ðôn Luân, Ðức Phong và đang uy hiếp tỉnh lỵ. Mọi liên lạc tiếp viện, yểm trợ không thể dùng đường bộ, chỉ hoàn toàn trông vào không lực VNCH. Trong khi phi trường Biên Hòa, phi trường Phước Long, và BTL/SÐ5 bị pháo liên tục thì Sư đoàn 7 của địch, có tăng và pháo yểm trợ mỗi ngày một xiết chặt vòng vây quanh Phước Long. Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III đã không vận tăng cường đến Phước Long lực lượng Biệt Cách Dù, một tiểu đoàn bộ binh và 3 đại đội trinh sát. Ngoài ra rất nhiều phi tuần đánh bom quanh tỉnh lỵ. Nhưng vì đánh giặc theo kiểu “con nhà nghèo”, bắn một viên đạn, thả một trái bom đều phải tính thành tiền, vả lại làm gì còn B52 trải bom thảm theo yêu cầu nữa, lại không còn một lực lượng Tổng Trừ Bị nào tăng phái cho Quân Ðoàn, vì thế Phước Long chỉ cầm cự được thêm ít lâu và thất thủ vào ngày 6-1-1974. Ðây là tỉnh lỵ đầu tiên của VNCH bị địch lấn chiếm trong chiến dịch “tầm ăn dâu” hay là “giành dân lấn đất”.

Không biết do áp lực nào, Tổng Thống Thiệu đưa Tướng Dư Quốc Ðống về thay Tướng Thuần. Hình như Tướng Ðống cũng lập kế hoạch giải tỏa và cần tăng viện một sư đoàn, nhưng không được đáp ứng vì không đủ quân, nên có ý xin từ chức. Rồi vài tháng sau, Tướng Nguyễn Văn Toàn thay Tướng Ðống. Tướng Thuần, Ðống hoặc Toàn làm tư lệnh, Phước Long vẫn nằm trong tay Việt Cộng và hình như Phủ Tổng Thống hay Bộ Tổng Tham Mưu đã quay mặt với lý do nơi đây không phải là vị trí chiến lược quan trọng. Chỉ trong vòng 3 tháng mà hai lần thay Tư Lệnh quân đoàn bảo vệ Saigon. Rồi lại một tin không vui từ Bộ Tư Lệnh Quân Ðoàn III truyền đi: Tướng Hiếu đã tử nạn!!! Nghe tin này, người ta thực hoang mang và xúc động.

Trong khi đó, sau khi chiếm được Phước Long, Việt Cộng tảng lờ những chống đối, lên án, tại Ủy ban kiểm soát đình chiến, tại Ban liên hợp quân sự v.v. cứ khăng khăng “chỉ đánh trả lại những vi phạm Hiệp định Paris” của VNCH. Quan trọng hơn hết, Hoa Kỳ không có phản ứng, hoặc phản ứng lấy lệ. Dĩ nhiên, đối với Hoa Kỳ, chiến tranh VN đã là dĩ vãng. Kể từ năm 1967, họ đã từng bước lập kế hoạch, nào là thư từ qua lại, nào là đi đêm, hoạt động con thoi, nào là qua trung gian các cường quốc rồi chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh, rồi leo thang, rồi ném bom Hà Nội v.v. Cuối cùng, gần 6 năm sau, đúng nửa đêm ngày 27 rạng 28-1-1973 giờ quốc tế, có một bản văn được ký kết tại Hội nghị Paris với tên gọi “Hiệp Ðịnh về Chấm Dứt Chiến Tranh và Tái Lập Hòa Bình tại Việt Nam” theo nhu cầu và quyền lợi của quốc gia Hoa Kỳ. Hơn 60,000 lính tác chiến Mỹ còn lại đã triệt thoái. Hầu hết tù binh Mỹ được phóng thích, kể cả Ðại tá Không quân John McCain – đương kim ứng cử viên Tổng thống Mỹ – sau hơn 5 năm đủ mùi vị đầy đọa, hạ nhục tại Hỏa Lò Hà Nội. Dù chẳng phải không tiên liệu được tham tâm nhất thống miền Nam của Lê Duẩn và Ðảng Lao Ðộng Việt Nam, nhưng TT Nixon và Ngoại trưởng Kissinger không có một lựa chọn nào khác, đành vui hưởng cái gọi là “hòa bình trong danh dự” [peace with honor] từ mùa Xuân 1973. (Không biết đây có phải là Mỹ đã “thua” và phải “tháo chạy” như có người đã nhận xét?).

Tại Bộ Tư Lệnh SÐ5BB, đầu năm 1975, Ðại Tá Từ Vấn giữ chức vụ Tham Mưu Trưởng thay Ðại Tá Chinh xin thuyên chuyển về trường Hạ Sĩ Quan Nha Trang. Ðại Tá Nguyễn Mạnh Tường, theo trên cho biết, có liên hệ đến vụ đảo chánh 11-11-1960, nên không được chấp thuận chức vụ Tham Mưu Trưởng. Tướng Vỹ chỉ định Ông làm Phụ Tá Hành Quân.

Nhìn chung Quân đội VNCH giai đoạn này, đã ở thế thủ. Viện trợ quân sự bị cắt giảm nhiều, không đủ lực mở những cuộc hành quân quy mô, có tăng, có pháo và phi cơ yểm trợ đầy đủ như trước. Tướng Vỹ cho biết, trong tình hình xấu nhất, Ông có thể cầm cự 6 tháng không cần tiếp tế.

Nhưng Hà Nội bắt đầu phát động chiến dịch Xuân-Hè 1975, với hy vọng làm ăn ở miền Tây nguyên. Ba sư đoàn Bắc quân, được tăng pháo và đặc công yểm trợ, tấn công và chiếm được thị xã Ban Mê Thuột, nơi đặt Bộ Tư lệnh Sư đoàn 23 BB vào thượng tuần tháng 3-1975. Tư lệnh Quân đoàn II và Bộ Tổng Tham Mưu hoàn toàn bị bất ngờ. Giữa lúc các lực lượng cơ hữu của QĐ II đang lo tái chiếm Ban Mê Thuột, TT Thiệu triệu tập một phiên họp mật với Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm, Ðại Tướng Cao Văn Viên và Trung Tướng Ðặng Văn Quang tại hành lang Dinh Ðộc Lập, tiết lộ đã quyết định triệt thoái khỏi Pleiku và Vùng I chiến thuật, rút về lập tuyến phòng thủ Phan Rang – Ban Mê Thuột. Lý do chính là phái đoàn Nghị sĩ mới từ Mỹ về cho biết viện trợ tài khóa 1975-1976 lại bị cắt giảm. TT Thiệu đành phải thực hiện chiến lược “đầu bé, đít to” – cắt nhỏ dần lãnh thổ kiểm soát, cốt sao giữ được Vùng III và Vùng IV. Quyết định này được thông báo cho Tướng Trưởng ngày 12-3-1975: Hoàn trả Nhảy Dù về Sài Gòn; nếu cần, triệt thoái Huế, về giữ Ðà Nẵng. Hai ngày sau, TT Thiệu cùng các Tướng Khiêm, Viên và Quang bay ra Cam Ranh, họp mật với Tướng Phạm Văn Phú, và cho lệnh triệt thoái Kontum – Pleiku.

Tướng Phú đề nghị cho hành quân cấp Quân Đoàn dài theo Quốc lộ 7-B – từ ngã ba Thuần Mẫn trên lộ 14, xuống Cheo Reo (Phú Bổn), Củng Sơn, rồi Tuy Hòa. Vì lý do “bảo mật”, ngay ngày 16-3, toàn bộ lực lượng QÐ II bắt đầu rút khỏi Pleiku. Các lực lượng Cảnh sát, Ðịa Phương Quân và Nghĩa quân đều bị bỏ lại. Ngay trong đêm 16-3, hỗn lọan đã bùng nổ ở Pleiku, khi Sư Đoàn 6 Không Quân di tản gia đình và thân nhân. Hàng chục ngàn dân chúng Pleiku thu góp tài sản đổ về đường 7-B. Văn Tiến Dũng, dù bất ngờ, cũng sai quân đuổi theo truy kích. Ðoàn di tản bị kẹt đọng lại ở Cheo Reo, và rồi Củng Sơn.

Quốc lộ 7-B trở thành địa ngục trần gian cho những quân nhân QÐ II di tản. Toàn bộ xe tăng, thiết giáp và pháo bị lọt vào tay CSBV. Chưa đầy 5000 người di tản tìm được về Tuy Hòa. Tư lệnh lực lượng bảo vệ, Chuẩn Tướng Tất, bị bắt sống. Trực thăng cứu thoát được Chuẩn Tướng Cẩm, Tư lệnh phó QĐ II, về Tuy Hòa, nhưng sau này vẫn lọt vào tay CS.

Lý do TT Thiệu ra lệnh triệt thoái, tới nay vẫn còn là dấu hỏi lớn, vì đã mở đầu cho sự sụp đổ hoàn toàn của miền Nam Việt Nam. Người ta nghĩ rằng trước khi trở thành Tổng Thống, Ông đã là một Trung Tướng, đã là Bộ Trưởng Quốc Phòng, vậy thì đằng sau quyết định đó, có ẩn ý gì? … Chỉ chắc một điều là quyết định này không do Mỹ chỉ thị để có thể “tháo chạy”. Ðại tướng Khiêm và Trung tướng Quang đã khiến các nhân viên Mỹ cực kỳ bực dọc vì không thông báo cho Mỹ biết việc này, khiến các nhân viên Mỹ ở vùng II và Vùng I thất điên bát đảo.

Hạ tuần tháng 3-1975, sau khi cuộc triệt thoái cao nguyên trở thành thảm bại, TT Thiệu cho lệnh Tướng Trưởng bỏ ngỏ các tỉnh Quân khu I, rút về tử thủ Ðà Nẵng. Nhưng ngày 29-3, Ðà Nẵng bị bỏ ngỏ. Các tỉnh duyên hải miền Trung cũng lần lượt sụp đổ như lâu đài trên bãi cát. Ngay đến Phan Rang, quê hương của TT Thiệu, cũng di tản từ ngày 2-4-1975.

Lữ Ðoàn 3 Dù đang trên tàu về Sài Gòn, được lệnh đổ bộ xuống Nha Trang, rồi từ đây kéo lên Khánh Dương, chốt chặn mức tiến của SÐ 10 CSBV. Một Lữ đoàn Dù khác, cùng tàn quân SÐ 2 BB và SÐ 6 KQ, được điều ra Phan Rang lập Bộ Tư Lệnh Tiền Phương Quân Ðoàn III. Nhưng chốt phòng thủ chiến lược này bị cánh quân miền Ðông của Lê Trọng Tấn, với quân số hơn 1 quân đoàn, diệt gọn trong hai ngày 16/17-4-1975.

Ngày 18-4-1975, Long Khánh bỏ ngỏ. Tướng Toàn phải di tản Không quân xuống Cần Thơ. Mặc dù hai Sư Đoàn 25 BB và 5 BB còn trấn giữ phía Tây Bắc và Bắc Sài Gòn, tình thế đã tuyệt vọng. Bắc quân lên tới hơn 3 quân đoàn, với tăng, pháo hợp đồng…

Tối 21-4-1975, TT Thiệu bàn giao cho Phó TT Trần Văn Hương, để “trở lại chiến đấu bên các chiến hữu”. Nhưng bốn ngày sau, hai ông Thiệu, Khiêm bí mật rời Sài Gòn bằng phi cơ Mỹ. TT Hương cũng chỉ ở Dinh Ðộc Lập được một tuần lễ, rồi ủy quyền cho Quốc Hội. Chiều ngày Thứ Hai, 28-4-1975, Ðại Tướng Dương Văn Minh tuyên thệ nhậm chức Tổng Thống – với hy vọng đạt một giải pháp màu hồng với Mặt Trận Dân Tộc Giải Phóng Miền Nam. Ðiều Tướng Minh và nhiều chuyên gia ngoại quốc không biết là vai trò MTDT/GPMN đã hầu như chấm dứt. Lê Duẩn – người không ngừng cổ võ “cách mạng là tấn công” – cho lệnh phải giải quyết càng sớm càng tốt, nếu có thể trước năm 1976 như dự định.
Tướng Minh và Thủ tướng Vũ Văn Mẫu không chọn đường tử thủ. Sáng ngày 29-4-1975, Thủ Tướng Mẫu chính thức yêu cầu người Mỹ rút khỏi VN, đóng cửa văn phòng tùy viên quân sự (DAO) – một bước ngoại giao có tính toán giúp Mỹ rảnh tay ra đi.

Cũng ngày 29-4-1975 này, Tướng Toàn và Bộ Tư Lệnh QÐ III từ Biên Hòa di chuyển về Gò Vấp, 5km bắc Thủ đô Sài Gòn. Riêng Sư Ðoàn 5, lực lượng vẫn bảo toàn nguyên vẹn. Theo Tướng Vỹ, có thể địch tránh không muốn đụng SÐ5, nên chúng pháo cầm chân và tiến quân về Sàigòn theo hai hướng đông và tây của Lai Khê, đồng thời đặt các nút chặn phía nam của Lai Khê, Bình Dương. Sư Ðoàn 5 cũng được lệnh chuẩn bị di chuyển về phía nam để tái phối trí. Sáng 30 tháng 4-1975, sau buổi họp Tham Mưu thường lệ chừng một tiếng đồng hồ, người ta bàng hoàng nghe tin TT Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng. Ông còn nhân danh Tổng Tư Lệnh Quân Ðội ra lệnh cho quân nhân các cấp buông súng, chờ bàn giao! Ðúng là sét đánh ngang tai!

Tướng Vỹ lúc đó ưu tư nhiều, vẻ mặt trầm lặng, khác với bản tánh thường ngày. Ông tâm sự với một số sĩ quan tham mưu thu hẹp bên cạnh, với nét mặt bình thản khác thường: “Lệnh trên đã ban ra, phải thi hành. Hơn nữa, con em người ta giao cho mình, không lẽ đem nướng vào giờ thứ 25 sao? Ðối với các anh em thì tùy ý quyết định”. Xong Ông đi về phía trailer [phòng lưu động của quân đội] dùng làm phòng ngủ riêng cho Tư Lệnh.

Ít phút sau, hai tiếng nổ khô khan vọng ra. Mọi người hốt hoảng chạy tới. Tướng Vỹ đã dùng khẩu súng ngắn của Ông để tự sát. Vết đạn xuyên từ phía dưới cằm lên đầu. Các Sĩ Quan hiện diện kính cẩn nghiêng mình, không cầm được nước mắt. Lúc ấy là 12 giờ rưỡi trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Trong khi mọi người vội vã đưa thi hài Tướng Vỹ an táng tạm trong vòng đai căn cứ thì phía ngoài hàng rào, Việt Cộng dùng loa phóng thanh, âm lượng thật lớn kêu gọi mọi người bên trong đầu hàng. Khoảng 3 giờ chiều, Bộ Tham Mưu và các đơn vị mới tự động rời khỏi căn cứ, không có súng nổ. Nhưng mới qua khỏi quận lỵ Bến Cát, bị địch chận lại, tịch thu tất cả vũ khí, quân trang dụng. Hạ sĩ quan trở xuống cho tự túc về điạ phương, sĩ quan giữ lại, phân theo cấp bậc để đưa đi tù. Trang quân sử về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh chấm dứt ở thời điểm này.
* * *
Từ lâu, sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, rồi sau những năm tháng bị Việt Cộng giam cầm, hành hạ, tôi đã có ý định ghi lại vài kỷ niệm về Sư Ðoàn 5 Bộ Binh và Tướng Lê Nguyên Vỹ. Ðã gần 33 năm trôi qua, tôi chưa thực hiện được ý nguyện này. Khi còn ở trong nước cũng như kể từ khi định cư tại Mỹ mười mấy năm trước, biết bao nhiêu câu hỏi của bằng hữu, của đồng đội, của người thân xoáy sâu mãi trong tâm trí tôi. Ai cũng yêu cầu tôi nói đôi điều về Tướng Vỹ. Tôi biết ở đâu đó, rải rác một vài dòng trên báo chí, hay vài phút trong một chương trình phát thanh tiếng Việt, không đủ thỏa mãn người đọc, người nghe. Lại nữa, tôi là một sĩ quan của Sư Ðoàn 5BB, suốt 10 năm rưỡi trong quân ngũ, 2 năm dành cho quân trường và một đơn vị ngoài SÐ, 8 năm rưỡi còn lại dành cho Sư Ðoàn 5 và tôi đã khoác quân phục mang phù hiệu SÐ5 tới ngày cuối cùng. Ai mà không hãnh diện khi có dịp nhắc đến đơn vị của mình, lại còn hãnh diện hơn nữa khi nhắc đến cấp chỉ huy đơn vị đã anh dũng, can đảm tuẫn tiết, quyết không chấp nhận đầu hàng địch. Ngày nào chưa ghi được đôi dòng, dù là không đầy đủ lắm về Tướng Lê Nguyên Vỹ, tôi còn rất áy náy, như gánh nặng chưa trút xuống được và thấy mình mắc một món nợ chưa kịp trả. Món nợ ấy là niềm hãnh diện mà Tướng Vỹ đem lại cho SÐ5 BB nói riêng và Quân lực VNCH nói chung. Tướng Vỹ là người lính chiến đấu ngoài mặt trận với đầy đủ cái OAI cái DŨNG của nhà Tướng. Tôi cũng muốn nhắc nhở một sự thực mà người ta muốn chối bỏ là Miền Nam có nhiều dũng tướng, thành mất, Tướng phải chết theo thành, như Tướng Lê Nguyên Vỹ đã làm.

30 tháng 4-1975, ngày tang lớn. Những bàng hoàng, xúc động sau 33 năm, nay đã lắng dịu phần nào. Cuộc sống nơi xứ người và tuổi 70 khiến tâm trí tôi bình thản hơn. Ðôi dòng đơn sơ trên là những sự thực về Tướng Vỹ mà tôi biết, dĩ nhiên chưa phải là tất cả. Dẫu sao, đây là những dòng tâm thành, thay nén nhang dâng lên tưởng niệm vị anh hùng dân tộc Lê Nguyên Vỹ nhân ngày giỗ thứ 34, 30 tháng 4-2009 sắp tới của người.

Triệu Vũ

 Xem thêm :   Những ngày cuối tháng 4.1975

và         Cuộc tháo chạy tán loạn

———————————————————

 

Thiếu tướng Lê Mã Lương “bật mí” về 2 chiếc xe tăng 843 tại Hà Nội

(Dân trí) – Đến lúc này, nhiều người có lẽ vẫn thắc mắc tại sao lại có nhiều xe tăng cùng mang số hiệu 390 và 843 ở một số tỉnh, thành trong cả nước. Đâu là bản “xịn”…?

Trưa 30/4/1975, cánh cổng sắt lớn Dinh Độc lập đã thực sự đổ sập. Toàn bộ nội các Ngụy quyền phải đầu hàng vô điều kiện. Lá cờ chiến thắng tung bay trên nóc Dinh Độc lập, mở ra một trang sử mới trong lịch sử nước nhà sau nhiều năm chiến tranh.

Vào thời khắc lịch sử đó của dân tộc, có hai chiếc xe tăng “huyền thoại” mang số hiệu 390 và 843 đã húc đổ cánh cổng của Dinh Độc Lập. Chiếc xe tăng 390 đã vào sân Dinh Độc Lập đầu tiên vì chiếc 843 lúc đó bị kẹt tại cửa ngách bên trái.

Sau đại thắng 30/4/1975 đến nay, có lẽ rất nhiều người dân Việt Nam và các du khách thắc mắc về bản gốc của hai chiếc xe tăng 390 và 843 huyền thoại đang được lưu giữ ở đâu vì ở Hà Nội có một chiếc xe tăng mang số hiệu 390 ở Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp và trong TP. Hồ Chí Minh cũng có một chiếc tương tự.

Còn xe tăng mang số hiệu 843 ở Hà Nội hiện nay có đến hai chiếc. Một ở Bảo tàng Quân sự Việt Nam, một đang ở Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp. Ở Thái Bình cũng có một chiếc mang số hiệu 843 và một chiếc khác ở TP. Hồ Chí Minh hiện đang được trưng bày ở Dinh Độc Lập.

Trước hết, với hai chiếc xe tăng mang số hiệu 390 và 843 đang có mặt trong TP. Hồ Chí Minh có thể khẳng định chắc chắn rằng cả hai chiếc xe tăng này chỉ là “hiện vật đồng dạng, đồng thời” so với bản gốc.

Trong đó, chiếc xe tăng 390 ở Dinh Độc lập là loại xe tăng T59, hạng trung, sản xuất tại Trung Quốc. Ðây là hiện vật đồng dạng, đồng thời với xe tăng 390 – xe tăng đầu tiên húc tung cổng chính Dinh Ðộc lập ngày 30/4/1975. Chiếc xe này được Kho KT 580 – Cục Kỹ thuật binh chủng, Tổng cục kỹ thuật, Bộ Tư lệnh tăng thiết giáp – Bộ Quốc phòng tu bổ, phục chế, khôi phục như nguyên bản xe 390 và đưa về trưng bày tại di tích lịch sử Dinh Ðộc lập ngày 15/4/2001 nhân dịp kỷ niệm 26 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Còn chiếc xe tăng mang số hiệu 843 cũng ở Dinh Độc lập là loại xe tăng T54, hạng trung, sản xuất tại Liên xô. Ðây là hiện vật đồng dạng đồng thời với xe tăng mang số hiệu 843 đã húc nghiêng cổng phụ của Dinh Ðộc lập vào lúc 10h45 ngày 30/4/1975. Chiếc xe này được sưu tầm từ trường Hạ sĩ quan Tăng thiết giáp I thuộc Bộ Tư lệnh tăng thiết giáp và phục chế lại thành xe tăng 843 để làm hiện vật trưng bày nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Vậy những chiếc xe tăng mang số hiệu 390, 843 ở Hà Nội và Thái Bình, đâu là bản chính gốc từng tham gia húc đổ cánh cổng Dinh Độc lập?

Lần theo những cứ liệu lịch sử và đặc biệt dưới sự giúp đỡ của Thiếu tướng Lê Mã Lương – Anh hùng LLVTND, nguyên giám đốc Bảo tàng lịch sử quân sự Việt Nam, cuối cùng, bí mật về hai chiếc xe tăng “huyền thoại” 390 và 843 bản “xịn” đang ở đâu đã được hé lộ.

“Hai chiếc xe tăng bản gốc từng tiến vào Dinh Độc Lập mang số hiệu 390 và 843 hiện nay đều ở Hà Nội. Trong đó chiếc xe tăng 390 bản gốc hiện đang được trưng bày ở Bảo tàng Lực lượng Tăng thiết giáp còn chiếc xe tăng mang số hiệu 843 bản gốc hiện đang trưng bày ở Bảo tàng Lịch Sử Quân sự Việt Nam. Tất cả những chiếc xe tăng khác có cùng số hiệu chỉ là hiện vật đồng thời” – Thiếu tướng Lê Mã Lương – Anh hùng LLVTND cho biết.

Trương Trang – Xuân Nghi

 

 

This entry was posted in Khác. Bookmark the permalink.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s