Những ngày cuối tháng 4.1975

alt  Chiến tranh đã lùi rất xa .Lịch sử cuộc chiến giữa hai miền Nam Bắc mà kết thúc vào ngày  30.04.1975 đã đi vào quên lãng của rất nhiều người.Thế hệ hôm nay chỉ được biết qua sách vở và các trang viết của  nhiều sử gia ghi lại .

Các bài viết dưới đây đều được các tác giả ở Bên Thua Cuộc ghi lại,không được kiểm chứng, có thể không chính xác hoặc phiến diện một chiều, một góc nhìn khác của cuộc chiến.

30/4/75 DIỄN BIẾN THÁO CHẠY TÁN LOẠN

“LÍNH ĐÁNH THUÊ” NGỤY QUÂN VÀ NGỤY QUYỀN

    Nói đến diễn biến tình trạng rã đám của chính quyền và quân đội miền Nam là phải nói đến tình trạng này bắt đầu rã đám vào thời điiểm nào? Các nhà viết sử đều cho rằng việc rã đám của chính quyền và quân đội miền Nam thực sự đã khởi sự vào ngay khi Tổng Thống Nixon thúc ép Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu phải chấp nhận Thỏa Hỉệp Paris được ký kết vào ngày 27/1/1973.

     Sau khi bị Hoa Kỳ thúc ép như vậy, tinh thần bỏ chạy đã bắt đầu nhen nhúm trong đầu óc Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả những nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam. Họ đều biết rõ là vào thời điểm quân đội Hoa Kỳ bắt đầu rút khỏi miền Nam thì cũng là thời điểm chính quyền miền Bắc bắt đầu chuẩn bị phát động những chiến dịch quân sự tấn công miền Nam. Họ cũng biết rằng, ở vào tình huống đó, chắc chắn là quân đội miền Nam với tinh thần đánh thuê sẽ không thể nào đương đầu nổi với quân đội Miền Bắc. Họ cũng biết rằng quân đội miền Bắc không những can trường, thiện chiến và được võ trang bằng lòng yêu nước đã có thành tích lẫy lừng đánh bại Liên Quân Pháp – Vatican trong cuộc chiến 1945-1954 và sau đó đã quyết tâm liều chết chiến đấu để hoàn thành sứ mạng giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước. Biết rõ như vậy, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và tất cả các nhân vật cao cấp trong chính quyền miền Nam quay ra tìm cách vơ vét cho đầy túi tham, chuẩn bị hành trang khăn gói chờ ngày tẩu thoát ra nước ngoài để hưởng thụ. Việc mưu đồ muốn tư nhân hóa nhà bưu điện Sàigòn vào năm 1974, vụ còi hụ Long An, và vụ các ông quan lớn quan nhỏ hè nhau tháo gỡ cướp đoạt những đồ đạc trang bị các cơ sở và căn cứ quân sự của quân đội Hoa Kỳ như ở căn cứ Đồng Tâm [24] chỉ là một vài trong số hàng ngàn bằng chứng nói lên thực trạng này.

     Nói cho rõ hơn, những nhân vật nắm giữ những chức vụ cao cấp trong chính quyền và trong quân đội miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 chỉ là bọn người vong bản, phản dân tộc, xu thời, tham nhũng, được quan thày Mỹ – Vatican đưa lên phục vụ cho quyền lợi cho chúng. Khi quan thày của chúng phải cuốn gói ra đi thì chúng cũng tìm cách vơ vét thâu tóm tom góp tiền bạc của cải và cùng vợ con cuốn gói ra đi với quan thày.

     Còn về Giáo Hội La Mã, qua vai trò của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, một thế lực đã liên kết chặt chẽ với Hoa Kỳ từ năm 1954 và cùng với Hoa Kỳ nắm quyền sắp xếp các nhân sự và đưa người lên cầm quyền ở miền Nam để làm tay sai cho cả Giáo Hội và Hoa Kỳ, lúc đó,đã tính toán như thế nào để chuẩn đối phó với tình hình và thích nghi với hoàn cảnh mới khi miền Nam Việt Nam đổi chủ?

     Nói một cách văn tắt là Giáo Hội La Mã cũng biết rõ là sau khi ký xong Hiệp Định Paris 1973, Hoa Kỳ sẽ rút quân ra khỏi miền Nam Việt Nam, đương nhiên là miền Bắc sẽ tấn công miền Nam, và chắc chắn là quân đội miền Nam sẽ tan rã rất mau. Biết rõ như vậy, Toà Thánh Vatican mới ra lệnh cho Hội Đồng Giám Mục chuẩn bị tinh thần để đương đầu với tình thế mới bằng cách thay hình đổi dạng từ con cọp hung dữ đã tung hành ở miền Nam từ năm 1954 biến thành con cừu hiền lành để làm nguôi ngoai lòng căm phẫn của nhân dân và chính quyền mới ở miền Nam. Có như vậy thì mới hy vọng tránh được những đòn thù của nhân dân miền Nam và những biện pháp trừng trị của tân chính quyền, và như thế mới có cơ may tồn tại.

     Tuy nhiên, lời giải thích vắn tắt trên đây sẽ không làm hài lòng cho cả giới người có niềm tin vào cái chính nghĩa quốc gia  giới người muốn có cái nhìn xuyên suốt đầy đủ  và rõ ràng về vấn đề này. Vì vậy, chúng tôi xin đưa ra phần trình bày dưới đây với hy vọng sẽ làm hài lòng cà hai giới người nói trên.

   Tất cả những người đã từng sống và chứng kiến miền Nam Việt Nam trong suốt thời kỳ từ ngày7/7/1954 cho đến ngày 30/4/1975 đều biết rằng trong suốt thời gian này, Hoa Kỳ và Giáo Hội mới thực sự là hai thế lực nắm quyền điều khiền bộ máy cai trị ở miền Nam Việt Nam và quyền quản lý nhân dân được trao cho hai ông Da-tô Ngô Đình Diệm và Da-tô Nguyễn Văn Thiệu, ngoại trừ trong một thời gian ngắn từ chiều tối ngày 1/11/1963 cho đến ngày 19/6/1965.(Ngày này Nguyễn Văn Thiệu được Hoa Kỳ và Vatican đưa lên nắm giữ chức vụ “Chủ Tịch Ủy Ban Lãnh Đạo Quốc Gia, tức Quốc Trương của miền Nam Việt Nam” .[25]

     Như đã trình bày ở trên, tại miền Nam, trong những năm 1954-1975, hầu như tất cả các phạm vi sinh hoạt trong chính quyền cũng như ở ngoài xã hội (hành chánh, quân sự, kinh tế, tài chánh, văn hóa, xã hội, giáo dục, truyền thông) đều bị Giáo Hội La Mã và nhóm thiểu số tín đồ Da-tô cuồng tín kiểm soát, thao túng, vơ vét cho đầy túi tham. Ngay cả chương trình học ở bậc tiểu và trung học cũng bị kiềm soát chặt chẽ để phục vụ cho chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mã. Đặc biệt là môn công dân và môn sử (sử thế giới và sử quốc gia) đều bị kiểm soát chặt chẽ để bưng bít những việc làm bất chính của Giáo Hội. Những việc làm bất chính này là những rặng núi tội ác của Giáo Hội La Mã đã chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua và chống lại dân tộc Việt Nam từ giữa thế kỷ 16 cho đến ngày nay. Tất cả những việc làm này cùng với chính sách bách hại Phật Giáo và chèn ép các thành phần các tôn giáo không phải là đạo Da-tô đã khiến miền Nam nát bấy như tương và khiến cho gần 90% dân chúng miền Nam đều hướng về chính quyền miền Bắc, công khai hay bí mật ủng hộ hay tham gia Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam với hy vọng thoát khỏi được móng vuốt của con cọp Da tô hung dữ. (Xin xem lai Mục XXIII, chương sách nói về “Thành Phần Nòng Cốt Trong Nhân Dân Được Chính Quyền Tin Cậy”…

     Vì thế, việc Hoa Kỳ rút quân ra khỏi miền Nam (theo Hiệp Định Paris 1973) đã làm cho Giáo Hội đứng trước một viễn tường vô cùng đen tối, giống y như viễn tượng đen tối của Giáo Hội trong biến cố Cách Mạng 1789 và viễn tưỡng đen tối trong biến cố Quốc Quân Trung Hoa dưới quyền lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch bị đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa, phải cuốn gói chạy thoát thân ra Đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949.

 So Sánh Đối Sách của Vatican vào Thời Điểm 1950 và Thời Điểm 1950

     A.- Thời Điểm 1950: Biến cố Quốc Quân Trung Hoa đại bại trước sức mạnh của Hồng Quân Trung Hoa và chạy thục mạng ra hải đảo Đài Loan vào mùa thu năm 1949: Biến cố này khiến cho Liên Minh Pháp – Vatican đang thống trị Việt Nam bước dần đến bờ vực thẳm tan rã, và Giáo Hội La Mã phải liệu bề tính kế:

     1.- Tẩu tán những khối bất động sản khổng lồ của Giáo Hội ở Việt Nam đã cướp đoạt của nhân dân ta trong những năm 1862-1950. Những khối bất động sản khổng lồ này do các ông tu sĩ Da-tô người Pháp đứng tên, bây giờ phải sang tên cho các ông tu sĩ Da-tô người Việt bằng cách ra lệnh cho chính quyền bù nhìn Bảo Đại ban hành Dụ số 10 vào ngày 6/8/1950. Sự kiện này được ông Da-tô Nguyễn Văn Châu ghi lại bằng xảo thuật ngôn ngữ Da-tô với nguyên văn như sau:

    ”Chiếu dụ số 10 do Quốc Trưởng Bảo Đại ban hành ngày 6 tháng 8 năm 1950 ấn định quy chế các hiệp hội tôn giáo, thật sự là nhằm giúp đỡ Phật giáo (sic) và miễn áp dụng cho các tôn giáo và giáo phái khác, mặc dù có những điều khoản bênh vực bảo vệ của cải bất động sản của Hội Thừa Sai Ba Lê, của cải của Giáo Hội Công Giáo Việt Nam nhưng lại do người Pháp đứng tên nên thuộc quyền sở hữu của Pháp. Nhân dịp chuyển giao đất đai Nhà Chung đó cho hàng Giám Mục ViệtNam, nhiều vấn đề phức tạp đã xẩy ra.”.[26]

    2.- Ra lệnh cho Giám-mục Ngô Đình Thục dẫn ông Ngô Đình Diệm đến Hoa Kỳ giao cho Hồng Francis Spellman vận động với chính quyền Hoa Kỳ thành lập Liên Minh Mỹ – Vatican và đưa ông Ngô Đình Diệm về Việt Nam cầm quyền để duy trì và củng cố quyền lực của Vatican tại Việt Nam.

    B.- Thời Điểm 1975: Biến cố Thỏa Hiệp Paris 1973 quy định việc Hoa Kỳ rút hết quân ra khỏi Việt Nam vảo cuối năm 1974: Biến cố này khiến cho Liên Minh Mỹ – Vatican tan rã và làm cho Vatican (đã thống trị miền Nam từ năm 1954) bước dân đến trên bờ vực thẳm tan rã và Giáo Hội La Mã cũng phải liệu bài tính kế:

     1.- Ra lệnh chuyển hết tiền bạc trong nhà ngân hàng Đại Nam ra khỏi miền Nam Việt Nam. Chuyện này được ông Vũ Trọng Minh nói rõ trong lá thư ngỏ đề ngày 15/3/1995 gửi Giáo Hoàng John Paul II, trong đó có một đoạn với nguyên văn như sau:

     “Câu chuyện thứ Chín, là tinh thần tích cực làm tiền của các cha cố ngay tại Sàigòn mà cả nước ai cũng biết. Khi thực dân Pháp chiếm xong Nam Kỳ (miền Nam nước Việt) thì họ cho một công ty Pháp mở một đồn điền trồng cao su, chạy dài 14 cây số từ cổng trường bay Tân Sơn Nhất xuống đến Chợ Lớn. Năm 1954, Pháp bị Cộng Sản đánh bại, phải rút khỏi Việt Nam, họ liền bí mật bán cho nhà Chung (Giáo Hội La Mã), không ai biết bao nhiêu, nhưng chắc chắn là rẻ mạt vì Hiệp Định Genève đang tiến hành, trước sau cũng mất. Đất bán cho nhà Chung cứ để y nguyên nên ai cũng tưởng là đất của chính phủ lấy lại của Tây. Đến năm 1970, nhà Chung Công Giáo chia lô làm nhà bán cho người ta mua làm nhà vì dân số đô thành lúc đó đã tăng lên gấp năm lần, nhà bán chạy như tôm tươi. Mỗi lô bán trung bình hai trăm năm mươi ngàn đồng bạc lúc đó. Số tiền bán nhà đất thu về sơ sơ cả mấy trăm triệu, không biết có gửi về nhà băng Tòa Thánh hoặc các ngân hàng khác không? Chỉ biết một phần số tiền đó các Ngài dùng để mở Ngân Hàng Đại NamTrước ngày Cộng Sản thống nhất toàn bộ  đất nước, có lẽ các Ngài biết rõ tình hình sắp sụp đến nơi nên thu vốn lại, không rõ đem đi đâu vì Ngân Hàng Đại Nam không kèn không trống biến mất tiêu trước ngày 30/4/1975. Thế là đất nước Việt Nam bị kẻ cướp thực dân lấy khai thác chán chê rồi bán cho bạn chí thiết của kẻ cướp là Giáo Hội Công Giáo.

     Chưa ai thấy ơn cứu rỗi của Chúa và Giáo Hội Công Giáo đâu cả, chỉ thấy tài sản đất nước tôi chuyền từ tay bọn ăn cướp ngày là thực dân sang tay bọn cướp đêm là công ty bán vé cứu rỗi của quý Ngài.”[27]

     2.- Giáo Hội La Mã phải tạm thời từ bỏ lập trường hiếu chiến, chuyển sang chủ trương hòa hoãn với chính quyền Hà Nội bằng cách ngầm ra lệnh cho các tín đồ đang nắm giữ những chức vụ quan trọng trong chính quyền và quân đội miền Nam thi hành kế sách “tẩu vi thượng sách”, để Hội Đồng Giam Mục Việt Nam chuẩn bị cho việc chuyển cái thế đang là con cọp hung dữ ở Mỉền Nam biến thành con cừu hiền hòa để tồn tại”, theo đúng sách lược từ ngàn xưa của Giáo Hội La Mã mà sử gia Loraine Boettner đã nói rõ như đã trình bày ở trên. Xin ghi lại lời nói này để độc giả dễ nhìn ra vấn đề:

    “Rome in the minority is a lamb (Khi  là thiểu số, Giáo Hội La Mã là con cừu).Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mã La Mã là con cáo).Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mã  là con cọp.)”[28]

     Do đó, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu triệu tập buổi họp tại Dinh Độc Lập vào ngày 13/3/1975 để bàn nhau rút lui khỏi miền Trung và chuẩn bị  tẩu thoát. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoại ghi lại như sau:

     “Ngày 13/3/1975, tại dinh Độc Lập tổng thống Thiệu họp với thủ tướng Trần Thiện Khiêm, đại tướng Cao Văn Viên, trung tướng Đặng Văn Quang, trung tướng Ngô Quang Trưởng và trung tướng Nguyễn Văn Toàn. Trong buổi họp này tổng thống Thiệu cũng đã nhận định rằng không cách nào với ngân khoản viện trợ Hoa Kỳ bị cắt giảm, chính phủ Việt Nam Cộng Hòa  có thể giữ được sự vẹn toàn lãnh thổ miền Nam. Tổng Thống Thiệu lấy viết gạch một đường từ Ban Mê Thuột xuống Tuy Hòa và nói đó là ranh giới mới của miền Nam. Tổng Thống Thiệu còn căn dặn tướng Trưởng giữ kín, không tiết lộ cho các tư lịnh Sư Đoàn, các tỉnh trưởng cũng như Hải Quân và Không Quân biết việc bỏ miền Trung.”[29]

     Chúng ta cũng không ngạc nhiên khi thấy Giám Mục Phạm Ngoc Chi ra lệnh cho ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi (đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương ở Quân Khu II) chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Ngô Quang Trưởng bỏ ý định phòng thủ Đà Nẵng:

     “Sáng ngày 28/3(1975), trung tướng Lê Nguyên Khang phụ tá cho đại tướng Viên bay ra Đà Nẵng gặp trung tướng Trưởng. Tướng Trưởng nhắc điện thoại gọi thẳng tôi (Hồ Văn Kỳ Thoai) và chỉ thị tôi sang Quân Đoàn để gặp tướng Khang….

     Trung tướng Khang, trung tướng Trưởng và tôi (Hồ Văn Kỳ Thoại) cùng duyệt lại tình hình tại Quảng Nam và Đà Nẵng và trận liệt về phía Hải Quân. Cho đến giờ phút đó không ai đề cập đến việc bỏ Đà Nẵng cũng như việc rút lui hai lữ đoàn của Thủy Quân Lục Chiến, trung tướng Khang chỉ yêu cầu tôi chuẩn bị phương tiện di chuyển Sư Đoàn 2 vừa ra Cù Lao Re về Bình Tuy.

     Theo trung tướng Thi, trong quyển sách “The Twenty Five Years Century by Lam Quang Thi – Univsersity of South Texas Press (2001), trang 360” của ông, thì trong lúc tướng Trưởng tiếp tướng Khang, thì ông tiếp Đức Cha Phạm Ngọc Chi. Đức Cha Thi nhờ tướng Thi chuyển lời lại cho tướng Trưởng là Đức Cha Chi xin tướng Trưởng bỏ ý định phòng thủ thành phố Đà Nẵngvì làm như vậy thành phố Đà Nẵng sẽ bị tiêu diệt một cách vô ích và sẽ gây chết chóc cho dân Đà Nẵng cũng như đống bào tị nạn từ các tỉnh khác về.” Trong đoạn sau, tướng Thi có nói là ông đồng ý với Đức Cha Chi về vấn đề gây thương vong  cho thường dân và sự tàn phá một thành phố mà tướng Thi cho là đẹp.” [30] 

     Cũng nên biết là Giám-mục Phạm Ngọc Chi đã từng là vị lãnh chúa áo đen cực kỳ hiếu chiến và hiếu sát ở Giáo Khu Bùi Chu trong những năm 1947-1954, đã sát hại không biết bao nhiêu bộ đội cụ Hồ và người dân trong các làng kế bên các làng đạo dưới quyền thống trị của ông. Một số trong những tội ác của ông lãnh chúa áo đen này được ông Charlie Nguyễn kể lại trong lá thư gửi cho ông Nguyễn Thanh Giản trong đó có mấy đoạn với nguyên văn như sau:

     “Nguyên nhân của sự “nổi loạn” của tôi là vào năm 1949, tôi đã chứng kiến thảm cảnh của những người “bên lương” bị Cha tôi và các cha xứ cùng quê Ninh Cường (nằm trong Giáo Khu Bùi Chu – NMQ) hợp tác với Tây tiêu diệt họ. Có người bị cháy như con chó thui ở tiệm “Cầy Tơ” nhe răng ghê rợn. Có người bị trói thúc ké để chờ giao lên đồn Tây. Có người bị đốt nhà và bị bắn thả trôi sông.  Một vài bạn học của tôi lúc còn bé tí là con của những người đó, trong số bạn tôi hồi nhỏ, có những đứa chế nhạo tôi: “Đi đạo ăn gạo té re, ăn chè té rỏng, ăn xôi thủng ruột. Cũng có đứa quì xuống trước mặt tôi, chắp tay và cầu kinh:
    Lạy ơn Chúa Giê xu

    Nằm trong hang đá thò cu ra ngoài.

    Con chó nó tưởng củ khoai

    No đớp một cái đứt …. Giê xu.”

     Lúc đó, tôi ghét chúng nó vô cùng. Tôi đã đánh nhau với chúng nó vì chúng nó dám xúc phạm đến Chúa của tôi. Chúng nó phạm những tội mà tôi có thể giết chúng như giết quỉ. Tôi sẵn sàng tử chiến với chúng để “bảo vệ đức tin”. Nhưng rồi, thời gian trôi qua, tôi dần dần nhận ra những “người bên lương” đó mới là những đồng bào yêu nước. Cha tôi và bọn cha cố mà tôi trước đây hết lòng kính mến thực ra là Việt gian. Đó là nguyên nhân đã làm tôi chuyển hướng tâm linh từ cực này sang cực khác lúc nào không hay. Cái mà tôi sẵn sàng chết cho nó trước đây là “Đức Tin Công Giáo” thì nay lại là cái mà tôi chỉ muốn “ôm bom” để hủy diệt đức tin đó. Khẩu hiệu của tôi từ năm 1996 đến này là: “Christian by birth:, anti- Christ by choice.”

     Tôi tự nguyện dùng mạng sống của mình để làm cái giá chuộc tội sát nhân vì cuồng tín của cha tôi. Những nạn nhân của cha tôi và của các cha cố Việt gian hầu hết đều là những dân lành vô tội. Họ là những người yêu nước với tinh thần Phật giáo thanh cao, tôi vô cùng ngưỡng mộ. Tôi coi mọi bài viết chống Kitô giáo của tôi là những nén hương lòng của tôi dâng lên hương linh của họ….” [31]

      Trong những năm 1954-1975, Giám-muc Phạm Ngọc Chi lại trở thành lãnh chúa ở các tỉnh Liên Khu V, và cũng là  một trong các giáo chủ đại diện (prelates) của Tòa Thánh Vatican ở miền Nam Việt Nam, đồng thời cũng là một trong những nhân vật ở hậu trường sân khấu chính trị miền Nam có ảnh hưởng rất lớn đến tất cả chính sách đối nội của chính quyền miền Nam. Đặc biệt là trong những năm 1955-1963, vì chủ trương đẩy mạnh “kế hoạch biến miền Nam theo Công Giáo hết trong vòng mười năm” do anh em ông Ngô Đình Diệm chủ trương[32] ., ông Gíám-mục này đã trực tiếp  liên hệ đến việc tàn sát khoảng 300 ngàn người dân lương ở vùng này [33] .

     Về phía chính quyền Hà Nôi, sau khi Hiệp Định Paris được ký kết giữa chính quyền Mỹ và chính quyền miền Bắc vào ngày 27/1/1973, họ tiên đoán rằng một khi quân đội Hoa Kỳ rút ra khỏi miền Nam Việt Nam và cắt đứt viện trợ tài chánh, thì chính quyền Sàigòn quân đội miền Nam  sẽ bắt đầu rã ngũ tan hàng vào ngay khi quân đội miền Bắc khởi sự tấn công miền Nam. Để trắc nghiệm lời tiên đoán này, họ quyết đinh phóng ra các chiến dịch tấn công vào một vài cứ điểm chiến lược để thăm dò khả năng chống trả của quân đội miền Nam và cũng là thăm dò phản ứng của Hoa Kỳ. Sự kiện này được sách Lịch Sử Đàng Cộng Sản Đảng Việt Nam ghi nhận như sau:

     “Sau khi quân ta giải phóng các quận lỵ Thường Đức, Minh Long, Nha Bích, Tống Lê Chân, Mưng Đen Giá Vụt… địch không có khả năng phản công để giành lại.”.[34]

    Sau những chiến dịch này, Hà Nôi thấy rằng khả năng chống trả của quân đội miền Nam quá yếu và Hoa Kỳ vẫn bất động, vẫn khoanh tay ngồi yên, không có hành động cụ thể nào tiếp cứu miền Nam. Thấy rằng thời cơ đã đến, chính quyền Hà Nội quyết định đưa ra kế hoạch tiến chiếm miềnNam trong hai năm 1975-1976.

     “Trước tình hình mới, tháng 10-1974, Bộ Chính Trị quyết định kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976.”  “lấy chiến trường Tây Nguyên và Buôn Ma Thuột làm chiến trường và điểm mở đầu.”.[35]

     Thực ra, khi quân đội Miền Bắc mở những chiến dịch tấn chiếm các cứ điểm trên đây, về phương diện quân số, hỏa lực, binh chủng và các phương tiện, quân đội miền Nam vẫn còn có nhiều ưu thế hơn quân đội miền Bắc. Sự kiện này được Phó Đề Đốc Hồ Văn Kỳ Thoái (của Hải Quân miền Nam) nói rõ trong cuốn hồi ký Can Trường Trong Chiến Bại với nguyên văn như sau:

     “Quân số của mỗi sư đoàn bộ binh của ta cũng như của địch không có nhất định cho nên rất khó mà so sánh một cách tuyệt đối chính xác tổng kết quân số hai bên. Về thiết giáp, địch phải di chuyển từ ngoài Bắc vào, việc sửa chữa và tiếp tế nhiên liệu rất khó khăn hơn các đơn vị thiết giáp của ta. Về pháo binh, địch phải di chuyển từ Bắc vào và hàng ngày phải bị sự đe doạ phát giác bởi phi cơ của ta, còn pháo binh ta ở tại những nơi ta lựa chọn. Ta hoàn toàn kiểm soát không phận và hải phận miền Nam trong khi địch không được ưu điểm quan trọng này. Đa số lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa trên biển được dồn về chiến trường miền Trung mà không sợ hải phận ở nơi khác bị đe doạ. Vì thế khả năng yểm trợ hải pháo tại Quân Khu I rất hùng hậu mà Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không nghĩ tới việc xử dụng để giải tỏa áp lực địch mà chỉ nghĩ tới việc chuyên chở quân.”[36]

     Như đã trình bày ở trên, chính quyền miền Nam không có lý tưởng và quân đội miền Nam trong thực tế chỉ là quân đội đánh thuê cho Liên Minh  Xâm Lăng Mỹ – Vatican; cả chính quyền lẫn quân đội đều sống nhờ vào sự che chở của quân đội Hoa Kỳ và được nuôi dưỡng bằng tiền việt trợ Mỹ. Giờ đây, cái Liên Minh Mỹ -Vatican tan vỡ, quân đội Hoa Kỳ rút về nước và tiền viện trợ Mỹ để nuôi dưỡng chính quyền Sàigòn và quân đội miền Nam cũng bị chấm dứt. Con cọp Hoa Kỳ đã từng có mặt ở Miền Nam từ năm 1954 để cho con cáo Vatican đội lốt nhầy lên bàn độc tác oai tác quái tàn hại nhân dân. Giờ đây con cọp Hoa Kỳ phải rút về Mỹ khiến cho con cáo Vatican không còn chỗ dựa, nên phải liệu bài tính kế hoá thân thành con cừu để tồn tại bằng cách ra lệnh cho những tín đồ đang nắm giữ những chức vụ đầu não ở Dinh Độc Lập và các chức vụ trọng yếu trong quân đội phải tìm cách rút lui êm thắm vừa để bảo toàn nhân sự phòng khi hữu sự, vừa tạo cho Giáo Hội Da-tô ở miền Nam cái bộ mặt hiếu hòa giống như con cừu đối với chính quyền Hà Nội với hy vọng sẽ tránh được những biện pháp sắt máu trừng trị của Ha Nội, giống như chính quyền Cách Mạng Pháp 1789 đã trừng trị Giáo Hội trong thập niên 1790.[37]

     Với thực trạng này, các nhân vật lãnh đạo chính quyền Sàigòn và các tướng tá nắm giữ những chức vụ chỉ huy và toàn thế quân đội miền Nam mất hết tinh thần. Một khi đã mất hết tinh thần thì dù cho có chiếm ưu thế về tất cả quân số, phương tiện, vũ khí và hỏa lực, quân đội miền Nam cũng bỏ súng mà chạy để thoát thân. Thực trạng của quân đội miền Nam vào thời điểm từ cuối năm 1974 là như vậy. Cho nên, chúng ta không lấy làm ngạc nhiên khi thấy quân miền Bắc chỉ cần ra quân khai mào đánh một hai trận là các tướng tá chỉ huy các đơn vị tìm cách lẩn trốn, không dám chường mặt ra để cùng với quân lính dưới quyền đối đầu với Bắc quân. Cũng vì thế mà khi quân đội miền Bắc vừa mới bắt đầu mở chiến dịch tấn chiếm Ban Mê Thuột vào sáng sớm ngày 10/3/1975, thì toàn bộ Quân Đoàn II bị tan rã ngay sau đó, và chỉ 3 ngày sau, tức là ngày 13/3/1975, tại Dinh Độc Lập ông Tổng Thống Da-tô Nguyễn Văn Thiệu tổ chức cuộc họp bàn nhau tìm cách tháo chạy như đã trình bày ở trên.

     Thấy rằng chiến dịch tấn chiếm Buôn Ma Thuột và Tây Nguyên “chỉ có 32 giờ  chiến đấu (“từ 2 giờ ngày 10-3 đến 10 giờ 30 phút ngàt 11-3-1975”) mà toàn bộ các sư đoàn và quân đội địa phương của Quân Đoàn II dưới quyền tư lệnh của của Tướng Phạm Văn Phú bị tan rã hoàn toàn, Bộ Chính Trị của Đảng Cộng Sản Việt Nam bèn nhóm họp khẩn cấp vào ngày 24/3/1975 để thay đổi chiến lược, đẩy mạnh chiến dịch tấn chiếm miền Nam, rút ngắn thời gian giải phóng miền Nam để sớm hoàn thành sứ mạng thống nhất đất nước:

    “Hội Nghị Chính Trị ngày 24/3/1975 đã khẳng định: cuộc tổng tiến công chiến lược mùa xuân năm 1975 đã bắt đầu từ chiến dịch Tây Nguyên, mở ra thời cơ chiến lược lớn… giải phóng miền Nam với thời gian sớm hơn. Bộ Chính Trị xác định: phải thật khẩn trương nắm chắc phương châm “thần tốc, táo bạo, bất ngờ”, tập trung lực lượng tiến lên giải phóng Sàigòn trước mùa mưa 1975. Kịp nắm lấy thời cơ quân địch đang hoảng hốt mà đánh tiêu diệt quân đoàn 1 và bộ phận còn lại của quân đoàn 2, không cho chúng rút về cụm lại quanh Sàigòn.”[38]

     Trở lại về phía chính quyền miền Nam, ai cũng biết rằng dù cho Hoa Kỳ vẫn còn viện trợ vũ khí dồi dào đến đâu đi nữa mà không viện trợ tài chánh để trả lương hàng tháng cho quân đội và các nhân viên chính quyền cùng các  phí khoản khác, thì  chính quyền Sàigòn và quân đội đánh thuê miền Nam cũng sẽ rã đám. Vấn đề là thời gian mà thôi. Giáo Hội La Mã cũng biết rõ như vậy. Vì thế, Giám-muc Phạm Ngọc

     Chi mới nhờ tín đồ Da-tô Lâm Quang Thi đang nắm giữ chức vụ Tư Lệnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I chuyển đề nghị đến Tướng Ngô Quang Trưởng lời yêu cầu “không phòng thủ thành phô Đà Nẵng”.

    Không biết ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đã biết trước sách lược mới trên đây của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam hay ông chỉ mới biết vào khi ông được Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ chuyền đề nghị “bỏ Đà Nẵng” đến Tướng Trưởng. Dù là ở trường hợp nào đí nữa, thì việc ông  kiếm cớ để lẩn tránh nhiệm vụ của một vị tướng lãnh ở ngoài mật trận bằng cách xin Tướng Trưởng ra một chiến hạm ở ngoài khơi để thành lập bộ chỉ huy lưu động cho Quân Đoàn I với mục đích là khỏi phải ở lại nơi dầu sôi lửa bỏng có thể nguy hiểm đến tính mạng là một sự kiện lịch sử. Sự kiệnnày nói lên hành động hèn nhát đáng phỉ nhổ của một người tướng cầm quân ở nơi chiến địa. Sự kiện này cũng được Phó Đề Đốc Thoại kể lại như sau:

     “Tướng (Lâm Quang) Thi đề nghị với tướng Trưởng cho ông đi ra một chiến hạm lớn để thành lập bộ chỉ huy hành quân lưu động cho Quân Đoàn I. Tướng Trưởng chấp thuận. Tướng Thi và đại tá Sơn ra trực thăng và bay ra và đáp trên dương vận hạm ngoài vịnh. Đó là lần chót mà tướng Trưởng thấy mặt và nói chuyện với Tướng Thi cho đến khi hai người gặp lại nhau tại Tổng Y Viện Cộng Hòa tại Sàgòn, hai tuần lễ sau. Đúng 10 giờ 45 tối (ngày 28/3/1975), tướng Thi và HQ đại tá Sơn rời căn cứ bằng trực thăng. Lấy lý do là lập bộ chỉ huy lưư động trên chiến hạm cho Quân Đoàn, mà tướng Thi không biết là Bộ Tham Mưu và Quân Đoàn đã giải tán từ 5 giờ chiều, tham mưu trường và một số sĩ quan sang Sơn Chà đi tàu dòng dân sự, một số khác thi tự động về nhà lo cho gia đình.”[39]

     Hành động gian manh và lươn lẹo để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận của ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi đã khiến cho Phó Đề Đốc Thoại nêu lên thắc mắc:

     “Ban tham mưu gồm có ai? Máy truyền tin ở đâu? Liên lạc với tướng Trường bằng cách nào? Chỉ huy  đơn vị nào và bằng cách nào?” [40]

     Như vậy rõ ràng là chuyện ông Tướng Thi đề nghị thành lập bộ chỉ huy lưu động trên một chiến tầu ở ngoài khơi chỉ là cái cớ để cho ông ta lẩn tránh, khỏi phải ở lại Huế vì lúc đó Huế đang khẩn trương và rất có thể xẩy ra những trận đánh khốc liệt giống như hồi Tết Mậu Thân. Thế rồi, khi lên một chiến tầu của Hải Quân ở ngoài khơi, ông lại tìm cách đi Đà Nẵng. Ông bỏ đi rồi, Bộ Tư Lệnh Tiền Phương không có người chỉ huy, các đơn vị ở trên bộ đang đụng trận không có người chỉ huy tổng quát, không được sự phối hợp để xin pháo binh hay hải pháo yểm trợ. Họ phải chiến đấu lẻ loi trong tuyệt vọng và cuối cùng phải đầu hàng. Đồng thời, cả một trăm nhân viên trong Bộ Tư Lịnh Tiền Phương của ông cũng rơi vào tình trạng như rắn mất đầu. Trong khi đó, khi về tới Đà Nẵng, ông tướng Da-tô này lại tìm một nơi an toàn để lẩn tránh khỏi phải ở mặt trận cùng với anh em quân nhân dưới quyền để đương đầu với Bắc quân:

     “Sau khi có lịnh bỏ Huế, tướng Thi ra lịnh không rõ ràng nên các đơn vị tự động tan hàng và từ đó ông không còn điều động các đơn vị được nữa nên tự nghĩ hết trách nhiệm tại tiền phương cho nên khi xuống chiến hạm tại Thuận An ông ra lịnh đưa ông về Đà Nẵng. Ngày hôm sau Liên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân chỉ định một tuần dương đỉnh WPB đưa tướng Thi về Đà Nẵng. Sau khi tướng Thi về tới Đà Nẵng, Lỉên Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân (ở), Thuận An của thiếu tá Hy và Hải Đoàn Đặc Nhiệm của trung úy Uyển vẫn còn tiếp tục vớt quân dọc theo bờ biển Bắc Vĩnh Lộc. Việc rước người của các chiến hạm Hải Quân tại cửa Thuận An đã xẩy ra trong sự hỗn loạn vì quân trên bờ không có người chỉ huy. Ngoài ra, Bộ Tư Lịnh Tiền Phương cũng không thấy xin phi vụ nào oanh tạc hoặc được pháo binh làm chậm sự tiến quân của địch, cho nên các chiến hạm khi rước quân bị địch pháo thường xuyên. Hải Đoàn Đặc Nhiệm Hải Quân không nhận được lịnh yểm trợ hải pháo. Chính vì lý do đó mà 4 (bốn) tiểu đoàn tác chiến của Thủy Quân Lục Chiến  không được sự yểm trợ cần thiết để lên chiến hạm và đầu hàng địch sau khi cạn đạn. Sau khi các đơn vi Bắc Hải Vân tan rã, tướng Trưởng ra lịnh tướng Thi dùng một lữ đoàn TQLC để trấn giữ đèo Hải Vân. Nhưng thay vì ở đèo Hải Vân, ông lại bay lên đài kiểm báo Không Quân (người Mỹ thường gọi là đài Panama) trên đình núi Sơn Chà, ở tại đó và từ đó ông gọi điện thoại cho đại tá Lê Bá Khiếu, trưởng phòng 3 của Bộ Tư Lịnh Quân Đoàn I gởi lên cho ông một sĩ quan thuộc phòng 3 và một máy PRC 25 để làm Bộ Tư Lịnh Hành Quân của Quân Đoàn I. Một trăm nhân viên của Bộ Tư Lịnh Tiền Phương lên chiến hạm tại Thuân An về đến Đà Nẵng không ai rõ số phận ra sao.”[41]

     Một ông tướng Da-tô khác cũng hèn nhát tìm cách trốn khỏi mặt trận giống như ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và trốn sớm hơn ông Tướng Lâm Quang Thi tới hai ngày. Đó là Thiếu Tường Hoàng Văn Lạc đang nắm giữ chức Tư Lệnh Phó Quân Khu I. Ngay từ ngày 26/3/1975, ông tướng Da-tô này đã tìm cách lẩn trốn ra khỏi mặt trận để về Sàigon rồi ở lại đây cho đến ngày ông chuồn ra ngoại quốc. Thời điểm này cho chúng ta thấy rõ là ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc đã tính bài cao chạy xa bay trước ngày Giám Mục Phạm Ngọc Chi nhờ ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi chuyển đề nghị yêu cầu Tướng Trưởng “bỏ ý định phòng thủ thành phố Đà Nẵng”. Như vậy, ta có thể kết luận rằng hoặc là bản chất hèn nhát của cá nhân ông Tướng Hoàng Văn Lạc đã khiến cho ông phải tính bài trốn chạy khỏi mặt trận càng sớm càng tốt, hoặc là ông đã biết rõ là Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã chuyển sang lập trường chủ hòa để làm hoà với chính quyền Hà Nội. Có thể là cả hai. Chuyện ông Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc bỏ chạy được Phó Đề Đốc Thoại kể lại với nguyên văn như sau:

     “Người phụ tá quan trọng thứ hai của tư lịnh Quân Đoàn I là tư lịnh phó Quân Khu I, thiếu tướng Hoàng Văn Lạc… Khi tỉnh Quảng Ngãi và Quảng Tín bắt đầu bị áp lực địch, tướng Lạc đề nghị tướng Trưởng để ông về Sàigòn trình Tổng Tham Mưu về tình hình Quân Khu I để xin tăng viện. Tướng Trưởng nghĩ rằng ông đi và về trong (một) ngày nên chấp thuận. Tướng Lạc về Sàigòn ngày 26 (tháng 3 năm 1975). Sau khi xong công tác, tướng Lạc báo cáo không có phương tiện để trở về Đà Nẵng và ở lại Sàigòn cho đến khi Đà Nẵng thất thủ.” [42]

     “Trung tướng Trưởng biết là ông không còn hy vọng gì về sự có mặt của tướng Lạc ở bên ông trong những giờ phút quyết định sắp tới, khi trung tướng Lê Nguyên Khang bay ra Đà vào ngày cuối, trước khi Đà Nẵng bắt đầu bị địch tấn công, và cho tướng Trưởng biết (có sự hiện diện của tác giả) là ông có gặp tướng Lạc tại Bộ Tổng Tham Mưu chiều ngày hôm trước (tức ngày 27/3/1975) và có mời tướng Lạc cùng đi với ông cùng máy bay ngày hôm sau (tức ngày 28/3/1975) để ra Đà Nẵng, tướng Lạc đã trả lời là vì “còn chút việc phải giải quyết ở Sàigòn nên không đi theo tướng Khang được.” [43]

     Tướng Da-tô Lâm Quang Thi là Tư Lịnh Tiền Phương kiêm Tư Lịnh Phó Quân Đoàn I và Tướng Da-tô Hoàng Văn Lạc là Tư Lịnh Phó Quân Khu I. Với những chức vụ quan trọng như vậy, hai ông tướng này giống như hai cánh tay của Tướng Trưởng. Từ khi hai ông tướng này bỏ đi rồi, Tướng Trưởng như mất luôn cả hai cánh tay, không còn cựa quạy được gì nữa. Việc này được coi như nguyên nhân chính (vòng khoen gốc) gây ra những hậu quả dây chuyền (những vòng khoen kế tiếp) với diễn biến như sau:

     1.- Tướng Trưởng buộc lòng phải cho giải tán Bộ Tham Mưu Quân Đoàn I của ông:

     “Tư Lịnh Quân Đoàn I đã ra lịnh Bộ Tham Mưu Quân Đoàn tan hàng từ chiều ngày 28. Vì không còn Bộ Tham Mưu Quân Đoàn nên các đơn vị quân đội cũng như tiểu khu như rắn mất đầu, không còn biết phải làm gì và cứ mỗi khi liên lạc không được với cấp chỉ huy trực tiếp là quân sĩ tự động bỏ súng và tìm cách thoát thân. Theo tôi, số phận miền Trung đã được định đoạt vào lúc 5 giờ chiều ngày 28.”[44]

     2.- Hậu quả trực tiêp là quân lính theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng bỏ đơn vị tìm cách thoát thân, rõ rệt nhất và trước nhất là ở Sư Đoàn 1 Bộ Binh. Tình trạng này đã khiến cho vị tướng tư lệnh sư đoàn là Tướng Nguyễn Văn Điểm ra lệnh giải tán sư đoàn của ông:

     “Với 4 trung đoàn đã từ từ bỏ vị trí phòng thủ chung quanh Huế và đa số các đơn vị đã tan hàng từ sáng sớm trước khi có lịnh di tản vào buổi chiều.” (Trang 269)  “Tại Bộ Tư Lịnh Sư Đoàn 1 phía Nam thành phố Huế, tướng Điềm họp các đơn vị trưởng và ra lịnh tan hàng. Kể từ đó  các quân nhân không còn giữ được kỷ luật cần thiết để lên chiến hạm hoặc di chuyển một cách có trật tự về hướng Nam theo đường bộ.”[45]

     Chúng ta không biết với quân số hơn mười ngàn quân nhân có vũ trang đầy đủ, trong đó có rất nhiều tín đồ Da-tô mang sẵn bản chất Da-tô với những đặc tính dã man của truyền thống thập tự quân, chắc chắn là  có những hành động ghê tởm giống như những người lính đồng đạo của họ đã từng hành động Âu Châu và các vùng ven Biển Địa Trung Hải trong thời Trung Cổ, ở Croatia trong những năm 1941-1945, ở miền Bắc Trung Bộ và ở Bắc Bộ  trong những năm 1946-1954 và ở Rwanda trong năm 1994.

     (….Ít lâu sau khi họ đến Guam, nhiều tướng bại trận (hay tự sát hay bị giết như NĐD,NDVN) bị nhốt trong những chuồng sắt. Tướng Toàn, nguyên tư lệnh Quân khu III, kiệt sức, bị đẩy vào giữa nhóm, ngồi xuống một ghế quay. Tướng Tưởng, người bảo vệ Đà Nẵng đau mắt nặng, không còn trông thấy chiếc ghế. Một lúc sau, một sĩ quan hải quân Mỹ vào, bắt ông ta cởi binh phục. Một viên tướng hỏi: chúng tôi có thể đeo huân chương không? Người Mỹ trả lời:Không! Các anh không còn quân đội, không còn Tổ quốc!”(tr 376)…. 

  Các vòng khoen kế tiếp của hậu quả này là:

     3.- Sư Đoàn 2 dưới quyền tư lệnh của Tướng Trần Văn Nhật, với quân số trên mười ngàn quân mà khi rút lui khỏi Chu Lai để ra Cù Lao Re chỉ còn lại  khoảng 4 ngàn người. .[46]

     4.- Sư Đoàn 3 dưới quyền tư lệnh của Tướng Nguyễn Duy Hinh với quân sồ khoảng 14 ngàn quân nhân tại ngũ vào ngày  23/3/1975 đóng ở Hoà Khánh còn hiện diện đủ, một tuần lễ sau khi rút về tới Bà Rịa chỉ còn lại khoàng một ngàn.[47] 

5.– Sư Đoàn 1 Không Quân dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh với nhiệm vụ phối hợp với các đơn vị bạn hành quân trong vùng để yểm trợ, nhưng viên tướng này đã theo gương hai ông tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn tránh nhiệm vụ, tìm nơi an toàn để ẩn mình, cho nên sau đó ông mới bị Bộ Trường Quốc Phòng là Tướng Trần Văn Đôn bắt nhốt giam ở Bộ Tổng Tham Mưu cùng với Tướng Lâm Quang Thi:

     “Theo lời Không Đoàn Trưởng đại tá Vượng thì khu trục cơ phản lực A-37 khiển dụng cũng còn lại ít nhất là 40 chiếc. Như thế mà Quân Đoàn không có điều động một phi vụ oanh kích nào để giải tỏa áp lực của địch, có thể vì không có vị tướng nào có mặt trong trung tâm hành quân Quân Đoàn, chỉ còn sĩ quan tham mưu, không có thẩm quyền quyết định.”[48]

     “Sau khi gởi phúc trình đi, tôi đi thăm trung tướng Trưởng đang nghỉ tại Tổng Y Viện Cộng Hòa. Tướng Trưởng bắt tay tôi rồi hai tay ôm choàng lấy tôi, hai mắt ông rướm nước mắt. Sau đó tôi có đến Bộ Tổng Tham Mưu, và đến nơi giam giữ một số tướng lãnh với mục đích thăm tướng Lâm Quang Thi và tướng Nguyễn Đức Khánh. Lúc đó tôi không biết ai ra lệnh giữ các tướng này. Sau này gặp lại trung tướng Trần Văn Đôn thì tôi được biết đó là lịnh của tướng Đôn.” [49]

     6.- Sư Đoàn Thuỷ Quân Lục Chiến dưới quyền chỉ huy của tướng Bùi Thế Lân cũng như 4 Liên Đoàn Biệt Động Quân và 1 Lữ Đoàn Thiết Giáp không được sự phối hợp hành động từ Bộ Tham Mưu Của Quân Đoàn I cho nên phải hoạt động đơn độc không được các phi pháo yểm trợ. Tình trạng này khiến cho quân lính rơi vào cảnh chiến đấu đơn phương trong tuyệt vọng. Cuối cùng, họ, mất hết tinh thần và phải tìm đường tháo chạy và mạnh ai người ấy chạy, chạy càng mau càng có hy vọng thoát khỏi nơi nguy hiểm. Thế là các đơn vị này hoàn tàn rã ngũ.

     7.-  Căn Cứ  Yểm Trợ Đà Nẵng Tiếp Vận có quân số trên một ngàn người, nhưng khi tập họp (vào chiều tối ngày 28/3/1975?) chỉ còn lại có  70 người:

     “Căn cứ có quân số trên một ngàn người nhưng khi tập họp chỉ còn 70 người. Sáng sớm ngày 29, khi chiến đỉnh của đại tá Thiều rời căn cứ ra vịnh Hàn, thì đã có nhiều ghe trong Vịnh treo cờ Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam.”[50].

     8.- Tất cả các đơn vị địa phương quân và các tiểu khu tại các tỉnh trong Quân Khu I theo gương hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc cũng tìm cách lẩn trốn nhiệm vu, rời bỏ hàng ngũ để về với gia đình hay tìm nơi an toàn để ẩn thân.

     Phân Tích Bản Chất của Các Tướng Tá Da Tô

     Trở lại chuyện hai ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi và Hoàng Văn Lạc lẩn trốn nhiệm vụ khi đang phải đụng trận, người viết không biết rõ hai ông tướng Da-tô này  hành động như vậy là ở vào trường hợp nào trong hai trường hợp:

     a.- Họ đã được Hội Đồng  Giám Mục rỉ tai, ra lệnh không nên chống cự nữa để Hội Đồng Giám Mục Việt Nam còn có thể dễ dàng xoa dịu lòng căm phẫn của chính quyền Hà Nội đối với Giáo Hội La Mã.

     b.– Do bản chất hèn nhát khiếp đảm, sợ phải đụng trận.

     Có thể là ở vào trường hợp a.  Vì thế mà kể từ ngày 26/3/1975, các ông tướng Da-tô như Lâm Quang Thi, Hoàng Văn Lạc đã tìm cách lẩn trốn nhiệm vụ chạy trước. Rồi khi quân đội miền Bắc tiến đánh đến vùng Củ Chi – Tây Ninh, thì ông Tướng Da-tô Lý Tòng Bá, tư lệnh Sư Đoàn 25, trú đóng ở đây, cũng bỏ đơn vị mà chạy. Nhưng không may, ông lại bị quân đội miền Bắc bắt được ở một nơi trong cánh đồng lúa cách đó không bao xa (chứ không tại nơi ông trú đóng).

     Có người cho rằng các ông tướng, tá và sĩ quan Da-tô lẩn trốn như vậy là ở vào trường hợp B. Đặc tính hèn nhát khiếp sợ phải đụng trận đã có sẵn trong những người mang dòng máu tham lam ích kỷ, úy tử tham sinh của những người “đi đạo lấy gạo để ăn “ và “theo đạo để tạo danh đời”.

     Căn bệnh ích kỳ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực là cha đẻ ra những chứng bệnh hèn nhát, tham sống sợ chết và đội trên đạp dưới. Chính vì vậy mà không bao giờ họ nghĩ đến chuyện đi ra khỏi văn phòng của bộ chỉ huy để dấn thân lăn lộn với quân nhân dưới quyền trong những khi giải trí cũng như trong những giờ phút gay go phải đối đầu với hỏa lực tấn công của địch quân. Trường hợp Trung Tá Da-tô Trần Thanh Chiêu tư lệnh Sư Đoàn 21 trú đóng trong vùng Tây Ninh bị tấn công và bị tổn thất nặng nề vào tháng 1/1960 cũng vì lẽ này. Thảm bại này được sách Việt Nam Niên Biểu 1939-1975 ghi lại với nguyên văn như sau:

     “26/1/1960: TÂY NINH, 02G30: Trận Tua Hai (Trảng sập hay sụp). “Tua Hai” tức tháp canh thứ hai, kể từ Tây ninh, trên Quốc lộ 22, cách tỉnh lỵ khoảng 7 cây số. Đêm 25 rạng 26/1 (27 tháng chạp âm lịch) khoảng  200 VC độ kích Bộ Chỉ Huy Trung đoàn 32 của Sư Đoàn 21 VNCH (nguyên là Trung đòn 39, Sư đoàn 13 khinh chiến). Lực lượng đồn trú có khoảng 250 người. Tấn công từ hướng Bắc, VC vượt qua các trạm gác, xuyên qua doanh trại của các Tiểu đoàn 1 và 2, và chỉ bị chặn lại ở Tiểu đoàn 3. Giao tranh diễn ra trong khoảng một tiếng đồng hồ. 23 quân nhân VNCH chết, mất một số lớn vũ khí (2000?) (Gravel, 1:338; Báo cáo của Williams, 20/3/1960; FRUS, 1958-1963, I:342-4)

     Tư Lệnh Sư Đoàn là Trung-tá Trần Thanh Chiêu, bị cách chức, Thiếu-tá  MẪN (?), trung đoàn trưởng bị giáng xuống đại úy, không được thăng thưởng trong vòng 5 năm.”[51]

     Đại Tá Da-tô Bùi Đình Đạm Tư Lệnh Sư Đoàn 7 dưới quyền Tư lệnh Quân Đoàn IV của Thiếu Tướng Da-tô Huỳnh Văn Cao trong trận Ấp Bắc xẩy ra vào tháng 1/1963 cũng ở trong tình trạng giống như vậy. Trận đánh này được sách sử  ghi nhận như sau:

     “2/1/1963: MỸ THO: Trận Ấp Bắc.- Hai đại đội VC giữ một ấp chiến đấu, khoảng 14 cây số Tây Bắc Mỹ-tho, và 35 dặm Tây Nam Sàigòn, khiến quân lực VNCH, có thiết vận xa M.113, phi cơ, pháo  binh, và quân số gấp 4 lần bị thiệt hại nặng. Dù chết 19 chết, 33 bị thương, kể cả một đại úy và 1 trung sĩ cố vấn Mỹ, 5 trực thăng bị bắn rơi. (FRUS 1961-1963, III:1-2; Sheehan 1988, tr. 261-2)

     Trong đêm, lực lượng Việt Cộng an toàn rút khỏi Tân Thới về Đồng Tháp Mười.

     Phía VNCH, khoảng 80 binh sĩ chết, 100 bị thương, 3 cố vấn Mỹ chết và 8 bị thương. [Tin chính thức của VNCH: 63 chết, 109 bị thương]. Xem báo cáo của Trung Tá John P. Vann ngày 9/1/1963: Kennedy Library, NSF, Vietnam country Series, 1/63)

     Đây là trận đánh được cơ quan tuyên truyền  Cộng Sản và giới báo chí Mỹ – điển hình là NEIL SHEEHAN, phóng viên của hãng thông tấn UPI – coi như một chiến thắng lớn và kiểu mẫu của Cộng Sản trong cuộc chiến Việt Nam. Theo Sheehan, người tự nhận là học trò của Trung Tá Vann, Cố Vấn Sư Đoàn 7 BB lúc đó, các sĩ quan VNCH hèn nhát, không chịu tấn công. Cấp tư lệnh – đặc biệt là Đại Tá Bùi Đình Đạm, tư lệnh Sư Đoàn 7 và Thiếu Tướng Cao, tư lệnh Quân Đoàn IV từ tháng 12, 1962, những người mà Vann và Sheehan gọi là “raggedy- ass little bastards” (1988, tr.262) – đã chủ trương tránh chạm trán với Việt Cộng; và khi đụng trận, chỉ bày vẽ sao cho Việt Cộng rút lui êm thắm. (Sheehan 1988, tr. 271-7)” [52]

     Căn bệnh ích kỷ, tham lợi háo danh, hèn nhát, úy tử tham sinh và đội trên đạp dưới  của các ông tướng tá Da-tô gây ra tình trạng rã ngũ tan hàng như trên dễ dàng lây truyền sang các tướng tá  khác như những vết dầu loang. Cũng vì thế mà sau ngày 11/3/1975, toàn bộ Quân Đoàn II tại Quân Khu II  dưới quyền tư lệnh của Tướng Phạm Văn Phú bị tan rã hoàn toàn, và chưa đầy 3 tuần lễ sau, tới chiều tối ngày 28/3/1975, toàn bộ quân lính Quân Đoàn I trong Quân Khu I dưới quyền tư lệnh của Tướng Ngô Quang Trường cũng tan rã hoàn toàn. Rồi sau đó, các tỉnh từ Quy Nhơn trở vào Nam, mới chỉ phong thanh nghe thấy quân đội miền Bắc bắt đầu rục rich di chuyển đến nơi nào thì quân lính miền Nam ở nơi đó đã vội vàng co giò bỏ chạy.

     Chỉ có một trường hợp duy nhất là khi quân đội miền Bắc tiến tới Xuân Lộc (Long Khánh) vào ngày 9/4/1975 mới gặp sức kháng cự mãnh liệt của Sư Đoàn 18 dưới quyền tư lệnh của Chuẩn Tướng Lê Minh Đảo (không phải là tín đồ Da-tô). Nhờ có pháo binh loại 130 ly từ căn cứ Biên Hoà và không quân yểm trợ hữu hiệu, cho nên sư đoàn này đã cầm cự được khoảng một tuần lễ. Nhưng rồi tới ngày 16/4/1975 (theo Wikipedia, the free encyclopedia nói về Trận Đánh Xuân Lộc – Battle Of Xuân Lộc), ngày đó, các ổ trọng pháo cũng như 6 chiến đấu cơ F-5 và 14 phản lực A-37 tại căn cứ Biên Hòa bị hư hại nặng vì bị pháo kích. Tình trạng này khiến cho khả năng yểm trợ của không quân và của pháo binh bị tê liệt. Vì thế mà sức kháng cự của Sư Đoàn 18 suy yếu lần cho đến ngày20/4/1975 thì toàn bộ sĩ quan và quân lính còn lại phải buông súng đầu hàng.

     Kể từ ngày này, hầu hết những cấp chỉ huy cao cấp trong chính quyền cũng như trong quân đội miền Nam chỉ còn biết lo thu vén tiền bạc, của cải và dìu dắt vợ con để chạy cho thoát thân. Chức vụ càng lớn càng lo chạy trước:

     Ngày 21/4/1975, Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu chính thức tuyên bố từ chức để chuẩn chạy trốn. Phó Tổng Thống Trần Văn Hương được đôn lên làm tổng thống. Tiếp theo là Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm cũng từ chức để chuẩn bị “chuồn”. Chủ Tịch Hạ Viện Nguyễn Bá Cẩn được đưa lên làm thủ tướng thay thế. Ngày 25/4/1975,Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu và Thủ Tướng Trần Thiện Khiêm vội vã lên máy bay chuồn ra ngoại quốc. Thủ Tướng Nguyễn Bá Cẩn và các tướng lãnh như Cao Văn Viên (Tổng Tham Mưu Trưởng), Đặng Văn Quang (Cố Vấn An Ninh Phủ Tổng Thống), Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Khu 3 kiêm Tư Lệnh Quân Khu Thủ Đô), Nguyễn Khắc Binh (Tổng Giám đốc Cảnh Sát Quốc Gia), Đỗ Kiến Nhiễu (Đô Trưởng Sàigòn), Ngô Quang Trưởng (Tư Lênh Vùng 1 kiêm Quân Khu 1), Lâm Quang Thi (Tư Lệnh Phó Quân Đòan I Kiêm Tư Lệnh Bộ Tư Lệnh Tiền Phương), Hoàng Văn Lạc (Tư Lệnh Phó Quân Khu I) Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Lê Quang Lưỡng (Tư Lệnh Nhẩy Dù), Dư Quốc Đống, Vĩnh Lộc, Đồng Văn Khuyên, Phạm Quốc Thuần, Vĩnh Lộc, Ngô Du, Lữ Lan, Lê Nguyên Khang, Bùi Đình Đạm, Nguyễn Văn Minh (Minh Đờn), Trần Văn Trung (Chiến Tranh Chính Trị), Nguyễn Cao Kỳ, Huỳnh Bá Tĩnh, Nguyễn Hữu Tần, Võ Xuân Lành, Nguyễn Ngọc Oánh,  v.v… đều lũ lượt kéo nhau đào ngũ chạy ra hải ngoại. Các thượng nghị sĩ và dân biểu quốc hội như Nguyễn Văn Chức, Hùynh Văn Cao, Nguyễn Văn Ngải, Phạm Nam Sách, Trương Tiến Đạt, Hoàng Xuân Tửu, Trần Văn Đôn, Tôn Thất Đính, Nguyễn Bá Lương, Nguyễn Văn Ngải, Nguyễn Gia Hiến, . v.v.., bỏ cờ, bỏ lính, bỏ Thượng Viện, bỏ Quốc Hội, bỏ dân chúng, kẻ trước người sau theo nhau vắt chân lên cổ đào tẩu, giống như tàn quân Quốc Dân Đảng của Tưởng Giới Thạch tranh nhau chạy khỏi Hoa Lục vào mùa Thu năm 1949.

     Miền Nam, đặc biệt là dân chúng thành phố lớn ở miền Nam, như “rắn đã mất đầu“. Vào những ngày trong tuần lễ chót của tháng 4/1975, từ Phan Rang trở vào Sàigòn, quân lính lang thang lếch thếch cởi bỏ quân phục, liệng bỏ vũ khí và quân trang, lo chạy thoát thân. Cảnh sát, công an, mật vụ cũng biến dạng. Chỉ còn lại đám dân đen ngơ ngác, lặng nhìn giang sơn đổi chủ. Tình trạng thảm thương này được ông Da-tô Nguyễn Văn Lục ghi lại với nguyên văn như sau:

     “Sàigòn 30 tháng 4, bề ngòai cũng như một Baghdad ngày nay. Người đi bỏ chạy lấy người, kẻ ở lại lợi dụng cơ hội vơ vét. Cứ nhìn xem những người ra đi đủ để bắt mạch được miền Nam đang hấp hối.

     Trước đó ông Thiệu đã gửi tài sản gia đình của ông bằng đường tầu thủy sang Đài Loan và Canda, gửi vàng sang Paris giá trị 5 triệu đô la. Tối ngày 25 tháng 4, Polgar ra lệnh cho mật vụ đi ba xe đến đón ông Khiêm ở Bộ Tổng Tư Lệnh đi Tân Sơn Nhứt. Ít phút sau, ông Thiệu tới trên một xe Mercedès. Timmes ngồi cạnh ông Thiệu và yêu cầu ông ngồi thụp xuống sàn xe, vì sợ lính nổ súng. Timmes hỏi xã giao ông Thiệu: Phu nhân và tiểu thư khỏe không ạ? Ông Thiệu trả lời, “Nhà tôi và cháu đi Luân Đôn mua ít đồ cổ” (Trích Frank Snepp, Decent Interval, trang 167). Nhớ lại, trước đó gần một tháng, Thủ Tướng Hoàng Thân Sirik Matak biên một lá thư từ chối tỵ nạn. Bức thư này còn lưu trữ trong Văn Khố Thượng Viện Hoa Kỳ. Sau đó, Hòang Thân Matak đã hy sinh cùng với Phó Thủ Tướng Long Beret . (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ trên Tiếng Sông Hương, 2000). Lá thư của Hòang Thân Sirik Matak có đọan viết như sau: “Rất tiếc là trong hoàn cảnh này, tôi khổng thể ra đi một cách hèn nhát như vậy…. (Trích Tiền Phong số 658, trang 20)

     Sài Gòn lúc ấy là một bãi rác đủ mọi thứ vô thừa nhận. “Sao Mai”, quân trang, quân dụng, giầy bốt, mũ sắt, huân chương, tài liệu, sách vở vứt tung tóe, sắc đeo lưng, lựu đạn, súng ống. Dọc theo đường Công Lý ra đến Tân Sơn Nhứt… Người ta vứt đủ thứ ra đường. Sự hỗn loạn, sự sợ hãi trên mỗi khuôn mặt và trên bằng chứng là những món đồ vứt lại. Chưa kể đến xe díp, xe tải và cả xe tăng nữa. Chỉ có máy bay và tầu bè là phương tiện dùng để di tản là không còn để lại. Cũng không dám kể đến hồ sơ mật đủ loại, hồ sơ nhân viên. Theo Trung Tá Nguyễn Tuệ, điều hành văn phòng Trung Tướng Đồng Văn Khuyên, Tham Mưu Trưởng Bộ Tổng Tham Mưu, với bài viết: Ngày Tháng Cũ (Tiếng Sông Hương, 2000) trước đó một tháng, Mỹ đã lo ngại và đề nghị Tổng Cục Tiếp Vận nên đem toàn bộ hố sơ tại Trung Tâm Quản Trị gửi sang căn cứ Utapao (Thái Lan) của Không Quân Mỹ. Phía Việt Nam, hình như không quan tâm đến vấn đề này. Nói chung, toàn bộ tài sản của chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hòa để rơi vào tay Cộng Sản.

     Về phía CIA, họ đã chuyển hồ sơ mật đi trước. Cái gì không chuyển được đã kịp thời đốt. Theo Frank Snepp, họ đã thiêu hủy 14 tấn hồ sơ liên quan đến hoạt động tình báo và hồ sơ nhân viên.

     Phía Tòa Khâm Sứ (của Giáo Hội La Mã) ở Sàigòn, họ đã chuyển về Vatican 24 thùng liên quan đến tình hình Việt Nam và 3 thùng liên quan đến Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (chứng từ của Linh-mục Thụ, thư ký Tòa Khâm Sứ.)

     Tòan bộ hồ sơ từ miền Trung đến Sàigòn xuống lục tỉnh, chính quyền Việt Nam Cộng Hòa chuyển đi được mấy thùng?.Toàn bộ hồ sơ của Bộ Quốc Phòng, của quân đội nói chung được mấy thùng? Toàn bộ hồ sơ của các bộ, văn phòng Thủ Tướng, văn phòng Tổng Thống chuyển đi được mấy thùng? Hay ít lắm cũng đốt đi được mấy thùng? Xin Đại Tướng Cao Văn Viên, Tướng Trần Thiện Khiêm lên tiếng. Xin các tướng lãnh, các cựu bộ trưởng lên tiếng.

    Về phía dân chúng, cảnh xô bồ náo loạn như đến ngày tận thế. Người người hốt hoảng chạy, chạy xuôi, chạy ngược. Thật khác xa với hình ảnh ra đi vĩ đại, thong thả như đi du lịch, đi tắm biển. Taxi, xe nhà, xe gắn máy chở đầy người, chất đày của cải phóng như lao trên đường phố. Bàn ghế, giấy tờ, xe cộ ngổn ngang vứt bừa bãi dọc đường. Vợ con sĩ quan, công chức lạc nhau, chồng, vợ, con cái bị bỏ lại. Xô nhau mà chạy, chạy bán sống bán chết. Ai là người có can đảm, có lòng ở lại đương đầu với tình thế? Ai là người lúc bấy giờ làm kẻ hốt rác miền Nam? Kẻ ra đi hay kẻ quyết tâm ở lại? Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miền Nam (chữ của Vân Xưa, bút hiệu của cụ Hồ Sĩ Khuê)…

     Ngày 20 tháng 3, Tướng Lâm Quang Thi, Tư Lệnh Phó Quân Đòan I, rời bỏ thành phố Huế, di tản chiến thuật. Bộ Tổng Tham Mưu mất lỉên lạc. Ngày 29 tháng 3, Tướng Ngô Quang Trưởng, Chuẩn Tướng Nguyễn Đức Khánh, Đại Tá Duệ, Đại Tá Kỳ và các sĩ quan Bộ Tham Mưu (Quân Đòan 1) đã lên tầu Hải Quân 404, dời Đà Nẵng vào Cam Ranh. Đà Nẵng bị bỏ ngỏ để mặc cho quân lính mạnh ai nấy chạy. Đến Cam Ranh, các tướng lãnh giữ kín việc về Sàigòn. Chuẩn Tướng X. lên bong tầu ra lệnh cho Thủy Quân Lục Chiến dời tầu, nói dối là sẽ quay lại Vùng 1 Chiến Thuật. Khi người lính cuối cùng rời khỏi tầu xuống Cam Ranh thì chiến hạm vội chặt neo chạy về Sàigòn vào lúc 7:30 tối ngày 31/3/1975. Thủy Quân Lục Chiến đã bị lừa phản bội vào phút chót.

     Ngày 27/4/1975, Đại Tướng Cao Văn Viên bỏ chạy, chỉ để lại một lá thư từ chức trên bàn làm việc và đề nghị Tướng Đồng Văn Khuyên thay thế ông (Trích bài của Trung Tá Nguyễn Tuệ, Tiếng Sông Hương, 2000)

     Ngày 28/4/1975, tất cả những vị tướng sau đây đã bỏ trốn: Trung Tướng Nguyễn Văn Minh (Biệt Khu Thủ Đô), Trung Tướng Nguyễn Văn Toàn (Tư Lệnh Quân Đòan 3), Trung Tướng Trần Văn Minh (Tư Lệnh Không Quân), Chuẩn Tướng Trần Đình Thọ, Đại Tá Nguyễn Văn Lung.

     Sài Gòn bị bở ngỏ trước khi Cộng Quân tiến vào ngày 30/4/1975. Ông Thiệu bỏ đi đầu tiên và cứ thế tùy theo cấp bậc lớn nhỏ chuồn theo.

     Trong khi đó, theo lệnh Tòa Nhà Trắng bắt buộc Đại Sứ Martin phải lên máy bay. Ông là một trong những người Mỹ cuối cùng đã lên máy bay vào lúc 5 giờ sáng ngày 30/4/1975. 10 giờ 30 ngày 30/4/1075, Cộng Sản vào chiếm Dinh Độc Lập. Cuộc chiến kết thúc.”[53]

     Cho mãi đến 8 giớ tối ngày 28/4/1975, Đai Tướng Dương Văn Minh mới được Đại Sứ Hoa Kỳ Graham A. Martin và Đại Sứ Pháp Mérillion vận động và làm áp lực với Tổng Thống Trần Văn Hương phải thoái vị để nhường  chức vụ tổng thống cho ông. Vào lúc này, quân đội miền Bắc đã  tiến vào tới Tân Cảng, Gò Vấp và  nhiều ngả khác mà không gặp một sự kháng cự nào. Như vậy  là việc đưa Đại Tướng Dương Văn Minh lên ngôi vị tổng thống vào lúc đó chỉ có một mục đích duy nhất là để chuẩn bị một cái thế chuyển quyền cho chính quyền Hà Nội một cách êm thắm hầu tránh khỏi xẩy ra cảnh bom đạn làm hao tổn sinh mạng và tài sản của hàng triệu người dân Sàigòn một cách vô ích, đúng như cụ Vân Xưa Hồ Sĩ Khuê đã nhân định:

    “Tướng Dương Văn Minh là người cuối cùng ở lại cúi xuống đất nhặt một quyền chính bỏ rơi ngoài đường. Để trong 48 tiếng đồng hồ sau đó đứng ra nuốt nhục cứu độ quần chúng thủ đô miềnNam.”.

     Trong tình huống này, những người thấu hiểu lịch sử thế giới đều cho rằng việc hai ông đại sứ Hoa Kỳ và đại sứ Pháp cố gắng giàn xếp đưa ông Dương Văn Minh lên cầm quyền thì cũng giống  như việc giàn xếp những người có thầm quyền còn lại trong chính quyền Đức Quốc Xã vào đầu tháng 5/1945 trong việc đưa Tướng Gustav Jodt lên với danh nghĩa Tổng Tư Lệnh Quân Đội và nhân dân Đức để sáng sớm ngày 7/5/1945 ông phải thân hành đến Bộ Tổng Hành Dinh của Đại Tướng Eisenhower tại Reims (Đông Bắc nước Pháp) ký nhận đầu hàng Đồng Minh vô điều kiện.[54]

     Tất cả những việc làm trên đây của nhóm tín đồ Da-tô và nhóm thiểu số tàn dư phong kiến phản động ở hải ngoại cho chúng ta thấy rõ quyền lợi cũng như niềm vui mừng và nỗi lo âu của họ hoàn toàn trái ngược với quyền lợi cùng niềm vui mừng và nỗi lo âu của đại khối dân tộc Việt Nam ta….

     Có một điều thắc mắc là Trung Tướng Ngô Quang Trưởng* không phải là tín đồ Da-tô, với tư cách Tư Lệnh Quân Đoàn I và Quân Khu I, vào lúc dầu sôi lửa bỏng lại ở trong tình trạng thì giờ hết sức quý báu và vô cùng eo hẹp mà TẠI SAO ông lại dành ra tới cả một giờ đồng hồ thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để báo cáo cho Đức Giám-mục Phạm Ngọc Chi biết là ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng?

     “Tướng Trưởng quyết định ở lại một mình trong trại Thủy Quân Lục Chiến ở Non Nước. Ông đưa phương tiện di chuyển duy nhất còn lại của ông cho tướng Khánh. Sau đó tướng Trưởng lấy một jeep có tài xế, quân cảnh và đi ra khỏi doanh trại và đến tòa Tổng Giám Mục Địa Phận Đà Nẵng để thăm Đức Cha Phạm Ngọc Chi và trở về khoảng một tiếng sau.

     Tướng Trưởng cho Đức Cha Chi biết là ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng. Trước khi bỏ Huế tướng Thi cũng đi từ giã Đức Cha Điền, địa phận Huế.”[56]

     Không thấy nói Tướng Truởng đi thăm một ông Sư nào cả. Sự kiện này chỉ có thể giải thích được rằng chính quyền miền Nam mà tướng Trưởng đang phục vụ lúc bấy giở là một chế độ đạo phiệt Da-tô nằm dưới quyền chỉ đạo của các ông giám-mục trong Hội Động Giám Mục Việt Nam. Kinh nghiệm lịch sử cho thấy rằng quốc gia nào có tín đồ Da-tô được Giáo Hội La Mã đưa lên cầm quyền thì ở đó:

     1.- Có vấn nạn Giáo Hội La Mã hay tệ nạn lãnh chúa áo đen,

       2.– Chính quyền trung ương phải thường xuyên báo cáo tình hình và những việc làm của họ cho Hội    Đồng Giam Mục tại quốc gia đó.

     3.- Các nhà chức trách địa phương khi nhận nhiệm sở phải đến trình diện vị Giám mục cai quân địa phận địa phương hay linh mục tai họ đạo nơi nhiệm sở của họ, 

     4.- trong thời gian phục vụ tại địa phương, họ phải thường xuyên báo cáo tình hinh trong phạm vi trấn nhậm cùng những việc làm của họ cho các vị chức sắc Da-tô của Giáo Hội tại địa phương họ làm việc.

     Miền Nam Việt Nam trong thời ông Ngô Đình Diệm và ông Nguyễn Văn Thiệu cầm quyền ở vào tình trạng này. Vì thế mới có chuyện giữa lúc tình hình đang vô cùng khẩn trương và thi giờ hết sức eo hẹp vào chiếu tối ngày 28/8/1975 mà Trung Tướng Ngô Quang Trưỡng vẫn phải dành ra cả một giờ đồng hồ, bất chấp cả nguy hiểm ở dọc đường, thân hành đến Toà Tổng Giám Mục để tường trình lên Giám-mục Phạm Ngọc Chi rằng “ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng.”, và chuyện, ông Tướng Da-tô Lâm Quang Thi cũng phải đến từ giã ông Giám Mục Điền rồi mới co giò chạy khỏi Huế.

 Giáo sư Nguyễn Mạnh Quang, sachhiem.net, ngày 5/4/08

(trích chương 11, cuốn Giáo hội La Mã Lịch sử và Hồ sơ Tội ác)

NDVN, ngày 6/4/08

 Ghi chú:

     Ngụy Tướng Ngô Quang Trưỡng vẫn phải dành ra cả một giờ đồng hồ, bất chấp cả nguy hiểm ở dọc đường, thân hành đến Tòa Tổng Giám Mục để tường trình lên Giám-mục Phạm Ngọc Chi rằng“ông đã cho lịnh Quân Đội rút khỏi Đà Nẵng.”, là nhiệm vụ của các Tư lệnh Vùng I, ỊI, III, và IV, tỉnh trưởng, quận trưởng…nhậm chức hay rời nhiệm sở hay bỏ chạy, phải trình diện linh mục, giám mục gần nhất, của thời Diệm – Thiệu Cần Lao Công Giáo.

     Giám mục Phạm Ngọc Chi và linh mục Hoàng Quỳnh, đã ngụy hàng để cứu mạng sống của chúng, chứ chúng đâu có thực lòng theo cách mạng, chúng biết là chúng có đại tội tu di tam tộclàm tay sai Việt gian phản quốc cho thực dân đế quốc Pháp-Mỹ, tàn hại đất nước và sát hại bao nhiêu dân lành và Việt Minh Cộng Sản Đảng.

     Hai tên đại Việt gian này, bàn tay đẫm nhiều máu sát hại nhân dân ta, tưởng rằng sẽ được cách mạng tha cho, là ra lệnh cho các chỉ huy quân đội Ngụy VNCH, bỏ súng tháo chạy để dân chúng không bị đỗ máu thêm là do binh vận Cách mang Việt Cộng hứa không giết chúng. Những cán bộ binh vận này, biết rất rõ bọn tướng tá Ngụy VNCH là bọn Việt gian Công giáo và tướng tá hèn nhát đều nghe lệnh linh mục, giám mục địa phương mà thôi! Để rồi Phạm Ngọc Chi và Hoàng Quỳnh phải đền tội chết đói già trong tù

     Cũng như tên đại Việt gian TGM Nguyễn Văn Bình “Đại Viêt gian Tổng giám mục Nguyễn Văn Bình, đã từng kêu gọi Mỹ tiếp tục oanh tạc cày nát từng tất đất miền Bắc, giết sạch dân chúng miền Bắc, để Ác nhân Nguyễn Văn Bình lên Thiên đàng, như sau: “ TGM Nguyễn Văn Bình ở Sàigon, được mọi quan sát viên Tây phương xem là người ôn hoà nhất trong số những nhà lãnh đạo Thiên Chúa giáo ở Việt Nam, mới đây đã chấm dứt  yên lặng khi tuyên bố chống lại việc Mỹ ngưng oanh tạc miền Bắc “( báo Le Monde ngày 22 – 10- 1968 )”, để bảo toàn lực lượng, hắn nhanh tay thực hiện khổ nhục kế và ra lệnh toàn thể linh mục tham  gia mọi công tác thủy lợi, đào kin tự động dâng hiến (tất cả đều bị trưng thâu , nộp cho nhà nước) tài sản giáo hội như ruộng đất, trường học, nhà thương.v.v..mà Giáo Hội Công Giáo Việt Gian, đã cướp đọat và gầy dựng từ thời thực dân Pháp, Mỹ và Diệm Thiệu, bề mặt tỏ ra hồ hởi tuân hành những chính sách của Ðảng và nhà nước, thực hiện những đề án của Ban Tôn Giáo trong thời Lê Duẫn và Lê ĐứcThọ, để mua thời gian cũng cố đạo quân thứ năm và chui sâu trèo cao xâm nhập chính quyền và đảng, chờ đợi thực dân đế quốc xâm lược Mỹ-Vatican, bật đèn xanh DBHB

—————————————–

alt

Những Ngày Cuối Cùng Của VNCH
PhoNang 2013/01/11

Đại Sứ Pháp ở  Sài Gòn  Jean-Marie Mérilion:

Jean-Marie Mérillon

NGƯỜI ĐI KHÔNG MUỐN LƯU LẠI BẰNG CHỨNG

Đã đến lúc Đại Sứ Martin phải nói thật với tôi: Nước Mỹ cần phải làm gì vào những ngày sắp tới khi Phan Rang thất thủ? Và Mỹ cần xác minh thái độ đối với Dương văn Minh mới hôm qua vừa đòi Nguyễn văn Thiệu từ chức.

Ông Martin đã lưỡng lự rất nhiều rồi mới nói cho nước Pháp hay rằng Hoa Kỳ sẽ bỏ rơi Miền Nam. Còn nước Pháp thì muốn cố giữ Miền Nam bằng một chánh phủ trung lập giả định, biết rằng đó chưa hẳn là một liều thuốc hồi sinh cho toàn thể chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa một cách công hiệu, nhưng chẳng còn phương thức cấp cứu nào phù hợp với tình thế lúc đó.

TỐI 18/4/75:

Qua điện thoại, lần thứ nhất Ông Martin mới nói ra ý định của Hoa Kỳ. Đối với chính trường nước Mỹ thì chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt sau Hiệp Định Paris năm 1973. Vấn đề còn lại là giải thể Hoa Kỳ tại Đông Dương.

Ông Martin muốn nhờ tôi làm trung gian chuyển đạt ý muốn của Mỹ cho phía Việt Cộng. Tôi bèn trả lời:

– “Điều mà ông yêu cầu, tôi sẽ thõa mãn cho ông 5 tiếng nữa nếu không có gì trở ngại trong việc liên lạc. Tuy nhiên tôi phải phúc trình lên chánh phủ của tôi, vậy ông Đại Sứ gởi cho tôi một công hàm ủy thác làm việc này.”

Không thể được” người ta không muốn lưu lại bằng chứng.

– “Như thế từ giờ phút này nước Pháp sẽ đãm nhận vai trò hòa bình cho Việt Nam theo chủ thuyết của Pháp.”

– “Chúng tôi cám ơn nước Pháp. Với tư cách cá nhơn tôi hoàn toàn chống lại chủ trương của Hoa Kỳ dành trọn quyền thắng trận cho Việt Cộng.”

Sau đó chúng tôi chuyển sang phần tâm sự gia đình, hỏi thăm sức khỏe bà Đại Sứ v.v… Đại Sứ Martin cho biết nước Mỹ quá chán ngấy những vụ đão chánh trước kia nên để cho ông Thiệu từ chức rồi ra đi hơn là đảo chánh. Vai trò của Nguyễn cao Kỳ không còn cần thiết sau khi Hoa Kỳ đã tặng phần thắng cho Việt Cộng.

Ngày 30/4, trước 3 tiếng đồng hồ hạ cờ Hoa Kỳ sau 20 năm bay trên vòm trời Việt Nam, Đại Sứ Martin gọi điện thoại vấn an, chúc tôi ở lại xứ sở này tiếp tục sứ mạng hòa bình, đồng thời khuyến khích tôi “còn nước còn tát.”

Công việc đầu tiên của tôi là liên lạc với Phan Hiền trong trại Davis (Tân sơn Nhất) cho biết chánh phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam của Huỳnh tấn Phát muốn ấn định rõ thời hạn Mỹ rút quân khỏi Việt Nam. Phan Hiền bèn hỏi lại tôi là nên ấn định vào ngày nào? Sự giàn xếp người Mỹ ra đi cũng làm phiền phức tôi không ít. Ông trưởng phòng CIA xúi ông Tổng Giám Đốc Liên Đoàn Lao Công Việt Nam kiếm khoảng 20.000 người mặc quần áo nông dân biểu tình trước Tòa Đại Sứ Mỹ đòi Mỹ phải ở lại giúp Việt Nam. Ông Trần quốc Bửu hứa sẽ làm được, nhưng rồi chẳng thấy biểu tình chi cả. CIA chưa muốn đi vội, có vẻ muốn ở lại để tổ chức phá rối cộng sản như họ đã từng làm ở ngoài Bắc sau Hiệp định Genève 1954. Trưởng phòng thương mại Mỹ xin gia hạn đến tháng 6 để giúp các hãng thầu,ngân hàng, các nhà kinh doanh di tản các dụng cụ xí nghiệp, cơ xưởng máy móc về Mỹ. Nhưng rồi Đại Sứ Martin nhận được lệnh của Tòa Bạch Ốc là người Mỹ và tất cả những gì liên hệ đến Mỹ phải rời khỏi Việt Nam chậm lắm là cuối tháng 4/75.

Đại tướng Pháp Vanuxem chạy chỗ này chỗ kia với thiện chí cố vấn cho ông Thiệu phản công, nhưng vô ích. Tôi được thông báo Mỹ đã sắp xếp ngày đi cho ông Thiệu đâu vào đó cả rồi. Tướng Vanuxem, người từng chỉ huy ông Thiệu, than thở với tôi: “Thiệu “lủy” không nghe “moa”, đánh giặc theo kiểu Mỹ sẽ thua không còn một mảnh đất để thương thuyết với Việt Cộng.”

Ngày 18 tháng 4 chúng tôi xác nhận ngày di tản của Hoa Kỳ với Phan Hiền.

Trước khi lập chánh phủ giả định, tôi xét phản ứng của Nga Sô và Trung Cộng. Nước nhiệt thành đầu tiên là Trung Cộng. Thủ Tướng Chu ân Lai điện cho Bộ Ngoại Giao Pháp là sẵn sàng hợp tác với Pháp để xây dựng một chánh thể trung lập tại Miền Nam nếu có thành phần MTGPMNVN tham dự.

Tại Hànội, cuộc vận động với Đại Sứ Nga được xem là mấu chốt của vấn đề. Nhưng Đại Sứ Nga, ông Malichev từ chối, nói rằng: “Chủ quyền xây dựng chính thể Việt Nam do đảng cộng sản Bắc Việt quyết định. Ngoài tình hữu nghị cũng như các sự giúp đỡ Việt Nam, Nga chẳng có quyền hạn gì cả.” Lời tuyên bố đó giống như một kẻ ăn trộm nho bị bắt quả tang rành rành mà vẫn cứ chối bai bải là mình chỉ đi dạo mát trong vườn nho mà thôi. Chẳng là vì chúng tôi có đủ tin tức tình báo nói rõ có 5 vị tướng lãnh Nga có mặt trong Bộ Chỉ Huy chiến dịch Hồ chí Minh tại chiến trường Long Khánh. Không lẽ các vị ấy chỉ ngồi uống trà nói chuyện chơi với Văn tiến Dũng hay sao?

Toàn thể các nước Đông Nam Á lo ngại một nước Việt Nam độc lập dù dưới một chánh thể nào trong tương lai. Đối với họ, Việt Nam mãi mãi có chiến tranh bao giờ cũng có lợi hơn một Việt Nam hòa bình thống nhất. Theo quan điểm đó, khối Đông Nam Á tán thành Việt Nam được đình chiến trong trung lập hơn là thống nhất trong độc lập. Quan niệm này lan rộng cả Á Châu, đặc biệt là Nhật Bản, nước Nhật sẽ hết mình đóng góp cho Đông Dương trung lập. Duy có Nam Dương cực lực phản đối. Nam Dương chưa nguôi mối thù Trung Cộng đạo diễn cuộc đảo chánh hụt năm 1965, nên bác bỏ giải pháp đình chiến tại Việt Nam có Trung Cộng tham dự.

(Mãi đến năm 1978, tướng Suharto có gởi cho tôi một bức thơ tỏ ý hối tiếc là lúc đó chánh phủ ông đã có nhận xét sai lầm về những ý kiến của chúng tôi).

Mao thì ghét cay ghét đắng Lê Duẩn thân Nga, thành thử những điều kiện Bắc Kinh đặt ra là phải hạ bệ đảng viên thân Nga, cầm chân quân Bắc Việt để dành cho MTGPMN tiến vô Sài Gòn.

Thực ra nền trung lập đối với chúng tôi chỉ coi như tạm thời ngăn cản dòng nước lũ, cho Việt Nam Cộng Hòa tạm dung thân.

Lời giao ước chánh trị khác hẳn với lời giao ước ngoại giao. Bắc Kinh chỉ giao ước bằng miệng là sẽ tìm cách cản trở Bắc Việt chậm nuốt Miền Nam, biện pháp quân sự coi như yếu tố cần phải có. (Rất tiếc chờ mãi đến năm 1978 Trung Cộng mới dùng biện pháp này để dằn mặt Việt Nam).

Phần chúng tôi là phải đáp lời hứa là thành lập chánh phủ liên hiệp gồm 3 thành phần: Quốc gia, Đối lập, và MTGPMN. Chu Ân Lai đưa ra một danh sách: Trương như Tảng, Nguyễn thị Bình, Đinh bá Thi, thiếu tướng Lê quang Ba, trung tướng Trần văn Trà, ngỏ hầu làm lực lượng nồng cốt thân Tàu trong chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc Việt Nam. Điều kiện họ đưa ra thoạt nhìn thì không thấy có gì trở ngại, nhưng thực hiện lại vô cùng khó khăn. Vì những người này không có thực lực hay quyền hành gì cả. Toàn thể quyền hòa hay chiến đều do Lê Duẫn nắm cả. Trên Lê Duẫn một bực là Mạc tư Khoa. “Dường như đã từ lâu phe quốc gia lẫn phe cộng sản Việt Nam đều đã không có quyết định gì về số phận đất nước của họ”.

Móc nối với Trung Cộng thỏa thuận đâu vào đó cả rồi, sáng ngày 22/4 tôi mời phái đoàn Dương văn Minh vào tòa Đại Sứ tiếp xúc với chúng tôi. Phái đoàn này có nhiều nhân vật đang tập sự làm chánh trị, những kẻ chuyên sống nhờ xác chết của đồng bào họ: Huỳnh tấn Mẫm, Hoàng phủ Ngọc Tường, Ngô bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên, Lý quý Chung, Vũ văn Mẫu, Hồ ngọc Cứ v.v… Tôi thấy ông Dương văn Minh đã liên lạc quá vội với một thành phần vô ích. Những khuôn mặt này Bắc Việt chưa biết họ, còn hao công giúp Bắc Việt thì chỉ có việc chưởi tầm bậy chế độ Việt Nam Cộng Hòa.

Tôi đi ngay vào vấn đề hỏi chung trước mặt mọi người là: “Chúng tôi hết sức ủng hộ người Việt Nam thành lập một chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Vậy trong những ngày sắp tới có những cuộc thương thuyết xảy ra, quí vị có đồng ý nhận quí vị là đại biểu các khuynh hướng chánh trị ở Miền Nam không? Chiến tranh đang đến hồi dứt khoát phải có kẻ thua người thắng. Hãy cho chúng tôi biết, chánh phủ quí vị tới đây sẽ thua hay Việt Nam Cộng Hòa thua, hoặc MTGPMN thua? ”

Huỳng tấn Mẫm cướp lời Dương văn Minh nói trước:

– “Thưa ông Đại Sứ Pháp, cuộc chiến này Mỹ đã thua, tất cả người Việt Nam chúng tôi thắng trận.”

Căn cứ theo lời của Huỳnh tấn Mẫm, tôi đoán ngay hắn là một thứ bung xung trước thời cuộc, háo danh, sẵn sàng làm tôi mọi cho bất cứ chế độ nào chịu cấp phát tước quyền cho hắn. Nếu biết khôn và khách quan nhận định thì hắn phải nói như vầy: “Bọn phản chiến Mỹ thua trận, và tất cả người Việt Nam thắng trận trong một nền hòa bình rơi nước mắt.”

Bà ni sư Huỳnh Liên nói nhiều lắm. Bà kể lể “tín đồ Phật Giáo bị kềm kẹp từ 20 năm qua, nếu cộng sản thắng thì đó là lời cầu nguyện của hàng triệu phật tử Việt Nam.”

Luật sư kiêm chánh trị gia Vũ văn Mẫu có vẻ già dặn hơn. Ông đặt tiếng “nếu” ở mỗi mệnh đề để thảo luận. “Nếu” chính phủ tương lai mà trong đó có ông làm thủ tướng thì viễn ảnh hòa bình sẽ nằm trong tầm tay dân tộc Việt Nam v.v..” Ông cũng ngỏ lời cám ơn tôi dàn xếp thời cuộc để lập ván bài trung lập tại Việt Nam.

Đây là buổi thăm dò quan niệm, nhưng những con cờ quốc tế đã gởi cho tôi từ trước không có Huỳnh tấn Mẫm, Ngô bá Thành, Huỳnh Liên, Vũ văn Mẫu và Lý quý Chung. Tôi lễ phép mời họ ra về, ngoại trừ đại tướng Dương văn Minh để thu xếp nhiều công việc khác.

Tiển ra tận thềm sứ quán, tôi có nói mấy lời để họ khỏi thất vọng sau này:

– “Thưa quí vị, thiện chí thành lập tân chánh phủ, điều đó không ai chối cải công lao của quí vị. Tuy nhiên thẩm quyền tối hậu giờ phút này nằm trong tay Hànội. Nước Pháp chỉ làm một việc có tính cách trung gian hơn là chủ động’.

Mọi người trợn ngược tròng mắt nhìn tôi hết sức ngạc nhiên. Ông Vũ văn Mẫu nói nhỏ với tôi một câu bằng tiếng Latinh; “Tôi muốn đi Pháp nếu tân chánh phủ không được Hànội nhìn nhận.”

Khi trở vào, Đại tướng Dương văn Minh ngồi đó chờ tôi, nét mặt sung mãn, tự hào là đã nắm vững thời cuộc. Vừa nghe chuông điện thoại reo, tùy viên giao tế của chúng tôi giới thiệu người bên kia là Võ đông Giang. Đường dây điên thoại viễn liên này kêu qua tòa Đại Sứ Pháp ở Tân gia Ba rồi cũng dùng đường dây này chuyển về Bộ Ngoại Giao Hànội. Tại Hànội họ sẽ móc đường dây tiếp vận vô Nam để tiếp xúc với vị Tư lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh, vì ông này muốn gặp tôi có chuyện gấp. Tôi đồng ý nhưng phải chờ hai tiếng đồng hồ nữa mới bắt xong đường dây như thế.

KẾ HOẠCH THỨ NHẤT:

Thành phần chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc, đồng chủ tịch là hai ông Dương văn Minh và Trần văn Trà. Ba phó chủ tịch là Vũ văn Mẫu, Trịnh đình Thảo và Cao văn Bổng. Tổng trưởng quốc phòng Phạm văn Phú. Tổng trưởng ngoại giao Nguyễn thị Bình. Tổng trưởng tư pháp Trương như Tảng. Tổng trưởng nội vụ Vũ quốc Thúc. Tổng trưởng kinh tế Nguyễn văn Hảo. Tổng trưởng thương mại Lê quang Uyễn. Tổng trưởng tài chánh Trần ngọc Liễng. Xen kẻ nhau nếu tổng trưởng quốc gia thì Đổng lý văn phòng là người của MTGPMN, và ngược lại. Hội đồng cố vấn chánh phủ có: Nguyễn hữu Thọ, Huỳnh tấn Phát, Thích trí Quang, Lương trọng Tường, Hồ tấn Khoa, Linh mục Chân Tín, Cựu thủ tướng Trần văn Hữu.

Hai mươi bốn giờ sau khi công bố thành phần chánh phủ, nước Pháp sẽ vận động các nước Âu Châu, Á Châu và các nước phi liên kết công nhận tân chánh phủ hòa giải Việt Nam, làm chậm lại bước tiến xe thiết giáp Liên Xô mưu toan đè bẹp Sài Gòn.

KẾ HOẠCH THỨ HAI:

– “Thưa Đại tướng, ông Nguyễn văn Thiệu để lại quân đội này còn bao nhiêu người? Hoa Kỳ để lại vũ khí nếu dùng được ở mức độ phòng thủ thì đuợc bao lâu?

Đại tướng Dương văn Minh trả lời là ông chưa nắm vững quân số vì hơn chín năm ông không có dịp biết các bí mật quốc phòng.

– “Thưa Đại tướng, đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi sẽ phúc trình cho đại tướng biết sau. Theo chúng tôi, quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn đủ khả năng chiến đấu thêm 10 tháng nữa, nếu các nhà quân sự chịu thay đổi chiến thuật từ quy ước sang du kích chiến. Ngay từ bây giờ Đại tướng còn 2 Quân đoàn. Phải dùng hai Quân đoàn này mặc cả cho thế đứng của phía quốc gia. Tôi tung liền giải pháp trung lập đồng thời tạo áp lực ngoại giao ngừng bắn 7 tiếng đồng hồ. Trong khi đó Đại tướng kịp thời chỉnh đốn quân đội và chọn các tướng lãnh có khả năng trường kỳ phản công. Tôi tin tuởng Việt Nam Cộng Hòa chưa thể thua và đích thực Bắc Việt đang lúng túng chưa biết họ sẽ chiến thắng bằng cách nào đây.

KẾ HOẠCH THỨ BA:

Cùng lúc mời thành viên MTGPMN hợp tác trong chánh phủ trung lập, Đại Tướng tuyên bố sẵn sàng bang giao với Trung Quốc và các nước theo chủ nghĩa xã hội, dĩ nhiên trong đó có cả Liên Xô.

Trung Quốc sẽ chụp lấy cơ hội này để cử Đại Sứ đến Sài Gòn ngay sau 24 giờ cùng với tiền viện trợ 420 triệu Mỹ kim là tiền sẽ trao cho Hànội mà nay trao cho chánh phủ hòa hợp hòa giải dân tộc. Kế hoạch này đánh phủ đầu Hànội bằng cách đưa đứa con nuôi của họ là MTGPMN lên nắm chính quyền (một lực lượng mà từ trước đến nay Hànội vẫn ra rả trước dư luận là dân Miền Nam đứng lên chống Mỹ, chớ Hànội không có dính dáng gì hết).

Đi từng bước, lần lượt tân chánh phủ sẽ lật lại từng trang giấy ký ngưng bắn trong Hiệp Định Paris, giao cho Trung Quốc cưỡng ép Hànội vào bàn hội nghị nói chuyện ngưng bắn tức khắc.

Quả thật Trung Quốc muốn cứu sống MTGPMN để xây dựng ảnh hưởng của mình tại Đông Dương. Phe quốc gia cũng muốn cứu cấp Sài Gòn đừng lọt vào tay cộng sản. Như vậy hai quan niệm cùng có một mục đích, còn có thể dàn xếp được là tốt hơn cả, vì đừng để cho bên nào thắng.

Tôi cũng thông báo cho ông Minh hay là tôi đã liên lạc với thành viên MTGPMN. Hầu hết đều tán thành giải pháp giúp họ thoát khỏi vòng quỷ đạo của Bắc Việt. Họ chạy theo HàNội là muốn tiến thân sự nghiệp chánh trị bằng con đường hợp tác với cộng sản, nếu giúp họ nắm được chánh quyền Miền Nam thì phương tiện dùng cộng sản Bắc Việt đã quá lỗi thời.

Bà Bình từ đầu đến cuối đã hợp tác chặt chẽ với chúng tôi. Thêm một bằng chứng: 17 ngày sau khi Sài Gòn mất, bà Bình còn tuyên bố trước Liên Hiệp Quốc dụng ý tống khứ đạo quân Bắc Việt về bên kia Bến Hải: “Miền Nam Việt Nam sẽ sinh hoạt trong điều kiện trung lập 5 năm trước khi thống nhất hai miền Nam Bắc.” Các nhà phân tích thời cuộc nói chỉ cần 5 tháng Miền Nam sống dưới chánh phủ trung lập thay vì có diễm phúc 5 năm, có lẽ hòa bình Việt Nam sẽ ở trong hoàn cảnh thơ mộng tươi đẹp rồi. Bà Bình bị thất sủng sau lời tuyên bố đó.

Nước Pháp sẽ trao 300 triệu quan chuyển tiếp từ chế độ Việt Nam Cộng Hòa giao cho tân chánh phủ để nuôi sống giải pháp trung lập. Chúng tôi sẽ quyên góp các nước bạn đồng minh Âu Châu một ngân khoảng độ 290 triệu mỹ kim cho các chương trình viện trợ kinh tế, văn hóa, phát triển nông nghiệp, nhân đạo v.v… tổng cộng cũng gần bằng viện trợ của Hoa Kỳ trước đây.

Bấy nhiêu đó cũng đủ nuôi dưỡng tạm thời chánh phủ Dương văn Minh Trần văn Trà, để rồi người quốc gia tranh thủ với cộng sản duy trì một Miền Nam không nhuộm đỏ màu cờ.

Đại tướng Dương văn Minh không nói chi nhiều, ông lắng nghe tôi trình bày cặn kẽ từng kế hoạch, và nói ông sẵn sàng thực hiện theo quan điểm của chúng tôi. Ông chỉ nêu một câu hỏi duy nhất:

– “Dưới hình thức nào tôi thay thế cụ Trần văn Hương để thành lập nội các để thương thuyết với phía bên kia?”

– “Thưa Đại tướng, cụ Trần văn Hương hôm qua vừa thảo luận với chúng tôi là sẽ trao quyền chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa lại cho Đại tướng, nếu Đại tướng có một kế hoạch không để mất Sài Gòn.

Sự thực từ lúc ông Thiệu tuyên bố từ chức, ông Minh đã nhiều lần thúc hối chúng tôi tiến dẫn ông nắm chánh quyền ngay lúc ấy.

Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu này. Chúng tôi chưa nhận lời yêu cầu đó vì chưa tiếp xúc được với thành phần MTGPMN. Hơn nữa ông Minh ra lãnh đạo guồng máy quốc gia không mang điều mà thế giới mong đợi sau khi Hoa Kỳ rút đi. Khi chúng tôi giới thiệu tướng Minh sẽ là nhân vật cho ván bài trung lập của Pháp tại Việt Nam thì cụ Trần văn Hương sửng sốt và tỏ vẻ phiền trách: “Nước Pháp luôn luôn bẻ nho trái mùa! Tưởng chọn ai chớ chọn Dương văn Minh, nó là học trò tôi, tôi biết nó quá mà. Nó không phải là hạng người dùng trong lúc dầu sôi lửa bỏng… Tôi sẽ trao quyền lại cho nó nhưng nó phải hứa là đừng để Sài Gòn thua cộng sản.” Có sự hiện diện của ông Trần chánh Thành là người rất am tường thực chất cộng sản, chúng tôi giải thích với cụ là Bắc Việt rất sợ MTGPMN đoạt phần chiến thắng, công khai ra mặt nắm chánh quyền. Chúng ta nên nắm ngay nhược điểm của họ mà xoay chuyển tình thế. Nếu để một nhân vật diều hâu lãnh đạo, Bắc Việt sẽ viện cớ Việt Nam Cộng Hòa không muốn hòa bình rồi thúc quân đánh mạnh trong lúc quân đội chưa kịp vãn hồi tư thế phản công. Tạm thời dùng công thức hòa hoãn thôi.

Cụ Trần văn Hương thông cảm kèm theo lời thở dài tỏ ra mất tin tưởng. Kế hoạch của chúng tôi vô tình đã đè bẹp tin thần chống cộng sắt đá của cụ. Theo cụ thì giải pháp hữu hiệu là bỏ ngỏ Sài Gòn, tổng động viên những vùng đất còn lại để tiếp tục đánh cộng sản. Chọn giải pháp này sẽ đổ máu thêm, nhưng chiến tranh nào mà không đổ máu, ít nhất Việt Nam Cộng Hòa không thua một cách mất mặt.

Mười năm sau tôi thấy kế hoạch của cụ Trần văn Hương đúng. Nếu lúc bấy giờ các nhà lãnh đạo quân sự Miền Nam đừng bỏ chạy quá sớm, yểm trợ cụ, thì có thể gở gạc được thể diện người Quốc gia Miền Nam. Tôi kính mến cụ Trần văn Hương, người Việt Nam nhận xét cụ bất tài, già nua lẩm cẫm, song chúng tôi thấy cụ là một người Việt Nam trung tín, sống chết cho lý tưởng, can đãm trước mọi tình huống. Năm 1976, nghe cụ bị bệnh nặng, thiếu thốn phương tiện chữa trị, chúng tôi yêu cầu Tổng lảnh sự Pháp ở Sài Gòn vận động với nhà cầm quyền HàNội cho cụ sang Pháp chữa bệnh. HàNội còn cần Pháp làm giao điểm tuyên truyền chủ nghĩa xã hội, sẽ không làm khó dễ trong việc cấp giấy xuất cảnh, nhưng cụ từ chối, quyết định ở lại chết tại Việt Nam. Chúng tôi vẫn nhớ lời cụ nói năm 1975: “Ông Đại Sứ à, tui đâu có ngán Việt Cộng, nó muốn đánh tui đánh tới cùng. Tui chỉ sợ mất nước, sống lưu đày ở xứ người ta. Nếu trời hại nước tui mất, tui xin thề ở lại đây và mất theo nước mình.” Cụ Trần văn Hương đã giữ lời hứa.

Đại tướng Dương văn Minh ra về, chúng tôi hẹn gặp lại nhau. Trong lúc này, về phía Việt Nam Cộng Hòa, chúng tôi không quên nhắc nhở đại tướng Dương văn Minh gấp rút tổ chức lại quân đội, liên lạc thường xuyên với tướng Nguyễn khoa Nam, khuyến khích vị tướng này giữ vững các vị trí phòng thủ để còn một mảnh đất làm địa bàn ăn nói khi thương thuyết với phía bên kia. Ngay lúc đó tôi biết ông Dương văn Minh cách đây hai ngày đã liên lạc với người em ruột là thiếu tướng Dương văn Nhật, nhờ môi giới để nói chuyện thẳng với Bắc Việt. Vì hấp tấp, nông cạn, ông tưởng em ông có đủ tư cách đại diện cộng sản ngưng bắn tại Miền Nam. Từ chỗ móc nối sai lệch, tình thế đã xỏ mũi ông đến chỗ phá nát bấy hết kế hoạch hòa bình Việt Nam.

(GHI CHÚ của dịch giả DHN: Dương văn Nhật không phải là một thiếu tướng mà chỉ là một thiếu tá thường trực thuộc MTGPMN nên không phải là một nhân vật quan trọng. Cộng sản đã cho về liên lạc thường xuyên với Dương văn Minh trước đó như là một liên lạc viên xoàng để săn tin mà thôi, và đã được lệnh kín đáo nằm luôn tại nhà Dương văn Minh từ khi chúng tiến chiếm tỉnh Banméthuột. Có lẽ ông Dương văn Minh muốn đưa em ông lên hàng tướng vì lý do thể diện chăng? Sau 30/4/75 mới là trung tá).

LÊ ĐỨC THỌ THÓA MẠ TÔI:

Chuông điện thoại reo. Đầu dây bên kia tự giới thiệu:

– “Chào ông Đại Sứ, tôi là B trưởng B2 đây.”

Tôi chào lại và rất ngạc nhiên không biết B trưởng B2 là nhân vật nào. Thái độ thiếu lịch sự xã giao qua lời giới thiệu tên họ chức phận bằng bí danh của đầu dây bên kia chứng tỏ họ coi thường chúng tôi. Tôi gằn mạnh từng tiếng:

– “Nếu đầu dây bên kia muốn trao đổi câu chuyện với tôi thì nên tỏ ra lịch sự một chút. Khi tiếp xúc với một nhà ngoại giao thì dù thù hay bạn cũng vậy. Thưa ông B trưởng B2, chắc ông thừa hiểu ông đang nói chuyện với Đại sứ nước Pháp, và bắt buộc tôi phải cúp nếu ông không nói tên họ, chức phận. Nguyên tắc của ngành ngoại giao đối lập với ngành gián điệp là không tiếp xúc với hạng người bí mật.”

B2 xin lỗi tôi liền khi đó, bảo rằng ông ta sợ CIA phát hiện sự có mặt của ông ở Miền Nam trong lúc hoàn cảnh chưa cho phép ông xuất đầu lộ diện. Ông cũng rất phiền khi bị ép buộc nói tên họ:

– “Thưa ông Đại sứ, tôi là Lê đức Thọ, Tổng tư lệnh chiến dịch Hồ chí Minh.”

Thì ra là Lê đức Thọ, con người khuynh đão trong các cuộc hòa đàm Paris. Tiểu sử Thọ từ năm 1937 chúng tôi có đầy đủ trong tay, duy tôi chưa gặp mặt nên không nhận được giọng nói qua điện thoại. Sau Tết Mậu Thân, Phòng nhì Pháp đã có đủ tài liệu để biết Lê đức Thọ là Tổng chỉ huy bộ máy chiến tranh tại Miền Nam. Y từ Nga trở về hồi tháng giêng 1975, và đi thẳng vào Nam trực tiếp chỉ huy tổng tấn công Sài Gòn. Mà Phòng nhì biết thì CIA cũng biết.

Tôi nói:

– “Chào ông Tổng tư lệnh, qua vai trò trung gian và với thiện chí lớn lao nhất, nước Pháp hết lòng đứng ra hòa giải các phe tranh chấp để sớm đạt được một nền hòa bình tại Việt Nam. Ông Tổng tư lệnh có cần gởi đến chúng tôi những quyết định gì từ phía Bắc Việt nhằm tức khắc giải quyết chiến tranh không? Chúng tôi sẽ chào mừng quyết định của quí vị.’

Thấy mình là kẻ chiến thắng trong canh bạc về sáng, Lê đức Thọ tố xả láng, không cần che đậy bề trái của sự thật nữa:

– “Quyết định của đảng cộng sản chúng tôi là đánh gục Mỹ, thống nhất hai miền Nam Bắc, xây dựng nước Việt Nam theo con đường Mác xít Lê nin nít”.

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, đó là mục đích. Còn quyết định chấm dứt cảnh cốt nhục tương tàn của người Việt, chưa thấy đãng cộng sản Việt Nam nói tới?”

Lê đức Thọ hùng hồn giảng thuyết (chỗ này ông Mérillon không cho biết Lê đức Thọ nói bằng tiếng gì, vì y nói tiếng Pháp còn kém lắm):

– “Thưa ông Đại sứ, tôi xin nói về chính danh và ý nghĩa cuộc chiến đấu của chúng tôi. Sau khi đánh bại bọn đế quốc Pháp, đãng và nhân dân chúng tôi tiếp tục sự nghiệp đánh bọn ngoại xăm đế quốc Mỹ. Cuộc chiến đấu này từ lâu đã được nhân dân thống nhất thành một phong trào chống Mỹ. Từ ngữ “cốt nhục tương tàn” tôi bảo đãm với ông đại sứ là do bọn tay sai ngụy quyền Sài Gòn khơi lên để kêu gọi lòng thương hại của chúng tôi, chớ không phải lời oán than từ phía nhân dân. Xác nhận như vậy để ông đại sứ thấy rằng chúng tôi chưa hề chính thức hóa một nghị trình hòa giải nào với bất cứ đãng phái nào tay sai trong Miền Nam với quyết định của chúng tôi là để thắng chớ không phải để hòa giải.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, trường hợp này thì vị trí của MTGPMN ở đâu?”

– “Nó sẽ đứng ở chỗ giải tán khi: một là Đại sứ Mỹ bị bắt, hai là cuốn cờ bỏ chạy trước khi người cộng sản yêu nước tiếp thu Sài Gòn”.

– “Nếu đúng như thế, MTGPMN không phải là một thực thể riêng biệt, tách rời quyền lực HàNội đứng lên chống Mỹ từ 15 năm qua, và các ông đã lừa gạt dư luận quốc tế.”

– “Thưa ông Đại sứ, dư luận quốc tế hả? Mà dư luận nào mới được chớ? Nếu dư luận quốc tế thuộc khối tư bản thì không xứng đáng để phẩm bình. Đối với nước Pháp chúng tôi xem là bạn. Thưa ông Đại sứ, chúng ta sẽ bang giao trong tình hữu nghị giữa hai nước.”

– “Trung Quốc đang yêu cầu chúng tôi dàn xếp một cuộc đình chiến tại Việt Nam, ông nghĩ sao?

– “Trung Quốc thuộc bọn xét lại, đã biến thể và phản bội nghĩa vụ giải phóng nhân loại qua chủ nghĩa Lênin. Mọi việc nhúng tay vào của Trung Quốc chúng tôi xem đó là hành động thù nghịch. Riêng ông Đại sứ, ngay bây giờ xin ông nhận lời cảnh cáo của chúng tôi. Nếu ông Đại sứ còn tiếp tay với Trung Quốc và các thế lực ngoại bang khác ngăn cản đà chiến thắng chống đế quốc Mỹ ở Miền Nam, thì 24 giờ sau khi tôi đặt chân vào Sài Gòn tôi sẽ trục xuất ông Đại sứ ra khỏi Việt Nam.”

– “Làm như vậy ông không ngại gây sự hiềm khích giữa hai nước sao?”

– “Không, Chánh trị và quyền lợi không chú ý tới những vấn đề nhỏ nhặt giữa hai nước. Pháp còn quyền lợi tại Việt Nam. Pháp đừng nên gây hấn với Việt Nam bằng giải pháp trung lập này nọ, cũng đừng nên chen vào nội bộ của chúng tôi.”

– “Thưa ông Tổng tư lệnh, ông nên nhớ Pháp ngày hôm nay không phải là Pháp đô hộ ngày hôm qua. Pháp chẳng có quyền lợi gì nếu phải bang giao với một nước Việt Nam cộng sản. Nếu ông cảnh cáo chúng tôi, bù lại xin ông và đãng cộng sản Việt Nam tiếp nhận lời cảnh cáo của chúng tôi là số tiền 300 triệu hằng năm viện trợ Miền Nam và 200 triệu viện trợ nhân đạo cho Bắc Việt sẽ không được chuyển giao nếu giải pháp trung lập bị bác bỏ một cách vô nhân đạo.”

Lê đức Thọ có vẻ căm tức, nhưng lần này vì lịch sự, y nói vài lời cáo lỗi rồi cúp điện thoại, đúng với ý muốn của tôi.

Thật ra chúng tôi cũng vẫn biết cuộc chiến tranh này do tập đoàn HàNội quản lý từ đầu đến cuối, nhưng không trắc nghiệm được phản ứng ngang tàng của họ mà đại biểu chánh thức là Lê đức Thọ, nhất định nuốt Miền Nam bằng lá bài quân sự.

Sự kiện này đã khuyến khích tôi tìm kiếm những phương pháp cấp thời chỉnh đốn lại quân đội Việt Nam Cộng Hòa giữ vững phòng tuyến để kéo dài thời gian mặc cả.

Tôi rất ghét người cộng sản thiếu quân tử (đó là cái chắc!) khi họ thắng trận. Lê đức Thọ là một điển hình. Năm 1964 Thọ đã từng xin chúng tôi giúp y nói chuyện trực tiếp với Hoa Kỳ, chúng tôi không hề từ chối. Bất cứ điều gì cần đến, nếu thỏa mãn được thì chúng tôi cho ngay. Họ có mang ơn nước Pháp chớ nước Pháp chưa hề chịu ơn họ. Đến khi nước Pháp muốn Việt Nam có hòa bình trên nền tảng trung lập có thành phần quốc gia tham dự, HàNội đã bạc ơn từ chối.

Khi xe tăng Nga vượt hàng rào Dinh Độc Lập lúc 11 giờ sáng thì tới 3 giờ chiều Lê đức Thọ ngồi trên xe Falcon đến tòa Đại Sứ Pháp xấc xược đi thẳng vô phòng tôi nói:

– “Mérillon, tôi đến đây tống cổ ông rời khỏi Sài Gòn trước 9 giờ sáng mai“.

Tôi gật đầu. Sáng hôm sau ngày 1-5-75, Thọ còn hạ nhục tôi bằng cách cho công an xét va li và bắt tôi phải ra HàNội trước khi về Pháp. Tôi phản đối. Khi phi cơ cất cánh, tôi ra lệnh cho phi công bay luôn sang Bangkok thay vì ra HàNội.

Hành động sỉ nhục một Đại sứ, Lê đức Thọ và công an Việt Nam phải trả một giá rất đắt. Tổng số ngân quỹ viện trợ nhân đạo hằng năm nước Pháp quyết định để dành mua sinh mạng người Miền Nam Việt Nam không hề cho HàNội một cắt nào suốt 10 năm sau.

Ngày 27 tháng 4/1975

Chiều ngày 27/4/75, tôi nhận được tin rất phấn khởi: Tướng Trần văn Trà bắn tin nhờ tôi cấp tốc thành lập chánh phủ trung lập và ông gởi gấp hai nhân vật thân tín của ông vào chánh phủ, là bà Nguyễn thị Bình và ông Đinh bá Thi (ông này bị HàNội giết vài năm sau bằng tai nạn xe hơi tại vùng Rừng Lá Phan Thiết, sau khi bị Hoa Kỳ trục xuất về tội mua tài liệu tình báo kỹ thuật cho Liên Xô – Lời dịch giả). Tùy viên quân sự của chúng tôi cũng xác nhận là 2 sư đoàn tập kết của Trần văn Trà sẽ vào tiếp thu Sài Gòn, phỏng tay trên của đạo quân Văn tiến Dũng.

CÁC TƯỚNG LÃNH BỊ NHỐT TẠI BỘ TỔNG THAM MƯU:

Chứng cớ mà Trần văn Trà lấn quyền HàNội trong mưu đồ Miền Nam tự trị được thể hiện ngay sau ngày 30/4/75. Trần văn Trà chạy nước rút, tự ý thành lập Ủy Ban Quân Quản Sài Gòn Gia Định hầu làm bàn đạp cho MTGPMN nhảy lên nắm chánh quyền trước khi Bắc Việt an bài chế độ cộng sản. Chung một mục đích: Bắc Việt đoạt chánh quyền để bành trướng chủ nghĩa cộng sản, còn MTGPMN cướp chánh quyền với thâm ý tạo sự nghiệp danh vọng cá nhân. HàNội có Nga Sô làm điểm tựa, có toan tính theo từng sách lược, còn MT là những chánh trị gia thời cuộc có tính cách giai đoạn nên cuối cùng bị thua trắng tay, bị cưỡng bức phải giải tán, cán bộ bị hạ từng công tác (hay thanh trừng) trong thầm lặng.

Dựa theo quan niệm “còn nước còn tát“, chúng tôi không bỏ lở một cơ hội nào có thể duy trì nhịp thở của Việt Nam Cộng Hòa đang hấp hối vào giờ cuối của cuộc chiến. Lúc 9 giờ tối ngày 27/4/75, chúng tôi họp với các tướng lãnh De Séguins, Pazzi, Bigeard, Langlais, Vanuxem, Gilles, Pierre Bodet. Các tướng này đến Sài Gòn ngày 16/4 trong hảo ý phối hợp với các tướng lãnh Việt Nam từng được Pháp đào tạo trước kia để phản công lại Bắc Việt. Họ đến với tư cách cá nhân.

Qua lời xác nhận của tướng Gilles, chỉ huy quân đoàn nhảy dù Pháp trong trận Điện biên Phủ, thì thiếu tuớng Phạm văn Phú không phải thuộc hàng tướng lãnh bỏ lính khi thua trận và chạy dễ dàng như vậy. Tướng Gilles yêu cầu tôi can thiệp với chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa trả tự do cho tướng Phú lúc đó đang bị ông Thiệu nhốt chung với các tướng lãnh khác trong Bộ Tổng Tham Mưu. Ông Thiệu đã làm một việc quá nguy hiểm. Đang lúc quân đội cần tướng mà tướng lãnh bị tống giam, như vậy là có ác ý đập tan nát Bộ Tham Mưu Hành Quân của Việt Nam Cộng Hòa.

Ngày 29/4, tướng Phú nằm trong bệnh viện Grall. Tôi điện thoại trấn an ông, yêu cầu ông đừng bỏ đi sẽ tạo thêm tình trạng hỗn loạn hoang mang cho binh sĩ. Ông hứa sẽ không bỏ chạy, nếu không phản công giữ được Sài Gòn thì ông thề bỏ xác tại bệnh viện này. Tướng Phú đã giữ lời hứa. Ông là một tướng lãnh mà chúng tôi hết sức tin tưởng trong ván bài trung lập sau Dương văn Minh. Tối 29/4, được tin Dương văn Minh sẽ đầu hàng cộng sản vào sáng mai, ông đã dùng độc dược tự sát.

Các tướng lãnh Pháp cũng đề nghị tôi thực hiện kế hoạch bỏ trống Sài Gòn qua 2 giai đoạn:

– Giai đoạn 1.- Rút phân nữa quân gồm lực lượng tự vệ, an ninh, cảnh sát, những binh đoàn nhảy dù, thủy quân lục chiến, biệt động quân, và các binh chủng thuộc bộ binh, lén di chuyển lúc nửa đêm, sau lưng cộng sản đi lên các tỉnh Bình Dương, Tây Ninh, Phước Long, với nhiệm vụ tái phối trí lực lượng và bồi dưỡng tinh thần binh sĩ.

Phân nữa kia, gồm Hải quân và Không quân di chuyển về miền Tây để dùng cho các trận chiến sông ngòi, cắt đường tiến của cộng sản tràn xuống Quân khu 4. Mời hai tướng Dương văn Minh và Trần văn Trà công bố chánh phủ trung lập. Sài Gòn là vùng phi quân sự nơi chỉ nói chuyện, thương thuyết bằng giải pháp chánh trị. Sài Gòn không có quân, cộng sản không có cớ đễ tàn phá.

– Giai đoạn 2.- Phản công trên cơ sở du kích, chiếm lại lần hồi đất đai đã mất và chờ quân viện mới. Thay thế chánh phủ trung lập bằng một chánh phủ lưu vong Việt Nam Cộng Hòa. Vai trò Dương văn Minh đến đây coi như chấm dứt. Các tướng Phạm văn Phú, Nguyễn khoa Nam, Lê nguyên Vỹ, Ngô quang Trưởng được xem là thành phần chủ lực cho chiến trường tương lai.

Các tướng lãnh hồi hưu Pháp quả quyết sẽ tìm được nguồn quân viện chẳng mấy khó khăn, qua sự đóng góp của các cựu quân nhân Anh, Pháp, Hoa Kỳ, Do Thái… nếu có lời kêu gọi của Hiệp Hội Cựu Quân Nhân Thế Giới Tự Do.

Sáng ngày 28/4/75, tôi chuyển hết kế hoạch này cho Dương văn Minh và định tối 28 thì sẽ hoàn tất kế hoạch.

KẾ HOẠCH CHƯA ĐƯỢC THỰC HIỆN?

Đại tá tùy viên quân sự của chúng tôi trình bày tỉ mỉ về quân số của đôi bên.

– Quân cộng sản Bắc Việt hiện đang bao vây Sài Gòn gồm các sư đoàn 304, 308, 312, 320, 322, 325 và 2 sư đoàn MTGPMN, 300 thiết giáp, 600 đại bác đủ loại. Tổng cộng quân số khoảng 70.000, tính cả lực lượng trừ bị. Đúng như lời Trung Quốc thông báo, HàNội tung hết quân, bỏ ngỏ HàNội. Giá lúc ấy Trung Quốc chỉ cần cho một vài sư đoàn diễn binh trên biên giới Hoa Việt thì lập tức HàNội sẽ tự ý ngưng chiến và tán thành chánh phủ trung lập rất mau lẹ. Rất tiếc.

– Quân số Biệt khu Thủ đô có khả năng tác chiến, có vũ khí trong tay ước được 100.000. Căn cứ vào vũ khí đạn dược, hỏa lực nặng, tiếp liệu, và tinh thần chấp nhận chiến đấu thì Sài Gòn có thể phòng thủ, cầm cự được chừng 7 tháng.

Trong 7 tháng đó biết đâu tình hình lại chẳng thay đổi theo chiều hướng khác? Chúng tôi đưa ra sự kiện này nhằm bác bỏ lập luận nói rằng cộng sản Việt Nam sẽ thiêu hủy Sài Gòn với số quân gấp 5 lần.

Kinh nghiệm bọn Khmer Đỏ chiếm Phnom Penh ngày 17 tháng 4/75, đã xảy ra tình trạng chém giết hỗn loạn nguy hiểm đến sinh mạng Pháp kiều và các phóng viên ngoại quốc, cần Tòa Đại sứ Pháp che chở. Vì vậy ngày 19/4/75 tôi đã yêu cầu Bộ Ngoại Giao Pháp tăng phái cho chúng tôi một trung đội thủy quân lục chiến từ Nouvelle Calédonia đến Sài Gòn để bảo vệ sứ quán. Lại yêu cầu các vị Lãnh Sự ở Đà Nẵng, Cần Thơ, Đà Lạt, Huế gấp rút kiểm tra lại tổng số Pháp kiều, và phải tiếp tục ở lại nhiệm sở để trấn an dư luận. Khi đó có 722 người là người Pháp chính gốc, 9500 người có quốc tịch Pháp, 11.000 trẻ em lai Pháp sống tại các cơ quan từ thiện. Tất cả 21.000 người này sẽ được đưa về Pháp định cư. Tuy nhiên để cứu thêm mạng người, chúng tôi sẽ gởi cho HàNội danh sách đăng ký cho hồi hương thêm những người hồi tịch Pháp, cựu quân nhân tham dự bên cạnh quân đội Pháp trong hai thế chiến, công chức thời Pháp và nhân viên làm việc trong các cơ sở tư nhân Pháp trên lãnh thổ Việt Nam. Mỗi người hội đủ điều kiện như vừa quy định có thể kéo thêm gia đình anh em ruột thịt, con cháu dâu rể bên ngoại cũng như bên nội. Kết quả chúng tôi đem về Pháp tất cả 80.000 người. Để mua thêm người cộng tác với Pháp, mỗi năm chánh phủ Pháp phải trả cho cộng sản máy cày, dược phẩm, các bộ phận bảo trì công ty nhà đèn, thủy cục, nông phẩm v.v…

Chiều 28/4, tướng Pazzi xuống Cần Thơ gặp tướng Nguyễn khoa Nam. Sau đó khi trở về tướng Pazzi cho biết miền Tây rất khả quan, chỉ có quốc lộ 4 tạm thời bị cắt đứt. Tướng Nguyễn khoa Nam đã hai lần yêu cầu ông Dương văn Minh cho phép ông đem quân giải tỏa Quốc lộ 4, phản công, nhưng Dương văn Minh dặn đi dặn lại mấy lần là đừng phản công mạnh, tạm thời ở tư thế chờ, để ông tìm giải pháp chánh trị tại Sài Gòn. Tướng Nam than thở với tướng Pazzi: “Nếu tôi đánh mạnh là bất tuân thượng lệnh, nếu tôi đánh nhẹ thì tinh thần binh sĩ mất hết. Đến giờ này mà bức màng chánh trị còn bịt mắt quân đội. Ông nói lại với tướng Minh giùm là nước tràn bờ mà không cho đắp đê ngăn lại! Ông làm chứng giùm tôi: Quân đoàn 4 chúng tôi không thua. Chính trị Sài Gòn đã trói tay chúng tôi bắt buộc chúng tôi phải thua.”

Sáng ngày 30/4/75, sau khi nghe Dương văn Minh đọc bản “trao nước “, tướng Nguyễn khoa Nam cùng nhiều tướng lãnh liêm sĩ khác đã chọn câu nói của Voltaire để giữ danh dự của người làm tướng; “Còn giữ được danh dự là chưa mất mát nhiều.”

Trời đã vào đêm rồi. Đại bác, súng liên thanh nổ gần hơn. Làn sóng người ngơ ngác tìm đường chạy trốn cộng sản nghẹt cứng cả thành phố. Ông Đại tướng Dương văn Minh đâu? Tướng Trần văn Trà đâu? Tại sao những người này không xuất hiện để thành lập chánh phủ liên hiệp? Tôi tự hỏi như thế.

Tôi lo lắng, gọi điện thoại về nhà ông Dương văn Minh. Người trả lời là trung tá Đẩu, chánh văn phòng: “Dạ thưa ông Đại sứ, Đại tướng chúng tôi hiện đi lên Xuân Lộc thương thuyết với người phía bên kia.”

Bỗng nhiên đầu óc tôi căng cứng từng mạch máu, tay chân bủn rủn. Ông Minh lên Xuân Lộc có nghĩa là gặp trực tiếp thượng tướng Lê đức Anh, phụ tá Văn tiến Dũng, nơi đây đang có mặt Lê đức Thọ. Tức là ông Đại tướng đi thẳng với phe Bắc Việt. Ông Minh đi trên tư thế nào? Quân không có, quan cũng không, chánh phủ chưa có gì hết. Như vậy chỉ là đi đầu hàng Bắc Việt. Công việc này không cần đến một Đại tướng! Trao cho một em bé đánh giầy 10 tuổi cũng làm được.

Cái hướng mà ông Minh cần đi là hướng Củ Chi, nơi thượng tướng Trần văn Trà đang chờ… Chờ đến kiếp sau!

Những gì mà ông Minh hứa với chúng tôi đã như nước đổ lá khoai. Bao nhiêu kế hoạch, bao nhiêu công trình vận động, phút chốc ông Minh làm tiêu tan hết. Lại còn dối gạt các tướng lãnh yêu nước khác, gây ra sự chậm trễ phản công giờ chót, bởi đa số đều tưởng ông Đại tướng có phép lạ, sáng chế được công thức ngưng bắn tại chỗ để phe quốc gia không bị thua trong nhục nhã.

Thâm ý của ông Minh là muốn đầu hàng, sau đó ngồi ăn, hưởng cho đến già.

(Lời dịch giả D.H.N.: Thật đúng như ông Mérillon đã nói, từ ngày 30/4/1975 cho đến ngày nay 1996, Dinh Hoa Lan của ông Minh không mất một chiếc đũa, không mất một cành hoa, một bụi cỏ nào.

Khi ông rời Việt Nam để đi định cư ở Pháp với toàn bộ gia đình, ông được tự do mang theo bất cứ thứ gì ông muốn, từ những món đồ cổ đến những kỹ vật, thượng vàng hạ cám… cộng sản phải dùng mấy xe vận tải đưa các thùng tài sản của gia đình ông xuống bến tàu cho ông. Dinh Hoa Lan ở đường Testard, bất động sản riêng của ông được ông giao cho trung tá Khử giữ gìn và quản lý, đến giờ này không một tên cộng sản nào dám đụng đến. Trung tá Khử hiện là chủ một vườn trồng lan tại Thủ Đức, cuối thập niên 80 là tổng thơ ký của Hội Hoa Lan Việt Nam).

Ngày 29/4/1975, 8:00 giờ tối, sau khi nhận lãnh chức Tổng Thống do cụ Trần văn Hương bàn giao lại, ông Minh điện thoại xin lỗi chúng tôi, bày tỏ sự hối tiếc đã không hợp tác được với chánh phủ Pháp. Cách duy nhất mà ông phải chọn là đầu hàng Bắc Việt mới mong cứu sống được thủ đô Sài Gòn.

Tôi lạnh lùng trả lời một câu duy nhất:

– “Thưa Đại tướng, chúng tôi cũng rất lấy làm tiếc. Giờ cuối cùng của chiến tranh Việt Nam cần có một người lãnh đạo cương quyết, dám dấn thân, nhưng chúng tôi lại đi chọn lầm một bại tướng.”

Tôi cúp điện thoại ngay, và từ 10 năm qua tôi không hề và cũng không muốn liên lạc với ông ta nữa.

NGÀY 1 THÁNG 5:

Lúc phi cơ xoay qua một độ nghiêng, lấy hướng qua Bangkok, tôi nhìn xuống Sài Gòn lần chót. Tự nhiên trong lòng tôi dâng lên một niềm ngậm ngùi thương tiếc tất cả những gì đang xảy ra dưới đất. Tôi như người bại trận, hay nói cách khác, tôi xin được làm bạn với người bại trận, một người bạn đã không chia xẽ mà còn bắt buộc Việt Nam Cộng Hòa phải gánh chịu hết tất cả… trong những ngày sắp tới.

Việt Nam và tôi có rất nhiều kỹ niệm, có quá nhiều quan hệ mật thiết suốt đời không phai lạt. Sống ở Việt Nam lâu năm, tôi cảm thấy thương xứ sở này. Tội nghiệp cho họ, họ có thừa khả năng dựng nước, nhưng cái quyền làm chủ quê hương đã bị các cường quốc chuyền tay nhau định đoạt. Tôi xin lỗi người Việt Nam. Tôi đã làm hết sức mình nhưng không cứu vãn được nền hòa bình cho dân tộc Việt. Vĩnh biệt Sài Gòn, Sài Gòn vẫn hồn nhiên với những mạch sống dạt dào ơn nghĩa, một khi đã chọn bạn hữu thâm giao.

Năm 1979, Đại sứ Võ văn Sung có thư mời tôi trở lại thăm Sài Gòn. Tôi từ chối với lý do không quen với cái tên TP Hồ chí Minh. Sài Gòn đã mất, tôi trở lại đó thăm ai? Ở đời có khéo lắm cũng chỉ gạt được người ta lần thứ hai, làm sao lừa dối được người ta lần thứ ba?

Người cộng sản giả bộ ngây thơ (ở một khía cạnh nào đó) nên tưởng nhân loại cũng đều ngây thơ như họ. Liên tục nói dối hàng bao nhiêu năm, tưởng như vậy quần chúng sẽ nhập tâm tin là thật. Họ lầm. Nói láo để tuyên truyền chỉ có lợi trong chốc lát, nhưng về lâu về dài thì chân lý của loài người sẽ đè bẹp họ. Ngày xưa Liên Xô đã xiết chặt sai khiến họ, dùng Việt Nam làm phương tiện đóng góp cho Nga. Họ có muốn thoát ly, có muốn nhờ Tây Phương tháo gỡ cho họ cũng không được nữa, vì đã từng phạm lỗi lớn là đã lường gạt Tây Phương…

Mỗi năm, vợ chồng chúng tôi đều đi xuống Lourdes để kính lễ Đức Mẹ Lộ Đức. Luôn luôn tôi nhắc nhở nhà tôi, chúng tôi cùng cầu nguyện cho người Việt Nam đạt được nền hòa bình theo sở nguyện của họ. Tôi tin rằng Đức Chúa Trời và Đức Mẹ không bỏ rơi dân tộc Việt Nam.

Jean-Marie MÉRILLON

Cựu Đại Sứ Pháp tại Sài Gòn

———————–

30/4/1975, Dương Văn Minh và tôi

 Bản thân tôi đã từng gặp gỡ tướng Dương Văn Minh vào nhiều thời điểm và tình huống lịch sử khác nhau trong những năm 50-70 của thế kỷ trước. Thời học sinh năm 1955, lần đầu tôi nhìn thấy ông như người hùng diệt Bình Xuyên. Năm 1963 làm Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn, tôi có dịp tiếp cận nhiều lần với Trung tướng Dương Văn Minh, Chủ tịch “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” lật đổ chế độ Ngô Đình Diệm. Năm 1971 tôi ra tranh cử Quốc hội Việt Nam Cộng hòa (VNCH) dưới chiêu bài hòa bình hòa giải dân tộc trong nhóm Dương Văn Minh. Vào ngày lịch sử  30/4/1975, chính tôi là người giới thiệu lời đầu hàng của Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống cuối cùng của chế độ VNCH trên đài phát thanh Sài Gòn.

  Lần đầu tiên nhìn thấy tướng Dương Văn Minh rất trẻ ở tuổi chưa tới 40 là vào năm 1955 khi tôi còn là một học sinh trường Taberd Sài Gòn. Vị Đại tá mới vinh thăng Thiếu tướng Dương Văn Minh oai phong dẫn đầu đoàn quân chiến thắng quân Bình Xuyên của Bảy Viễn từ Rừng Sát quay về, trong cuộc duyệt binh lớn trên đường Catinat (nay là Đồng Khởi) vào những ngày đầu chế độ Ngô Đình Diệm ở miền Nam.  

 Bẳng đi một thời gian không nghe nhắc đến tên ông. Tên tuổi Dương Văn Minh bỗng lại nổi lên như cồn vào năm 1963 khi ông lãnh đạo “Hội đồng Quân nhân Cách mạng” lật đổ chế độ độc tài Ngô Đình Diệm. Báo chí phương Tây thường gọi ông là “Big Minh” (Minh Lớn). Tuy vóc dáng dềnh dàng rất nhà binh, ông là một Phật tử có tâm, ăn nói điềm đạm, ôn tồn và chất phát kiểu một “bon papa” (người cha hiền lành dễ chịu).

 Ông sinh năm 1916 tại Mỹ Tho, đang là sinh viên trường thuốc, thì bị gọi thi hành nghĩa vụ quân sự vào hàng sĩ quan trừ bị quân đội Pháp khi nổ ra Thế chiến II. Có lẽ ông không đồng chính kiến với người em đi theo Việt Minh chống Pháp vì quan niệm rằng Việt Nam có thể được trao trả độc lập nằm trong khối Liên hiệp Pháp. Vào năm 1954, Thủ tướng Ngô Đình Diệm sử dụng ông để diệt các nhóm chống đối vũ trang Bình Xuyên và giáo phái ly khai ở miền Tây Nam Bộ.

 E ngại ảnh hưởng của ông quá lớn, Ngô Đình Diệm không dám giao ông chức vụ gì quan trọng, chỉ cử ông sang Mỹ học một khóa tham mưu cao cấp rồi phong quân hàm trung tướng, giữ một chức vụ hữu danh vô thực “Cố vấn quân sự của Tổng thống”, ngồi chơi xơi nước! 

 Tôi được tập thể sinh viên Sài Gòn đề cử làm chủ tịch đầu tiên ngay sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ. Chính Hội đồng Quân nhân Cách mạng lúc đó đã ký giấy giao tòa nhà số 4 đường Duy Tân (nay là Nhà Văn hóa Thanh niên đường Phạm Ngọc Thạch), nguyên là trụ sở Thanh niên Cộng hòa của Ngô Đình Nhu cho sinh viên làm nơi hoạt động và tôi là người đích thân đứng ra nhận lãnh. 

 Tuy vậy, trong nội bộ tướng lãnh lại sớm lục đục nhau. Chỉ ba tháng sau ngày lật đổ Ngô Đình Diệm, vào đầu năm 1964, Trung tướng Nguyễn Khánh từ Quân đoàn II ở Tây Nguyên bay về hợp cùng nhóm Đại Việt thân Mỹ làm cuộc “Chỉnh lý” (đảo chính êm thắm) bắt giữ hầu hết những người chung quanh tướng Minh. Họ tố cáo nhóm ông thân Pháp và âm mưu đưa miền Nam Việt Nam vào con đường trung lập do Tổng thống De Gaulle chủ xướng, tuy họ vẫn phải giữ ông lại ngôi vị bù nhìn Chủ tịch Hội đồng Quân nhân (tương đương vai trò Quốc trường) do uy tín ông còn quá lớn trong nhân dân và quân đội 

 Tết năm đó, tôi đại diện sinh viên Sài Gòn dự buổi tiếp tân Tất niên tại dinh Gia Long của Quốc trưởng. Trung tướng Minh chỉ làm vì, quyền hành thực sự nằm trong tay tướng Nguyễn Khánh và nhóm tướng lãnh trẻ, người Mỹ gọi là “Junta”.

 Cuộc đảo chính của tướng Khánh mới xảy ra, nên cuộc vui cũng không trọn. Các tướng lãnh, chính khách, đại diện các đoàn thể nhân dân, tôn giáo đều có mặt. Lần đầu tiên tôi gặp mặt hầu hết các tướng lãnh VNCH. Tôi chỉ góp chuyện xã giao với tướng Minh và các nhân vật đang lên vào lúc đó là các tướng Nguyễn Văn Thiệu và Trần Thiện Khiêm. 

 Tôi còn nhớ Nguyễn Văn Thiệu mới được vinh thăng thiếu tướng và đảm trách chức vụ tham mưu trưởng Quân lực VNCH, được tướng Minh nhắc nhở, nửa đùa nửa thật:  “Hãy coi chừng! Việt Cộng hoạt động dữ lắm trong mấy ngày Tết!” Cuộc họp mặt cuối năm diễn ra khá hình thức và buồn tẻ.  Tôi đứng chụp hình chung với một số tướng lãnh và Tổng giám mục Công giáo Nguyễn Văn Bình rồi rời dinh Gia Long, trong lòng không vui. 

 Do công tác, sinh viên chúng tôi lại có dịp hội kiến Quốc trưởng Dương Văn Minh. Nhân phút nhàn đàm về viễn tượng chiến tranh và hòa bình, tướng Minh tâm tình: “…Bộ các em không muốn nước Việt Nam mình trung lập như Thụy Sĩ hay sao?” Có lẽ do những ý hướng hòa bình, trung lập kiểu đó mà tướng Minh từ năm 1964 đã sớm bị nhóm tướng Nguyễn Khánh cùng người Mỹ chủ trương leo thang chiến tranh đẩy ra khỏi chính trường miền Nam và bị lưu đày nhiều năm ở nước ngoài.  

 Vào thời đó, tôi không biết đích xác sự việc bên trong ra sao, chỉ nghe tin đồn là Dương Văn Nhựt, người em ruột tướng Minh theo Việt Minh tập kết ra Bắc nay quay vào Nam bắt liên lạc và tác động tướng Minh ngả về chủ trương trung lập hóa miền Nam để chấm dứt chiến tranh.   

 Con đường hòa giải dân tộc Phật giáo   

 Sau vụ chính biến Phật giáo Miền Trung đấu tranh chống “Nội các chiến tranh” Nguyễn Cao Kỳ năm 1966, tôi bị bắt. Ra tù đầu năm 1968, tôi bị đưa thẳng vào quân trường đi lính. Nhờ được công tác tại Sài Gòn, tôi quan hệ với nhiều anh em tiến bộ tán thành lập trường hòa bình, hòa giải dân tộc trong số dân biểu đối lập chính quyền Nguyễn Văn Thiệu và nhóm trí thức tiến bộ tập hợp chung quanh tướng Minh vừa từ Bangkok quay về cuối năm 1968. Chúng tôi chủ yếu hoạt động trong tờ báo Tin Sáng do dân biểu đối lập Ngô Công Đức chủ biên.  

 Năm 1971, VNCH tổ chức bầu cử Quốc hội và tiếp theo là bầu cử Tổng thống. Người của Mặt trận Dân tộc Giải phóng đề nghị tôi ra tranh cử với lập trường hòa bình đứng giữa, chuẩn bị cho “Thành phần thứ ba”. Hội nghị Paris về vấn đề Việt Nam tuy chưa ngả ngũ nhưng người ta đang bàn luận đến việc lập chính phủ ba thành phần, trong đó có thành phần đứng giữa làm trung gian hòa giải trong chính phủ liên hiệp tương lai. Thật khó khăn nếu tự ra ứng cử đơn thương độc mã một mình. Tên tuổi của tôi tuy cũng có một thời được nhiều người biết đến, nhưng nay chắc không ai còn nhớ đến trong cái Sài Gòn rộng lớn và bận rộn làm ăn này. Dẫu có tự do bỏ phiếu thì tranh cử kiểu không tiền bạc, không thế lực nào hậu thuẩn như tôi chỉ là chuyện vô ích.  

Nguyễn Hữu Thái ra tranh cử Quốc hội Sài Gòn, 1971

 

Phải tìm hậu thuẩn nơi khối đông đảo quần chúng đô thị, lúc này không ai khác hơn là lực lượng Phật giáo, nhất là ở miền Trung. Tôi bàn bạc với người Mặt trận Giải phóng sẽ về Đà Nẵng quê tôi để tranh cử. Bấy giờ tôi có thuận lợi là vừa được sự ủng hộ của nhóm tướng Dương Văn Minh, người sẽ ra tranh cử Tổng thống với chiêu bài hòa bình lẫn sự hỗ trợ của Thượng tọa Thích Trí Quang. Nhà lãnh đạo Phật giáo uy tín nhất miền Nam lúc đó đang bị Thiệu-Kỳ cô lập ở Sài Gòn đã đích thân gửi thư yêu cầu vị sư đại diện tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng là Thích Minh Chiếu sắp tên tôi vào danh sách những người được Phật giáo ủng hộ công khai. Nhưng việc đó không thành, do lủng củng bên trong nội bộ lãnh đạo giáo hội. Phe chống Cộng như các Thương tọa Thiện Minh, Huyền Quang không chấp nhận tôi, nghi ngờ là người của Giải phóng, nên tôi đã thất cử. Tướng Minh vào giờ chót cũng rút lui ra khỏi cuộc tranh cử Tổng thống và chuẩn bị lực lượng cho một vận hội mới vào một thời điểm thích hợp hơn. 

 Tôi ngày càng gắn bó hơn với nhóm trí thức trẻ hoạt động chung quanh tướng Minh, đặc biệt với các dân biểu đối lập và tiến bộ như Ngô Công Đức, Hồ Ngọc Nhuận, Dương Văn Ba, Lý Quí Chung, Phan Xuân Huy, Nguyễn Văn Binh… Tôi trở thành một trong các cây bút chủ lực báo Điện Tín do nhóm Dương Văn Minh chủ trương, sau khi tờ Tin Sáng quyết liệt chống Nguyễn Văn Thiệu bị đóng cửa và nhiều dân biểu chủ trương hòa hợp hòa giải bị loại ra khỏi Quốc hội. 

 Thay người khác mà vác cờ trắng 

 Tôi lại bị chính quyền Sài Gòn bắt giam trước ngày ký kết Hiệp định Paris về hòa bình Việt Nam vào cuối năm 1972 do bị tố cáo là thuộc Thành phần thứ ba thân Cộng. Khi ra tù năm 1974, tình hình đã biến chuyển nhanh theo hướng chấm dứt chiến tranh. Chính quyền Sài Gòn ráo riết đàn áp đối lập và những ai kêu gọi hòa bình hòa giải dân tộc. Tôi phải trốn tránh, rút lui vào hoạt động bí mật.  

 Về tình hình trong tháng tư năm 1975 liên quan đến việc tướng Minh ra nhận chính quyền VNCH, sau này tôi đọc được trong tập hồi ức của Thượng tọa Trí Quang ghi rằng: “…Ấy thế mọi việc diễn ra có lúc đến chóng mặt. Cho đến mùa xuân 2519 (1975) thì một ngày mà có người ba lần đến vận động tôi đừng chống việc ông Dương Văn Minh đứng ra, “vì chính quyền của ông ấy sẽ có bảy phần mười là người tiến bộ ”. Tôi không nói lại gì cả, chỉ quan tâm lời thầy Trí Thủ nói, rằng chim cá còn mua mà phóng sinh, lẽ nào đồng bào mà không hy sinh cấp cứu. Rồi ông Dương Văn Minh gặp tôi, đưa ra hai mảnh giấy báo cáo mật cho thấy ngân hàng trống rỗng và quân sự nguy ngập, và nói ông không vụ lợi vì lợi không còn gì, không cầu danh vì danh đến quốc trưởng là cùng, ông chỉ không nỡ ngồi nhìn chết chóc. Tôi nói, nếu lòng ông như thế là ông làm như lời thầy Trí Thủ nói, và có nghĩa ông thay người khác mà vác cờ trắng !“ 

 Tôi đang trốn tránh trong nhà dân biểu Lý Quí Chung do Thượng tọa Trí Quang gửi gắm và biết anh là một trong những người thân cận nhất của tướng Dương Văn Minh vào thời điểm đó. Tôi chú ý thấy tướng Minh thường ghé nhà anh bàn bạc. Sau này, anh nói rằng sự thật thì từ giữa tháng 4/1975, nhóm Dương Văn Minh đã quyết tâm ra nắm chính quyền với mục tiêu tìm mọi cách chấm dứt cuộc chiến, nếu cần phải cầm cờ trắng đầu hàng. Anh cho rằng: “quyết định làm người cầm cờ đầu hàng cũng là một sứ mạng lịch sử”! Cụ thể là đã có đến ba phần tư những người trí thức hoạt động chính trị chung quanh tướng Minh đã quan hệ với Mặt trận Giải phóng hoặc là cán bộ Cách mạng rồi. Đó là những người như thẩm phán Triệu Quốc Mạnh, bộ trưởng Nguyễn Văn Diệp, chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh, dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, giáo sư Lý Chánh Trung,… Tướng Dương Văn Minh dẫu sao cũng đại diện cho một phần nhân dân miền Nam và là vị tướng lãnh có uy tín cuối cùng không bỏ chạy khỏi miền Nam Việt Nam vào lúc đó.

 Bản thân Lý Quí Chung không trực tiếp quan hệ với cách mạng, nhưng anh có những bạn bè gần gũi như các nhà báo Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt, sau này là Tổng biên tập báo Công An TP.HCM), Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn), Trương Lộc… mà anh biết là người của Mặt trận Giải phóng.

Tuy vậy, sự việc cụ thể diển biến không mấy bình thường như Lý Quí Chung suy nghĩ và viết ra trong hồi ký của mình. Đã thật sự xuất hiện không ít âm mưu kéo dài tình trạng nhập nhằng với sức ép đàng sau của cả bạn lẫn thù của phe cách mạng. Không ít người trong nhóm Dương Văn Minh đã tìm nhiều cách, vận động nhiều hướng, nhiều phía để tìm kiếm sự ủng hộ nước ngoài. Cho đến giờ chót, họ vẫn ấp ủ hy vọng chính quyền Dương Văn Minh tồn tại lâu dài và được công nhận như một chính phủ hoặc một thành phần quan trọng trong “Chính phủ Liên hiệp” mà họ tự nghĩ ra !    

 

Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng  

 

Sáng tinh mơ ngày 30/4, từ cơ sở chuẩn bị nổi dậy của sinh viên ở Đại học Vạn Hạnh (gần chợ Trương Minh Giảng), tôi  bàn với Nguyễn Trực người thân cận với Thượng tọa Trí Quang rồi chạy vội lên chùa Ấn Quang (đường Sư Vạn Hạnh) gặp vị sư lãnh đạo Phật giáo có ảnh hưởng lớn trên nhóm Dương Văn Minh này. Lâu nay tôi vẫn giữ mối quan hệ tốt đẹp với ông, tuy ông biết rõ tôi đến từ phía nào rồi. Tôi báo ngay: “Tình hình cấp bách quá rồi, xin Thầy làm sao tác động gấp nhóm ông Minh chủ động tìm cách chấm dứt ngay cuộc chiến để tránh đổ máu và tàn phá Sài Gòn. Các đường giây liên lạc với bên kia nay đã đứt hết rồi, không còn thì giờ đưa giải pháp này nọ nữa đâu…”

 

Thượng tọa Trí Quang hiểu ngay và choàng áo sang phòng bên gọi điện thoại. Tôi nghe vị Thượng tọa nói chuyện qua lại một hồi, rồi quay về cho biết:

 

-Thái cứ yên tâm, Thầy không gặp được ông Minh (Tổng thống mới nhậm chức), nhưng đã nói chuyện với ông Mẫu (Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng nội các mới), có lẽ họ cũng nhanh chóng hành động theo hướng đó… 

 

Tôi quay về Đại học Vạn Hạnh và khoảng hơn 9 giờ (giờ Sài Gòn thời đó, trễ hơn nay một giờ), thì nghe tướng Dương Văn Minh tuyên bố trên đài phát thanh Sài Gòn:  “Đường lối chủ trương của chúng tôi là hòa giải và hòa hợp dân tộc để cứu sinh mạng đồng bào. Tôi tin tưởng sâu xa vào sự hòa giải của người ViệtNam để khỏi thiệt hại xương máu của người Việt Nam. Vì lẽ đó, tôi yêu cầu tất cả anh em chiến sĩ Việt Nam Cộng hòa hãy bình tĩnh, không nổ súng và ở đâu ở đó. Chúng tôi cũng yêu cầu anh em chiến sĩ Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam ngưng nổ súng. Chúng tôi ở đây chờ gặp Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền Nam Việt Nam để cùng nhau thảo luận lễ bàn giao chính quyền trong một trật tự, tránh đổ máu vô ích của đồng bào”. 

 

Sinh viên chúng tôi bèn chia làm 2 mũi lên đường hướng về các đài phát thanh và truyền hình nhắm chiếm đài, phát đi tiếng nói Cách mạng. Số đông anh em có trang bị vũ khí nhẹ do sinh viên cao học Hà Thúc Huy dẫn đầu lên xe ca đến đại học Nông lâm súc, áp sát chuẩn bị xâm nhập vào các đài. Tôi cùng nhà báo Nguyễn Vạn Hồng và giáo sư Huỳnh Văn Tòng (tiến sĩ sử học tiến bộ ở Pháp về, giảng dạy báo chí ở các đại học) vào dinh Độc Lập nhắm thuyết phục những người quen biết trong chính quyền tướng Minh bàn giao chính quyền VNCH cho phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng một cách êm thắm nhất.  

 

Khoảng 10 giờ, chúng tôi lên chiếc xe Renault 8 màu xanh của Hồng. Nhà báo có giấy phép đặc biệt vào ra Phủ Tổng thống nên chắc không có gì trở ngại. Nhưng khi xe chạy vào cửa hông đường Nguyễn Du, thấy vắng tanh nên tiến thẳng luôn vào thềm dinh. Tôi vội vàng đi tìm Lý Quí Chung, lúc đó là Tổng trưởng Thông tin duy nhất được chỉ định chính thức trong Nội các mới. Chung đồng ý ra đài phát thanh ngay với chúng tôi trên một công xa, nhưng không một tài xế nào chịu lái đi vì sợ bị bắn.  

 

Chúng tôi đang loay hoay thì bỗng mọi người cùng hướng nhìn về đại lộ Thống Nhất (Lê Duẩn ngày nay). Một cảnh tượng hùng tráng diễn ra: một đoàn xe tăng rầm rộ tiến về hướng dinh. Bổng chốc cổng dinh bị húc đổ, đoàn tăng cày lên thảm cỏ, tiến thẳng đến thềm dinh. Tôi và anh Huỳnh Văn Tòng giúp người bộ đội xe tăng cầm cờ Giải phóng cắm lên nóc Dinh.  

 

Phải ra ngay đài phát thanh, tôi tháp tùng xe của Chính ủy Bùi Văn Tùng cùng các nhà báo Tây Đức Von Boric Gallasch và Hà Huy Đĩnh đưa Tổng thống Dương Văn Minh, Thủ tướng Vũ Văn Mẫu và Tổng trưởng Thông tin Lý Quý Chung ra đài phát thanh.

 

Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh về vấn đề đầu hàng

 

Anh em sinh viên đã cùng bộ đội chiếm giữ đài rồi nhưng không vận hành được cũng như không biết phát đi nội dung gì. Chúng tôi tìm được anh Trần Văn Bảng kỹ thuật viên phát thanh vận hành lại đài, còn nhà báo Đức thì cho mượn chiếc cát xết thu lời đầu hàng của tướng Minh và lời chấp nhận đầu hàng của chính ủy Bùi văn Tùng, do chính ông Tùng soạn thảo. 

 

Tướng Minh nhìn thấy tôi trong đám người này có vẻ cũng yên lòng. Trông ông mệt mõi và không mấy vui. Thân hình ông vẫn to lớn nhưng mặt ông hơi hốc hác. Dẫu sao ông cũng đã hy sinh danh dự của một tướng lãnh (dù là một tướng bại trận) để thực sự cứu thành phố này khỏi cảnh tàn phá và đổ nát. Sau này tôi mới biết là ông và bộ tham mưu từ mấy ngày qua đã quyết định đầu hàng dẫu có bị đối xử không tương xứng của phía đối nghịch. Đó cũng là một hành động can đảm và đáng ca ngợi của một Phật tử vào cuối đời. Có lẽ ông chưa bao giờ thành công trong hoạt động chính trị. Ông chỉ là nhân vật cần thiết của tình thế nhưng không nắm được quyền lâu dài. Vào năm 1963, không ai ngoài ông trong số tướng lãnh đủ uy tín đứng ra lãnh đạo cuộc đảo chính lật đổ Tổng thống Ngô Đình Diệm. Lần này, có lẽ chính quyền VNCH cũng không còn con bài nào khác để chấm dứt cuộc chiến một cách êm thắm. Ít ra ông còn giữ được nguyên vẹn Sài Gòn và phần còn lại của miền Nam tránh khỏi đổ nát và đổ máu thêm một cách vô ích trong cuộc thư hùng cuối cùng giữa những người anh em ruột thịt.  

 

Tôi nhìn sang Giáo sư Vũ Văn Mẫu, ông có vẻ bình thản trong bộ complê màu xanh nhạt luôn chỉnh tề của một nhà giáo đại học. Khi còn học ở khoa Luật, tôi rất thích lối giảng các bài pháp chế sử, mạch lạc, hùng biện và cả hóm hỉnh của ông. Tuy xuất thân trong gia đình quan lại miền Bắc và di cư vào Nam năm 1954, khi nổ ra vụ tranh đấu Phật giáo năm 1963, đang giữ chức vụ Bộ trưởng Ngoại giao VNCH ông can đảm từ nhiệm và cạo trọc đầu phản kháng Ngô Đình Diệm đàn áp Phật giáo. Nay ra lãnh chức vụ Thủ tướng tôi nghĩ ông không có ước mong gì khác hơn là đem lại hòa bình, hòa hợp hòa giải thật sự cho dân tộc.  

 

Về nội dung bản tuyên bố đầu hàng, tôi nhìn thấy giữa tướng Minh và chính ủy Tùng có lời qua tiếng lại. Hình như tướng Minh không muốn nêu chữ “Tổng thống” mà dùng tiếng “Đại tướng” quen thuộc hơn. Ông Tùng cương quyết không chịu vì cho rằng dẫu sao thì tướng Minh cũng đã làm Tổng thống cuối cùng của chính quyền Sài Gòn, nay phải tuyên bố với tư cách đó mới ra lệnh được cho cả bên dân sự lẫn quân sự. Thu băng thử đi thử lại mấy lần mới xong. Lời phát biểu của Thủ tướng Mẫu thì ông được nói trực tiếp.   

 

Loay hoay đến gần hai giờ chiều (giờ Sài Gòn lúc đó, trễ hơn hiện nay một giờ) chúng tôi mới phát đi được tiếng nói cách mạng đầu tiên trên đài phát thanh Sài Gòn. Nguyên văn tiếng nói mở đầu của tôi:

 

“Chúng tôi là những người đại diện cho Ủy ban nhân dân cách mạng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định. Chúng tôi là những người đầu tiên tới dinh Độc Lập trước 12 giờ và đã cùng anh em quân đội giải phóng cắm cờ trên dinh Độc Lập. Chúng tôi là giáo sư Huỳnh Văn Tòng và cựu chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài Gòn Nguyễn Hữu Thái… Đời sống bình thường đã trở lại Sài Gòn – Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố mà Bác Hồ đã mong đợi, nay đã được giải phóng… Xin giới thiệu lời kêu gọi của ông Dương Văn Minh và Vũ Văn Mẫu của chính quyền Sài Gòn về vấn đề đầu hàng ở thành phố này…”

Đại tướng Dương Văn Minh đọc lời đầu hàng theo bản văn do Chính ủy Bùi Văn Tùng soạn thảo:

 “Tôi, Đại tướng Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn, kêu gọi Quân lực Việt Nam Cộng hòa hạ vũ khí đầu hàng không điều kiện quân Giải phóng Miền Nam Việt Nam. Tôi tuyên bố chính quyền Sài Gòn từ trung ương đến địa phương phải giải tán hoàn toàn. Từ trung ương đến địa phương trao lại cho Chính phủ Cách mạng Lâm thời Miền Nam Việt Nam 

 Giáo sư Vũ Văn Mẫu phát biểu trực tiếp:

 “Trong tinh thần hòa giải và hòa hợp dân tộc, tôi, Giáo sư Vũ Văn Mẫu, Thủ tướng, kêu gọi tất cả các tầng lớp đồng bào hãy vui vẻ chào mừng ngày hòa bình của dân tộc, và trở lại sinh hoạt bình thường. Chuyên viên của các cơ quan hành chính quay trở về vị trí cũ dưới sự hướng dẫn của chính quyền cách mạng”. 

 

Tiếp đó là lời Chính ủy Bùi Văn Tùng:

 

“Chúng tôi đại diện lực lượng quân Giải phóng miền Nam Việt Nam long trọng tuyên bố Thành phố Sài Gòn đã được giải phóng hoàn toàn, chấp nhận sự đầu hàng không điều kiện của ông Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn” 

 Và tôi tiếp tục dẫn chương trình: “…Quân Giải phóng đã tiến vào dinh Độc Lập và đã làm chủ hoàn toàn các điểm chốt quân sự cũng như dân sự của vùng Sài Gòn-Chợ Lớn-Gia Định…”

 (Các lời tuyên bố trên đài phát thanh đều còn giữ lại được trong một băng ghi âm do Tiến sĩ sử học Nguyễn Nhã thu trong chiều 30/4/75) 

 Sau đó, bộ đội đưa đoàn tướng Minh về lại Dinh Độc Lập. Tôi đích thân đứng ra điều hành buổi phát thanh cho đến 4 giờ chiều thì giao lại cho anh Hà Thúc Huy, do tôi phải lên trường Petrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong) nơi đóng quân của ban chỉ huy chiến dịch giải phóng Sài Gòn gặp ông Mai Chí Thọ. Sinh viên chỉ giao lại đài phát thanh cho ban phát thanh Giải phóng vào tối hôm đó.

 Tôi đã góp phần tránh một cuộc đổ máu vô ích cuối cùng cho Sài Gòn   

 Những người thân cận tướng Dương Văn Minh ở Dinh Độc Lập nhớ lại mấy sự kiện này. Vào sáng sớm có một đơn vị thiết giáp đến vây quanh dinh, viên chỉ huy đề nghị tướng Minh tử thủ. Ông từ chối và thuyết phục họ rút đi. Ông cũng làm như vậy với nhóm biệt kích Lôi Hổ đằng đằng sát khí. Cuối cùng, một số sĩ quan cao cấp hải quân đến mời tướng Minh xuống tàu chạy đi, ông cũng từ chối. Lát sau viên tướng Pháp đội lốt ký giả Vanuxem hối hả vào xin gặp tướng Minh và nói với họ: “Hãy rút về Cần Thơ, cố thủ Vùng 4 chiến thuật, chỉ vài ngày nữa thôi thì Trung Quốc sẽ áp đặt giải pháp trung lập hóa Miền Nam”. Tướng Minh than: “Hết Tây đến Mỹ, chẳng lẽ bây giờ còn đi làm tay sai cho Tàu nữa sao !” 

Việc Tổng thống VNCH Dương Văn Minh đầu hàng ở cái “nút” ấy, một người trong cương vị ông Minh có thể có nhiều quyết định. Nếu quyết định khác đi, sẽ là máu đổ, sẽ là nồi da xáo thịt, cốt nhục tương tàn. Sài Gòn sẽ tan tành… Lúc đó có nhiều người nói ông Dương Văn Minh yêu nước thương dân nhưng cũng có người hoài nghi cho rằng ông Minh đã ngầm theo Cách mạng ? Sau những Phạm Ngọc Thảo, Vũ Ngọc Nhạ, Phạm Xuân Ẩn cùng nhiều nhà tình báo vĩ đại khác, suy nghĩ trên không phải không có cơ sở.

 Tướng Dương Văn Minh nguyên là một sinh viên miền Nam ra học trường thuốc ở Hà Nội cùng thời với kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, một trong các lãnh đạo Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Khác chính kiến với người em trai tham gia phong trào Việt Minh, ông đã trở thành sĩ quan trong quân đội Pháp và nghĩ rằng Việt Nam có thể độc lập trong khối Liên hiệp Pháp. Phải chăng do sai lầm đó mà nay tại Dinh Độc Lập ông đã quyết tâm quên mình chấp nhận sự đầu hàng vô điều kiện để cứu người thôi đổ máu theo tinh thần của một Phật tử.  

 Trong buổi lễ, Chủ tịch Ủy ban Quân quản tướng Trần Văn Trà đã phát biểu: “Trong cuộc chiến đấu lâu dài này không có ai là kẻ thắng ai là kẻ bại. Toàn quân và toàn dân Việt Nam là người chiến thắng, chỉ có đế quốc Mỹ xâm lược là kẻ chiến bại. Nhân dân Việt Nam là dân tộc duy nhất trong lịch sử nhân loại đã đánh bại quân Mông Cổ. Vào năm 1954, chúng ta đã đánh bại Pháp ở Điện Biên Phủ, và nay chúng ta đã đánh bại Hoa Kỳ, nước tự hào cho mình là hùng mạnh nhất thế giới. Đây là niềm hãnh diện chung của tất cả nhân dân Việt Nam chúng ta”.

 Tướng Dương Văn Minh đã trả lời thật chân tình: “Ngày hôm nay, đại diện cho các anh em có mặt tại đây, tôi nhiệt liệt hoan nghênh sự thành công của Chính phủ cách mạng trong công cuộc vãn hồi hòa bình cho đất nước. Với kỷ nguyên mới này, tôi mong rằng tất cả anh em có mặt tại đây, cũng như các tầng lớp đồng bào, sẽ có dịp đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng đất nước… Tôi nghĩ rằng với hành động của mình, tôi đã góp phần tránh một cuộc đổ máu vô ích cuối cùng cho Sài Gòn. Đó là phần đóng góp cụ thể của tôi trong cuộc chiến đấu này. Riêng cá nhân tôi, hôm nay tôi rất hân hoan khi được 60 tuổi, trở thành một công dân của một nước Việt Nam độc lập”. (Theo băng ghi âm buổi trả tự do cho nhóm Dương Văn Minh tối ngày 2/5/1975 tại Dinh Độc Lập) 

 Ba mươi ba năm đã trôi qua sau sự kiện lịch sử giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước, tôi ghi lại những gì chính bản thân mình đã tai nghe mắt thấy về nhân vật Dương Văn Minh, mong cung cấp một số tư liệu sống về diễn biến các hoạt động của một vị tướng VNCH nổi tiếng và gây nhiều tranh luận nhất liên quan đến ngày 30/4/1975.  

 Nguyễn Hữu Thái

Chủ tịch Tổng hội sinh viên Sài gòn 1963-1964

Trích Tạp chí Xưa & Nay tháng 3/2008

——————————————-

 Xem thêm tác phẩm :10 ngày cuối cùng của VNCH

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s